Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ sinh học của tác giả Lê Phương Chung với đề tài "Nghiên cứu vi sinh vật học của quá trình feammox và bước đầu ứng dụng để xử lý nước thải nhiễm amoni" được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đinh Thúy Hằng và PGS. Phạm Thế Hải. Luận án thuộc chuyên ngành Vi sinh vật học (mã số: 9420101.07), bảo vệ năm 2022.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong môi trường nước, sự tích lũy của các hợp chất nitơ vô cơ, đặc biệt là amoni ($\text{NH}_4^+$) và amoniac hòa tan ($\text{NH}_3$), là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hóa, làm suy giảm nghiêm trọng nồng độ oxy hòa tan và gây độc đối với hệ thủy sinh. Các công nghệ xử lý sinh học truyền thống như nitrate hóa - khử nitrate (quy trình AAO/A2O) tiêu tốn lượng lớn năng lượng cho việc sục khí oxy ở giai đoạn hiếu khí (cần 4,33 mg $\text{O}_2$ để oxy hóa 1 mg $\text{NH}_4^+$) và đòi hỏi bổ sung nguồn carbon hữu cơ ngoại sinh (như methanol với tỷ lệ $[\text{CH}_3\text{OH}]/[\text{NO}_3^-] \approx 1,9 - 2,5$) cho giai đoạn thiếu khí. Công nghệ cải tiến nitrite hóa bán phần kết hợp anammox (như quy trình SHARON-Anammox) giúp giảm 60% năng lượng cấp khí và 40% nhu cầu carbon, nhưng gặp trở ngại do thời gian nhân đôi của vi khuẩn anammox kéo dài (7 - 11 ngày), thời gian khởi động bùn kéo dài (100 - 250 ngày) và yêu cầu kiểm soát tỷ lệ $[\text{NH}_4^+]/[\text{NO}_2^-] \approx 1:1,32$ rất nghiêm ngặt.

Quá trình feammox (oxy hóa amoni kỵ khí kết hợp khử sắt $\text{Fe}^{3+}$) là con đường chuyển hóa nitơ mới được phát hiện. Tuy nhiên, các công trình trước đây (Sawayama, 2006; Huang và Jaffé, 2015) chỉ khảo sát feammox ở điều kiện tự dưỡng vô cơ và pH thấp, tạo sản phẩm oxy hóa trung gian là $\text{NO}_2^-$, dẫn đến hiệu suất xử lý thấp và vẫn đòi hỏi các công đoạn xử lý phụ trợ tiếp theo. Khoảng trống nghiên cứu mà luận án hướng tới giải quyết là:

  • Nghiên cứu cơ chế vi sinh vật học của quá trình feammox trong điều kiện dị dưỡng và pH trung tính.
  • Làm rõ khả năng chuyển hóa trực tiếp $\text{NH}_4^+$ thành $\text{N}_2$ trong một công đoạn kỵ khí duy nhất.
  • Đánh giá khả năng xử lý đồng thời $\text{NH}_4^+$ và COD từ nước thải có hàm lượng ô nhiễm cao.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Làm giàu vi sinh vật feammox trong mô hình phòng thí nghiệm và nghiên cứu cấu trúc quần xã của hệ vi sinh vật đã thiết lập sử dụng các phương pháp PCR-DGGE, FISH và gen 16S rRNA làm chỉ thị phân tử.
  2. Nghiên cứu mối liên quan giữa các yếu tố COD, $\text{NH}_4^+$, thế oxy hóa khử tới quá trình oxy hóa $\text{NH}_4^+$ trong mô hình, làm cơ sở để phát triển công nghệ xử lý $\text{NH}_4^+$ theo nguyên lý feammox.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ vi sinh vật kỵ khí thực hiện quá trình feammox, được thu thập từ nguồn bùn đỏ đáy của cụm bể kỵ khí thuộc trạm xử lý nước thải nhà máy chế biến thủy sản tại xã Tam Tân, huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh. Nguồn cung cấp $\text{Fe}^{3+}$ là ferrihydrite tổng hợp và bùn đỏ chứa goethite ($\text{FeOOH}$) và hematite ($\text{Fe}_2\text{O}_3$, chiếm 45%).
  • Phạm vi nghiên cứu: Thực nghiệm quy mô phòng thí nghiệm (mô hình 18 lít, lưu lượng 3 lít/ngày đêm) tại Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học - Đại học Quốc gia Hà Nội, thực hiện trên môi trường nước thải nhân tạo mô phỏng nước thải giàu amoni và carbon hữu cơ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về chu trình nitơ và các công nghệ sinh học xử lý nitơ trên thế giới:

