CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN XỬ LÝ NITƠ TRONG NƯỚC THẢI SINH HOẠT 1. Nguồn gốc, đặc tính của nước thải sinh hoạt và yêu cầu của nguồn tiếp nhận 1. Nguồn gốc và đặc tính của nước thải sinh hoạt Nước thải sinh hoạt được hình thành trong quá trình sinh hoạt của con người, được chia thành hai loại chính là nước đen và nước xám [1].
Nước thải đen là nước thải từ nhà vệ sinh (xí, tiểu), còn nước rửa, giặt, tắm là nước xám. Phần lớn các chất ô nhiễm của nước thải đều chứa trong nước đen, bao gồm khoảng 58% chất hữu cơ, 42% chất vô cơ và rất nhiều các vi sinh vật gây bệnh. Theo TCVN 7957:2008 “Thoát nước- Mạng lưới bên ngoài và công trình-Tiêu chuẩn thiết kế”, mỗi người trung bình thải vào HTTN khoảng 60-65 g/ngày cặn lơ lửng, 30-35 g/ngày chất hữu cơ (tính theo BOD), 8 g NH4+… Nước thải sinh hoạt phát sinh từ các hộ gia đình được tiến hành đấu nối vào hệ thống thoát nước của đô thị (hệ thống thoát nước chung hoặc hệ thống thoát nước riêng). Trừ các đô thị có hệ thống thoát nước riêng, các đô thị còn lại đều cần sử dụng bể tự hoại là công trình xử lý sơ bộ trước khi đấu nối nước thải sinh hoạt của các hộ gia đình với hệ thống thoát nước chung.
Tại bể tự hoại diễn ra quá trình lắng cặn và lên men, phân huỷ sinh học kỵ khí cặn lắng. Hiệu suất lắng cặn trung bình đạt 50 - 70% theo cặn lơ lửng (TSS) và 25 - 45% theo chất hữu cơ (BOD và COD) [93]. Ở Việt Nam, ước tính có đến 90% hộ gia đình ở các đô thị sử dụng bể tự hoại, phổ biến là loại hai hoặc ba ngăn không có ngăn lọc hiếu khí ở cuối bể. Hầu hết các bể tự hoại không được vận hành đúng quy định (kéo dài thời gian hút cặn định kỳ) nên trong dòng nước thải ra khỏi bể tự hoại, nồng độ chất lơ lửng và chất hữu cơ vẫn còn khá cao.
Quá trình phân huỷ yếm khí trong bể tự hoại làm giảm đáng kể lượng chất hữu cơ dạng cacbon nhưng lại không có tác dụng đối với các hợp chất nitơ, thậm chí hàm lượng hợp chất nitơ trong nước thải sau bể tự hoại cao hơn trong nước thải sinh hoạt chưa qua phân huỷ yếm khí [3]. Chất lượng nước thải sau bể tự hoại của một số đô thị được trình bày trong bảng 1.dinh an an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com mo (LUAN. Chất lượng nước thải sinh hoạt sau bể tự hoại ở một số đô thị [1] Chỉ tiêu Vĩnh Yên Thái Nguyên Hải Dương Hà Nội Nhiệt độ, 0C 28,1-29,6 26,0-28,3 29,5-30,8 21,1-29,5 pH 7,3-7,9 6,9-8,1 7,0-7,6 6,2-8,5 DO, mg/L 0-2,7 0-2,01 0,5-0,9 - SS, mg/L 84-207 21-193 8,9-38,8 86-812 NH4+, mg/L 21,4-106,4 4,2-116,8 10,8-70,8 20-43 NO3-, mg/L 2,0-3,2 1,2-3,75 1,2-2,7 0-2,9 BOD5, mg/L 84,9-152 57,4-154 51,6-118 102-330 COD, mg/L 118-180 83-189 76-151 - Coliform, 42x104- 48x104- 47x104- 73x104- MPN/100ml 63x104 68x104 71x104 13x106 1. Các dạng tồn tại của các hợp chất chứa nitơ trong nước thải sinh hoạt Nitơ là một nguyên tố dồi dào nhất trong bầu khí quyển của trái đất và là nguyên tố thiết yếu cho sự sống, có mặt trong cấu trúc tế bào của protein và các axit nucleic [137].
