Lời mở đầu Như chúng ta đã biết, quá trình xử lý nước thải là một quá trình phức tạp bao gồm các quá trình vật lý, chuyển hoá ho á học và chuyển hoá sinh học. Việc mô hình hoá c ác quá trình này cho phép chúng ta linh hoạt hơn trong tính toán thiết kế c ác quá trình xử lý nước thải, tối ưu hoá quá trình nhằm đạt hiệu quả cao, đơn giản ho á vấn đề xử lý nước thải trong c ông tác b ảo vệ môi trường. Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học hiện nay được xem là phương pháp phổ biến, được áp dụng rộng rãi để xử lý hầu hết c ác loại nước thải giàu hữu cơ như nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp nói chung, nước thải công nghiệp một s ố ngành đ iển hình như công nghiệp chế biến thực phẩm, nước thải bệnh viện, nước rác…Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học thông thường được chia thành hai quá trình: xử lý hiếu khí và xử lý yếm khí ; trong đó xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học hiếu khí là được sử d ụng rộng rãi hơn c ả do hiệu quả xử lý cao, triệt để và khô ng gây ô nhiễm thứ cấp. Tuy nhiên, cô ng nghệ xử lý hiếu khí lại có nhược đ iểm là chi phí đầu tư xây dựng, chi phí vận hành_đặc biệt là chi phí cho năng lượng cấp khí tương đối cao.
Do đó trong thực tế thiết kế c ác hệ thống xử lý hiện nay người ta cũng đã có nhiều nghiên c ứu ứng dụng cho thấy việc thực hiện các quá trình xử lý kết hợp các kỹ thuật xử lý yếm khí , hiếu khí cho phép chúng ta c ó thể giảm được đáng kể c ác chi phí này. Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi đã xây dựng mô hình quá trình xử lý nước thải sinh hoạt trên thiết bị tổ hợp Aeroten – Biofilter (BFA) nhằm tối ưu hoá quá trình ho à tan oxy trên cơ sở tính toán đồng b ộ Biofilter và Aeroten cao tải, nhằm giảm chi phí vận hành nhưng vẫn đảm b ảo hiệu quả xử lý cao. Trong quá trình thực hiện, chúng tôi khô ng tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được những góp ý c ủa c ác thầy cô và các chuyên gia để chúng tôi tiếp tục hoàn thiện mô hình này trong thời gian tới, nhằm cung cấp thêm một TRUNG TÂM ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC _ VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP 2 Vũ Phương Thuyên phương pháp mới trong lĩnh vực xử lý nước thải ở nước ta hiện nay, góp phần bảo vệ môi trường ngày c àng hiệu quả hơn.
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC _ VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP 3 Vũ Phương Thuyên Phần I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU I. Tổng quan về quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học hiếu khí I. Cơ sở lý thuyết Phương pháp sinh học hiếu khí là phương pháp s ử d ụng các vi sinh vật hiếu khí để phân huỷ c ác chất hữu c ơ có trong nước thải trong điều kiện được c ấp đủ oxy và ở điều kiện nhiệt độ, pH thích hợp. Bản chất của phương pháp này là quá trình oxy hoá sinh hoá hay quá trình lên men bằng vi sinh vật.
Các vi sinh vật sử dụng các chất hữu c ơ và một số chất khoáng có trong nước thải làm nguồn dinh dưỡng để sinh trưởng và phát triển. Sản phẩm tạo thành c ủa quá trình lên men là sinh khối vi sinh vật, các chất đơn giản như CO 2, H2O, NH3,…và năng lượng. Cơ chế c ủa quá trình gồm ba giai đoạn như sau: - Giai đ oạn vi sinh vật oxy ho á các chất hữu cơ trong nước thải để sinh trưởng: Men vi sinh vật CxHy Oz N + (x + y/4 + z/3 + 3/4) O 2 x CO2 + [(y-3)/2] H2O + NH3 + ΔH (1.1) - Giai đoạn tổng hợp xây dựng tế bào mới, vi sinh vật phát triển luỹ tiến về số lượng: Men vi sinh vật C xHyO z N + NH3 + O 2 x CO2 + C 5H7NO2 + ΔH (1.2) - Giai đoạn chuyển hoá các chất của tế bào (tự oxy hoá) khi không còn đủ cơ chất cho quá trình sinh trưởng và phát triển của tế bào: Men vi sinh vật C5H7NO 2 + 5 O2 x CO 2 + NH3 + H2O + ΔH (1.3) Men vi sinh vật Men vi sinh vật NO3 + O 2 HNO2 + O2 HNO3 (1.4) TRUNG TÂM ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC _ VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP 4 Vũ Phương Thuyên Như vậy quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học hiếu khí phụ thuộc vào nồng độ các chất hữu cơ có trong nước thải, nồng độ oxy cung cấp cho quá trình oxy hoá cũng như hoạt tính của vi sinh vật. Xác định nồng độ các chất hữu cơ trong nước thải Nước thải theo định nghĩa là nước được thải ra trong quá trình sinh hoạt, sản xuất của con người hoặc nước do chảy qua vùng đất ô nhiễm làm thay đổi thành phần, tính chất ban đầu của nước.
Tuỳ thuộc vào nguồn gốc phát sinh mà nước thải có c ác thành phần ô nhiễm khác nhau. Thô ng thường nước thải chứa rất nhiều các hợp chất, với số lượng và nồng độ c ũng rất khác nhau. Việc xác định từng thành phần ô nhiễm cũng như nồng độ c ủa chúng là rất phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian, cô ng s ức và tiền của. Do vậy, người ta thường dựa vào một s ố chỉ tiêu để xác định mức độ ô nhiễm.