                                  CHU TRÌNH CHUYỂN HÓA NITƠ
Cố định & Khoáng hóa         Nitrate hóa             Khử nitrate           Anammox & Feammox
(Azotobacter, Rhizobium;    (AOB: Nitrosomonas;     (NRB: Pseudomonas,    (Planctomycetes;
 Protease, Deaminase)        NOB: Nitrobacter)       Paracoccus)           Acidimicrobiaceae A6)
  1. Chu trình chuyển hóa nitơ sinh học:
    • Cố định nitơ: do enzyme nitrogenase thực hiện ở vi khuẩn tự do (Azotobacter, Cyanobacteria) hoặc cộng sinh (Rhizobium) (Marks et al.; Gutschick, 1982).
    • Khoáng hóa nitơ hữu cơ (ammonification) thành $\text{NH}_4^+$ nhờ enzyme protease, peptidase, nuclease.
    • Nitrate hóa: quá trình tự dưỡng hai bước gồm oxy hóa $\text{NH}_4^+$ thành $\text{NO}_2^-$ bởi AOB (Nitrosomonas, Nitrosospira) và oxy hóa $\text{NO}_2^-$ thành $\text{NO}_3^-$ bởi NOB (Nitrobacter, Nitrospira) (Wolfe và Lieu, 2002; Moir, 2011).
    • Khử nitrate: chuỗi khử $\text{NO}_3^- \rightarrow \text{NO}_2^- \rightarrow \text{NO} \rightarrow \text{N}_2\text{O} \rightarrow \text{N}_2$ do vi khuẩn dị dưỡng kỵ khí xúc tác qua các enzyme NaR, NiR, NOR, $\text{N}_2\text{OR}$ (Takaya et al., 2003; Madigan et al., 2008).
    • Anammox: quá trình tự dưỡng vô cơ oxy hóa $\text{NH}_4^+$ bằng $\text{NO}_2^-$ thành $\text{N}_2$ trong bào quan anammoxosome của các chi Brocadia, Kuenenia, Scalindua, Jettenia, Anammoxoglobus (Strous et al., 1999a; Jetten et al., 2001; Kartal et al., 2007).
  2. Nghiên cứu về quá trình Feammox:
    • Clement và cộng sự (2005) lần đầu phát hiện phản ứng oxy hóa $\text{NH}_4^+$ kết hợp khử $\text{Fe}^{3+}$ trong đất ngập nước ven sông.
    • Sawayama (2006) thiết lập mô hình feammox tự dưỡng ở pH trung tính sử dụng Fe(III)-EDTA, tạo $\text{NO}_2^-$ với hiệu suất chuyển hóa 20% trong 50 ngày, ghi nhận sự xuất hiện của các chi Exiguobacterium, Pseudomonas, Carnobacterium.
    • Huang và Jaffé (2015, 2018) phân lập chủng vi khuẩn feammox thuần khiết Acidimicrobiaceae sp. A6 từ đất ngập nước ở điều kiện tự dưỡng, pH 4,0 - 5,5 với ferrihydrite, tạo sản phẩm $\text{NO}_2^-$. Chủng này có độ tương đồng trình tự 16S rDNA dưới 92% so với Ferrimicrobium acidiphilum và Acidimicrobium ferrooxidans.
    • Zhou và cộng sự (2016), Yang và cộng sự (2012, 2019), Wang và cộng sự (2021) xác định sự tham gia của các chủng khử sắt (Geobacter, Anaeromyxobacter, Desulfosporosinus, Pelobacteraceae) và vai trò của chất trung gian truyền điện tử như 9,10-anthraquinone-2,6-disulfonate (AQDS) hoặc điện cực.