Hầu hết các sinh vật và các bã thải trong quá trình sống của chúng đều có chứa hàm lượng nitơ nhất định. Do vậy, trong môi trường nước luôn tồn tại các thành phần chứa nitơ, từ các protein có cấu trúc phức tạp đến các axit amin đơn giản. Nguồn gốc chính của nitơ trong nước thải sinh hoạt là nước tiểu và phân, trong đó nước tiểu chiếm khoảng 91% lượng nitơ. Người ta ước tính rằng một người sản xuất 11,2 g tổng nitơ mỗi ngày, trong đó khoảng 78% được tạo ra từ nhà vệ sinh, 17% từ bồn tắm, bồn rửa, thiết bị, và 5% từ bồn rửa trong nhà bếp.
Các dạng tồn tại của nitơ trong môi trường nước phụ thuộc vào quá trình chuyển hoá nitơ bởi các vi sinh vật (chu trình nitơ) và được thể hiện trong hình 1.dinh an an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com mo (LUAN.dinh 10 QT cố định nitơ phân tử Hợp chất nitơ (protein, urê) Tự phân Thuỷ phân và Amôn hoá oxi hoá do vi khuẩn Đồng hoá Nitơ trong thành Tế bào vi NH4+, NH3 phần tế bào vi khuẩn khuẩn chết Nitrosomonas NH44++ + NO22-- (Anammox) (Anammox) NO2- Planctomycetes Nitrobacter Khử nitrat NO3- NO2- NO N2 O Nitơ phân tử Cacbon hữu cơ Hình 1. Chu trình chuyển hoá các hợp chất nitơ bởi các vi sinh vật [14] (có bổ sung thêm quá trình Anammox) 1. Nitơ hữu cơ Các hợp chất nitơ hữu cơ bao gồm các axit amin, các đường chứa amin, các protein (polyme của các amino-axit) và urê. Chúng có thể tồn tại ở trạng thái tan hoặc không tan trong nước.
Protein là một trong những thành phần quan trọng của xác động vật, thực vật, vi sinh vật và thường chứa khoảng 15 - 17,6% nitơ (tính theo chất khô). Dưới tác dụng của men proteaza, các protein được phân giải thành các hợp chất đơn giản hơn (polypeptit, olygopeptit). Các chất này tiếp tục được phân giải thành axit amin nhờ tác dụng của men peptidaza ngoại bào. Các chất này cũng có thể trực tiếp hấp thụ vào tế bào vi sinh vật, sau đó tiếp tục chuyển hóa thành axit amin.
Các axit amin này sẽ được sử dụng một phần vào quá trình sinh tổng hợp protein của vi sinh vật, một phần được tiếp tục phân giải để tạo thành NH3, CO2 và nhiều sản phẩm trung gian khác. Ure ((NH2)2CO), một hợp chất có nhiều trong nước tiểu (trong nước tiểu người (LUAN.dinh an an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com mo (LUAN.dinh 11 bình thường có 9,3 g/L ure) dễ dàng chuyển hóa thành amoni cacbonat, (NH4)2CO3, có đóng góp lớn cho thành phần nitơ trong nước thải sinh hoạt chưa xử lý. Dưới tác dụng của men ureaza do các loài vi sinh vật tiết ra, quá trình chuyển hóa ure thành NH3. Amoniac/Amoni Amoniac trong nước tồn tại dưới hai dạng: NH3 và NH4+ tuỳ thuộc vào pH của môi trường vì nó là một bazơ yếu.
Trong vùng pH thấp nó tồn tại ở dạng ion và vùng pH cao nó tồn tại dưới dạng phân tử trung hoà. Bên cạnh đó, tỷ lệ NH3/NH4+ còn phụ thuộc vào nhiệt độ, mùa đông nồng độ amoniac trong nước thường cao hơn so với mùa hè vì quá trình oxi hoá nó thành nitrat chậm ở nhiệt độ thấp [6]. Quá trình oxi hóa amoni phụ thuộc trực tiếp vào mật độ của chủng vi sinh Nitrifier và nồng độ oxi tan trong nước. Mức độ sinh trưởng và phát triển của chủng loại vi sinh Nitrifier (oxi hóa amoni) thấp nên mật độ phân tán của chúng trong nước cũng thấp, hiệu quả oxi hóa amoniac không cao [3].