Các chỉ tiêu để đánh giá định lượng nồng độ c ác chất hữu c ơ trong nước thải thường được xác định thông qua lượng oxy tiêu thụ cho quá trình oxy hoá các chất hữu cơ đó; nếu là quá trình oxy hoá ho á học, người ta xác định nhu cầu oxy hoá học (COD_Chemical Oxygen Demand); nếu là quá trình oxy hoá sinh học , người ta xác định nhu cầu oxy sinh hoá (BOD_ Biochemical Oxygen Demand). Ngoài ra, người ta cũng có thể xác định nồng độ nhiễm bẩn hữu c ơ thông qua tổng hàm lượng cacbon hữu cơ ( TOC_Total Organic Carbon). Một chỉ tiêu nữa c ũng thường được d ùng để đánh giá mức độ nhiễm bẩn hữu cơ là độ oxy hoà tan (DO_Dissolved Oxygen) do trong nước thải oxy được d ùng nhiều cho quá trình sinh hoá nên dẫn đến hiện tượng giảm lượng oxy hoà tan, đây cũng là c ơ sở để xác định nhu cầu oxy hoá sinh học BOD. Xác định hàm lượng oxy hoà tan DO Oxy hoà tan là thành phần không thể thiếu trong quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học hiếu khí , oxy duy trì quá trình trao đổi chất, sinh ra năng lượng cho sự sinh trưởng, sinh sản và tái sản xuất ở sinh vật.
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC _ VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP 5 Vũ Phương Thuyên Oxy là chất khí khó tan trong nước, độ hoà tan của nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như áp suất, nhiệt độ, đặc tính c ủa nước, chế độ thuỷ lực, các quá trình hô hấp, quang hợp của các loài thuỷ sinh…Nồng độ b ão hoà c ủa oxy trong nước ở nhiệt độ cho trước có thể tính theo định luật Henry. Trong nước thải, hàm lượng oxy hoà tan thường rất thấp do quá trình oxy hoá làm tiêu tốn một lượng oxy đáng kể. Để xác định nồng độ oxy hoà tan trong nước người ta thường dùng phương pháp iot (hay còn gọi là phương pháp Winkler). Phương pháp này dựa vào quá trình oxy hoá Mn2+ thành Mn4+ trong môi trường kiềm và Mn4+ lại có khả năng oxy hoá I- thành I2 tự do trong môi trường axit.
Lượng I2 tự do được giải phóng sẽ tương đương với oxy hoà tan trong nước.5) (trắng) - Nếu có oxy: Mn2+ + 2OH- + ½ O 2 MnO2↓ + H2O (1.7) Ngoài ra, cùng với sự phát triển của khoa học hiện đại người ta cũng có thể xác định được tương đối chính xác hàm lượng oxy hoà tan b ằng các máy đo DO khác nhau. Xác định nhu cầu oxy sinh hoá BOD Nhu cầu oxy sinh hoá là lượng oxy cần thiết mà vi sinh vật sử dụng để oxy hoá các chất hữu cơ, hay nói cách khác, BOD là thông số biểu thị cho nồng độ các chất hữu cơ có trong nước thải mà có thể bị phân huỷ sinh học. Khi quá trình oxy hoá xảy ra, các vi sinh vật s ử dụng oxy và c ác chất hữu c ơ có trong nước thải làm nguồn năng lượng và nguồn cacbon để sinh tổng hợp c ác sinh chất và tạo thành tế b ào mới. TRUNG TÂM ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC _ VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP 6 Vũ Phương Thuyên Trong thực tế, để xác định được lượng oxy tiêu tố n cho quá trình oxy hoá hoàn toàn các chất hữu cơ c ần một khoảng thời gian khá dài, khoảng từ 10 – 20 ngày thậm chí là lâu hơn, do đó người ta thường chỉ xác định lượng oxy cần thiết trong 5 ngày đầu, ở nhiệt độ ủ 20oC, thông qua xác định lượng tổng lượng oxy hoà tan trong mẫu pha loãng ở ngày đầu và ngày thứ 5: DO1 -DO2 BOD5 = mg/l (1.8) P trong đó: - DO1 : nồng độ oxy hoà tan của mẫu nước thải pha loãng trước khi ủ (mg/l) - DO2 : nồng độ oxy hoà tan của mẫu nước thải pha loãng sau khi ủ 5 ngày ở 20°C (mg/l) - P : tỷ s ố pha loãng Phương trình động học c ủa quá trình oxy hoá sinh học được mô tả như sau: dL t = - K*L t (1.9) dt trong đó: - Lt : hàm lượng BOD tại thời điểm t - K : hằng s ố tốc độ phản ứng Lấy tích phân phương trình (1.9) với điều kiện đầu t = 0, Lt = L0 ta được: Lt = L0* e-Kt (1.10) Từ phương trình này dễ d àng nhận ra rằng nhu cầu oxy sinh hoá luô n tỷ lệ với hằng s ố tốc độ phản ứng K, hay lượng chất hữu cơ có khả năng tham gia phản ứng sinh hoá thì tỷ lệ với tốc độ phản ứng.
Khi tốc độ phản ứng tăng thì hằng số tốc độ phản ứng K tăng.