Vị trí của luận án: Khác với các công bố của Sawayama (2006) hay Huang và Jaffé (2015), luận án tiếp cận quá trình feammox trong điều kiện môi trường có mặt carbon hữu cơ (dị dưỡng) và pH trung tính (7,0 - 7,2). Nghiên cứu giải quyết bài toán chuyển hóa hoàn toàn $\text{NH}_4^+$ thành khí $\text{N}_2$ mà không tích lũy $\text{NO}_2^-$, đồng thời xử lý đồng thời hợp chất hữu cơ (COD) trong nước thải.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở nhiệt động học và các phương trình phản ứng

Quá trình feammox có thể tạo ra các sản phẩm oxy hóa khác nhau tùy thuộc vào điều kiện pH và trạng thái oxy hóa khử của môi trường:

$$\begin{aligned} 3\text{Fe(OH)}_3 + 5\text{H}^+ + \text{NH}_4^+ &\rightarrow 3\text{Fe}^{2+} + 9\text{H}_2\text{O} + 0,5\text{N}_2 \quad &(\Delta G^{0\prime} = -245\text{ kJ/mol}) \quad (1.8) \ 6\text{Fe(OH)}_3 + 10\text{H}^+ + \text{NH}_4^+ &\rightarrow 6\text{Fe}^{2+} + 16\text{H}_2\text{O} + \text{NO}_2^- \quad &(\Delta G^{0\prime} = -164\text{ kJ/mol}) \quad (1.9) \ 6\text{Fe(OH)}_3 + 8\text{H}^+ + \text{NH}_4^+ &\rightarrow 6\text{Fe}^{2+} + 15\text{H}_2\text{O} + \text{NO}_3^- \quad &(\Delta G^{0\prime} = -207\text{ kJ/mol}) \quad (1.10) \end{aligned}$$

Trong điều kiện dị dưỡng có acetate làm nguồn carbon, các phản ứng tiêu thụ chất hữu cơ ghép đôi khử nitrate và sắt:

$$\begin{aligned} \text{NO}_3^- + \frac{5}{8}\text{CH}_3\text{COO}^- + \frac{13}{8}\text{H}^+ &\rightarrow 0,5\text{N}_2 + \frac{5}{4}\text{CO}_2 + \frac{7}{4}\text{H}_2\text{O} \quad &(\Delta G^{0\prime} = -501\text{ kJ/mol}) \quad (3.1) \ \text{Fe}^{3+} + \frac{5}{8}\text{CH}_3\text{COO}^- + \frac{1}{2}\text{H}_2\text{O} &\rightarrow \text{Fe}^{2+} + \frac{1}{4}\text{HCO}_3^- + \frac{9}{8}\text{H}^+ \quad &(\Delta G^{0\prime} = -814\text{ kJ/mol}) \quad (3.2) \end{aligned}$$