Nitrit Nitrit là sản phẩm trung gian của quá trình oxi hoá amoni trong điều kiện hiếu khí nhờ các vi khuẩn Nitrosomonas. Sau đó nitrit hình thành tiếp tục nhờ vi khuẩn Nitrobacter oxi hoá thành nitrat [6]. Nitrit là chất không bền, nó cũng có thể là sản phẩm của quá trình khử nitrat trong điều kiện yếm khí. Ngoài ra, nitrit còn có nguồn gốc từ nước thải công nghiệp điện hoá.
Trong trạng thái cân bằng ở môi trường nước, nồng độ nitrit thường rất thấp. Trong nước mặt, nitrit thường nhỏ hơn 0,02 mg/L. Nếu nồng độ amoni, giá trị pH và nhiệt độ của nước cao, quá trình nitrit hoá diễn ra thuận lợi và nồng độ của nó có thể đạt đến giá trị lớn [6]. Nitrat Nitrat là dạng hợp chất vô cơ của nitơ có hoá trị cao nhất (N+5).
Nó khá bền vững trong môi trường nước và có nguồn gốc chính từ quá trình oxi hoá sinh hoá các hợp chất nitơ hoặc quá trình chảy tràn từ cánh đồng nông nghiệp vào sông hồ mang theo lượng lớn phân bón mà cây trồng chưa kịp hấp thụ.dinh an an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com mo (LUAN.dinh 12 Mối liên hệ giữa các hợp chất nitơ trong nước thải sinh hoạt Trong nước thải sinh hoạt, nitơ tồn tại dưới dạng nitơ vô cơ (amoniac/ amoni, nitrit và nitrat) và nitơ hữu cơ (axit amin, protein, ure. Tổng nitơ trong nước thải (TN) bao gồm nitơ hữu cơ và nitơ vô cơ và được xác định theo công thức: TN = N hữu cơ + NH4+ + NO2- + NO3- (1- 1) TN = TKN + NO2- + NO3- (1- 2) Dưới tác dụng của vi khuẩn, các hợp chất chứa nitơ, đặc biệt là protein và urê bị thủy phân rất nhanh tạo thành amoni/amoniac [7]. Vì nước thải khu dân cư có giá trị pH thường gần trung tính, hầu như tất cả amoniac (NH3) trong nước thải tồn tại dưới dạng amoni (NH4+). Tổng nitơ vô cơ trong nước thải (TIN) bao gồm nitơ dưới dạng amoni, nitrit, nitrat và được xác định theo công thức: TIN = NH4+ + NO2- + NO3- (1- 3) Trong nước thải sinh hoạt, thành phần amoni chiếm tỉ lệ lớn (khoảng 60 – 80% hàm lượng TN) còn nitrat và nitrit có hàm lượng rất thấp do nồng độ oxi hòa tan và mật độ vi sinh tự dưỡng thấp.
Nếu coi như nitơ hữu cơ trong nước thải sinh hoạt bị thuỷ phân và chuyển hoá hoàn toàn thành amoni thì tổng nitơ (TN) sẽ bằng tổng nitơ vô cơ (TIN). Tác động của Nitơ đối với sức khỏe cộng đồng và môi trường Trong nước bề mặt tự nhiên vùng không ô nhiễm có hàm lượng vết amoni (dưới 0,05ppm). Hàm lượng amoni trong nước thải từ khu dân cư có thể lên đến 10- 100 mg/l [14]. Một số loại nước thải khác như nước thải giết mổ, nước rác… nồng độ amoni còn có thể lên đến hàng trăm, hàng nghìn mg/L.
Sự có mặt của nitơ trong nước thải có thể gây ra nhiều ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái và sức khoẻ cộng đồng. Amoniac là độc tố đối với cá ngay ở nồng độ nhỏ. Ở nồng độ trong nước là 0,01 mg NH3/l, cá bị nhiễm độc qua đường máu. Khi ở nồng độ cao hơn (0,2-0,5 mg/L) amoniac gây độc cấp tính cho cá [6].
Nitrit là độc tố đối với cá, các dẫn xuất của nó như là các hợp chất của nitroso, nitrosamin … là các chất có tiềm năng gây ung thư. Nitrat về bản chất không phải là yếu tố độc hại nhưng do quá trình khử chuyển thành nitrit nên gây độc. Nitrat thường gây ra bệnh methemoglobin ở trẻ em. Khi hàm lượng (LUAN.dinh an an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com mo (LUAN.dinh 13 nitrat trong nước cao, ở những điều kiện đặc biệt, chúng sẽ bị khử thành nitrit.