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Nhóm phương pháp Kỹ thuật / Thiết bị cụ thể Mục đích và thông số phân tích
Mô hình thí nghiệm Hệ 3 bể mica nối tiếp ($20 \times 12 \times 40\text{ cm}$), tổng thể tích 18 L; giá thể vi sinh Kaite diện tích bề mặt $850\text{ m}^2/\text{m}^3$. Vận hành làm giàu tuần hoàn ($2\text{ mL/phút}$), thử nghiệm mẻ và vận hành liên tục ($3\text{ L/ngày}$).
Hóa lý & Điện hóa Máy quang phổ Beckman Coulter; điện cực $\text{Ag/AgCl}$ kết nối điện cực than chì. Đo COD (Kit Hach, $R^2 = 0,9625$), $\text{NH}_4^+$ (chuẩn DIN 38406-5, bước sóng $635\text{ nm}$), $\text{Fe}^{2+}$ (chuẩn DIN 38406 E1-1 O-phenanthroline, $510\text{ nm}$), $\text{NO}_3^-$ (NitraVer 5), $\text{NO}_2^-$ (NitriVer 2/3), thế oxy hóa khử (ORP, mV).
Phân tích khí Sắc ký khí Agilent 7890A; phương pháp đo thể tích cột nước. Định lượng tổng thể tích khí sinh ra và tỷ lệ phần trăm khí $\text{N}_2$.
Sinh học phân tử Máy Bio-Rad DCode DGGE; máy PCR Eppendorf; kính hiển vi huỳnh quang Zeiss. PCR-DGGE đoạn gen 16S rDNA; lai huỳnh quang tại chỗ (FISH) với đầu dò đặc hiệu Delta385 ($\delta$-Proteobacteria) và GAM42a ($\gamma$-Proteobacteria); nhuộm DAPI.
Vi sinh vật học Phương pháp ống thạch kỵ khí; phương pháp MPN; môi trường FC và FRB chứa ferrihydrite 30 mM. Phân lập chủng vi khuẩn feammox thuần khiết; kiểm tra khả năng khử $\text{Fe}^{3+}$, khử $\text{NO}_3^-$ và oxy hóa $\text{NH}_4^+$.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tài liệu

Chương này phân tích cơ sở lý thuyết về chu trình nitơ, hiện tượng ô nhiễm nitơ trong môi trường nước và các cơ chế loại bỏ nitơ bằng con đường sinh học. Tác giả trình bày các quy chuẩn giới hạn nitơ trong các loại nguồn nước:

Loại nguồn nước $\text{NH}_4^+$ (mg/L) $\text{NO}_2^-$ (mg/L) $\text{NO}_3^-$ (mg/L) Văn bản quy chuẩn
Nước sạch sinh hoạt 0,3 0,05 2 QCVN 01-1:2018/BYT
Nước mặt (Cột A) 0,3 0,05 2 QCVN 08-MT:2015/BTNMT
Nước mặt (Cột B) 0,9 0,05 10 QCVN 08-MT:2015/BTNMT
Nước ao nuôi tôm 0,3 ($\text{NH}_3$) — — QCVN 02-19:2014/BNNPTNT

Chương 1 đi sâu so sánh hai công nghệ chính: (1) Công nghệ nitrate hóa - khử nitrate (AAO/A2O) có nhược điểm chi phí năng lượng sục khí cao, vi khuẩn nitrate hóa sinh trưởng chậm ($\mu = 0,006 - 0,0035/\text{ngày}$, năng suất sinh khối $Y = 0,04 - 0,13$), nhạy cảm với độc chất; (2) Công nghệ nitrite hóa bán phần - anammox (SHARON-Anammox) giảm tiêu tốn oxy nhưng khó vận hành ổn định. Tác giả khẳng định tiềm năng của feammox - phản ứng sử dụng $\text{Fe}^{3+}$ làm chất nhận điện tử trong điều kiện kỵ khí hoàn toàn, mở ra hướng đi mới giúp khắc phục các hạn chế trên.

Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết nguồn bùn mẫu lấy từ trạm xử lý nước thải chế biến thủy sản tại Củ Chi (hệ thống gồm 3 bể kỵ khí $1,125\text{ m}^3$, lớp bùn đỏ chứa hematite và goethite với nồng độ $\text{Fe}^{3+}$ tổng số 2 mol/L). Tác giả trình bày quy trình chế tạo chất nhận điện tử ferrihydrite 30 mM từ $\text{FeCl}_3$ 0,25 M và NaOH 1 M ở pH 7,6.

Quy trình thí nghiệm gồm 5 bước tuần tự:

  1. Thiết kế, chế tạo mô hình kỵ khí mica 3 bể (dung tích làm việc 18 lít, 3 lít/ngày đêm).
  2. Làm giàu vi sinh vật feammox trong 30 ngày bằng nước thải nhân tạo FRB bổ sung $\text{NH}_4^+$ 200 mg/L, Na-acetate 10 mM, $\text{NaHCO}_3$ 30 mM, ascorbic acid 1 mM tạo môi trường kỵ khí dưới dòng khí argon.
  3. Phân tích cấu trúc hệ vi sinh vật bằng PCR-DGGE, lai huỳnh quang FISH và phân lập vi khuẩn trên môi trường FC.
  4. Thử nghiệm vận hành theo mẻ khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ $[\text{COD}]/[\text{NH}_4^+]$ ở 3 mức: 1,4 (Bể 1), 1,1 (Bể 2), và 0,7 (Bể 3).
  5. Vận hành mô hình liên tục ở lưu lượng 3 L/ngày (thời gian lưu thủy lực HRT qua 3 bể lần lượt là 2, 4 và 6 ngày) ở tỷ lệ $[\text{COD}]/[\text{NH}_4^+] = 1,4$.
       QUY TRÌNH THỰC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH FEAMMOX

Chương 3. Kết quả và thảo luận

  • Làm giàu hệ vi sinh vật feammox: Sau 30 ngày vận hành tuần hoàn, nồng độ $\text{NH}_4^+$ giảm liên tục đi kèm sự gia tăng tương ứng của ion $\text{Fe}^{2+}$ và sự hình thành khí $\text{N}_2$ trong các bể. Không phát hiện sự tích lũy đáng kể của $\text{NO}_2^-$ và $\text{NO}_3^-$.
  • Cấu trúc quần xã vi sinh vật:
    • Phân tích DGGE cho thấy sự thay đổi rõ rệt trong thành phần loài vi khuẩn trước và sau giai đoạn làm giàu.
    • Phân tích FISH với đầu dò GAM42a và Delta385 xác định vi khuẩn thuộc lớp $\gamma$-Proteobacteria chiếm ưu thế áp đảo trong bùn làm giàu so với nhóm $\delta$-Proteobacteria.
    • Phân lập thành công hai chủng vi khuẩn thuần khiết ký hiệu FN7 và FN9. Kết quả thử nghiệm sinh lý cho thấy cả hai chủng đều có hoạt tính khử $\text{Fe}^{3+}$, khử $\text{NO}_3^-$ và có khả năng oxy hóa $\text{NH}_4^+$.
  • Ảnh hưởng của tỷ lệ $[\text{COD}]/[\text{NH}_4^+]$ trong thí nghiệm mẻ:
    • Tại Bể 1 ($[\text{COD}]/[\text{NH}_4^+] = 1,4$: COD 291 mg/L, $\text{NH}_4^+$ 213 mg/L), quá trình chuyển hóa diễn ra triệt để nhất, $\text{NH}_4^+$ được oxy hóa thành $\text{N}_2$ với lượng khí sinh ra cao nhất và thế khử ORP duy trì ổn định.
    • Tại Bể 2 ($[\text{COD}]/[\text{NH}_4^+] = 1,1$) và Bể 3 ($[\text{COD}]/[\text{NH}_4^+] = 0,7$), tốc độ oxy hóa $\text{NH}_4^+$ giảm, cho thấy carbon hữu cơ đóng vai trò chất cho electron cần thiết để duy trì hoạt tính khử sắt và cân bằng thế oxy hóa khử kỵ khí.
  • Thử nghiệm vận hành liên tục: Vận hành mô hình với tỷ lệ tối ưu $[\text{COD}]/[\text{NH}_4^+] = 1,4$ ở lưu lượng 3 L/ngày:
Thông số vận hành Bể 1 (HRT = 2 ngày) Bể 2 (HRT = 4 ngày) Bể 3 (HRT = 6 ngày)
Hiệu suất loại bỏ $\text{NH}_4^+$ Giai đoạn chuyển hóa đầu Chuyển hóa tiếp diễn Đạt ~91%
Hiệu suất loại bỏ COD Tiêu thụ nhanh Ổn định Đạt 60%
Sản phẩm nitơ chính Khí $\text{N}_2$ Khí $\text{N}_2$ Khí $\text{N}_2$ (không tích lũy $\text{NO}_x$)

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận và khoa học

  1. Lần đầu tiên thiết lập và chứng minh thực nghiệm hệ vi sinh vật feammox hoạt động hiệu quả trong điều kiện dị dưỡng và pH trung tính (7,0 - 7,2), chuyển hóa hoàn toàn $\text{NH}_4^+$ thành khí $\text{N}_2$ trong một bước phản ứng duy nhất mà không trải qua bước tích lũy $\text{NO}_2^-$ hay $\text{NO}_3^-$.
  2. Xác định được cấu trúc quần xã vi sinh vật feammox trong điều kiện dị dưỡng - pH trung tính do lớp $\gamma$-Proteobacteria (chứa các vi khuẩn kỵ khí tùy tiện khử $\text{Fe}^{3+}$) chiếm ưu thế, khác biệt với các hệ feammox tự dưỡng pH thấp do Acidimicrobiaceae chi phối. Phân lập và định danh được 2 chủng vi khuẩn feammox tiềm năng FN7 và FN9.
  3. Xác định vai trò của carbon hữu cơ đối với động học quá trình feammox: carbon hữu cơ không gây ức chế mà đóng vai trò hỗ trợ ổn định điện thế oxy hóa khử; xác lập tỷ lệ tối ưu $[\text{COD}]/[\text{NH}_4^+] = 1,4$ cho quá trình feammox dị dưỡng.

Đóng góp mới về thực tiễn và giải pháp công nghệ

  • Đề xuất mô hình công nghệ kỵ khí feammox xử lý đồng thời $\text{NH}_4^+$ và COD với hiệu suất loại bỏ đạt ~91% đối với $\text{NH}_4^+$ và 60% đối với COD ở thời gian lưu thủy lực 6 ngày.
  • Mở ra giải pháp xử lý nước thải giàu amoni (như nước thải chế biến thủy sản, nước thải sau hầm ủ biogas) ở điều kiện kỵ khí hoàn toàn, không tiêu tốn năng lượng cấp khí oxy, không cần bổ sung hóa chất đệm kiềm hay nguồn carbon ngoại sinh đắt tiền, khắc phục các hạn chế của quy trình nitrate hóa - khử nitrate và SHARON-Anammox.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Nghiên cứu mới dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm (thể tích làm việc 18 lít, công suất 3 L/ngày đêm) và sử dụng nước thải nhân tạo mô phỏng.
  • Nguồn sắt sử dụng chủ yếu là ferrihydrite tổng hợp và bùn đỏ tự nhiên; cơ chế tái sinh $\text{Fe}^{2+}$ thành $\text{Fe}^{3+}$ liên tục trong hệ thống dài hạn chưa được đánh giá toàn diện.
  • Hai chủng phân lập FN7 và FN9 mới được khảo sát các đặc tính sinh lý cơ bản, chưa được giải trình tự toàn bộ hệ gen (whole-genome sequencing) để làm rõ cụm gen mã hóa enzyme trực tiếp xúc tác phản ứng oxy hóa amoni kỵ khí kết hợp khử sắt.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Thử nghiệm mở rộng quy mô pilot trên các nguồn nước thải công nghiệp và chăn nuôi thực tế có tải lượng ô nhiễm biến động.
  • Nghiên cứu tích hợp hệ thống điện cực hoặc chất mang điện tử (AQDS) nhằm thúc đẩy quá trình hoàn nguyên $\text{Fe}^{3+}$, giảm lượng bùn sắt tiêu hao.
  • Phân tích hệ gen và cơ chế enzyme học chi tiết của các chủng phân lập FN7 và FN9 trong chuỗi vận chuyển electron kỵ khí.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng và học thuật cao đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Vi sinh vật học, Sinh học môi trường, Công nghệ sinh học: Tham khảo phương pháp tiếp cận sinh thái vi sinh vật kỵ khí, kỹ thuật phân tích phân tử kết hợp vi sinh truyền thống (PCR-DGGE, FISH, MPN trong điều kiện kỵ khí nghiêm ngặt).
  • Kỹ sư công nghệ môi trường và nhà thiết kế trạm xử lý nước thải: Tham khảo thông số thiết kế mô hình kỵ khí 3 bậc, động học phản ứng feammox, kiểm soát tỷ lệ $[\text{COD}]/[\text{NH}_4^+]$ và thế oxy hóa khử (ORP) trong xử lý nước thải giàu amoni.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Quy trình làm giàu hệ vi sinh vật feammox từ bùn đỏ công nghiệp (Chương 2) và các tính toán cân bằng vật chất cùng số liệu vận hành liên tục (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Điểm khác biệt mấu chốt giữa nghiên cứu feammox của tác giả với các nghiên cứu của Sawayama (2006) và Huang & Jaffé (2015) là gì?

Các nghiên cứu trước đây thực hiện ở điều kiện tự dưỡng vô cơ (không có carbon hữu cơ), trong đó Huang & Jaffé thực hiện ở pH thấp (4,0 - 5,5) và sản phẩm tạo thành dừng lại ở $\text{NO}_2^-$ với hiệu suất xử lý thấp (9,8% trong 6 ngày). Nghiên cứu của luận án được thực hiện ở điều kiện dị dưỡng (có bổ sung acetate/COD) và pH trung tính (7,0 - 7,2), chuyển hóa trực tiếp $\text{NH}_4^+$ thành khí $\text{N}_2$ mà không tích lũy $\text{NO}_2^-$, đồng thời đạt hiệu suất loại bỏ $\text{NH}_4^+$ lên tới ~91%.

2. Nguồn vi sinh vật ban đầu và nguồn sắt cung cấp cho mô hình được lấy từ đâu?

Nguồn vi sinh vật ban đầu được thu thập từ lớp bùn đỏ đáy thuộc cụm 3 bể kỵ khí xử lý nước thải của nhà máy chế biến thủy sản tại xã Tam Tân, huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh. Thành phần sắt trong bùn đỏ ở dạng goethite ($\text{FeOOH}$) và hematite ($\text{Fe}_2\text{O}_3$, chiếm 45%) với nồng độ $\text{Fe}^{3+}$ tổng số trong hệ thống là 2 mol/L. Trong mô hình phòng thí nghiệm, nguồn sắt bổ sung là huyền phù ferrihydrite 30 mM được tổng hợp từ $\text{FeCl}_3$ 0,25 M và NaOH 1 M.

3. Tỷ lệ $[\text{COD}]/[\text{NH}_4^+]$ nào cho hiệu quả xử lý tối ưu và các thông số vận hành liên tục đạt được là bao nhiêu?

Tỷ lệ tối ưu được xác định qua thí nghiệm mẻ là $[\text{COD}]/[\text{NH}_4^+] = 1,4$ (COD 291 mg/L, $\text{NH}_4^+$ 213 mg/L). Khi vận hành liên tục ở tỷ lệ này với lưu lượng 3 L/ngày đêm, nhiệt độ 30 ± 2 °C, pH 7,0 - 7,2 và thời gian lưu thủy lực tổng cộng 6 ngày (mỗi bể 2 ngày), hiệu suất loại bỏ $\text{NH}_4^+$ đạt ~91% và hiệu suất loại bỏ COD đạt 60%.

4. Nhóm vi sinh vật nào chiếm ưu thế trong hệ feammox dị dưỡng pH trung tính của luận án?

Kết quả phân tích bằng kỹ thuật lai huỳnh quang tại chỗ (FISH) và PCR-DGGE cho thấy lớp $\gamma$-Proteobacteria chiếm ưu thế áp đảo trong quần xã bùn làm giàu. Lớp này bao gồm nhiều loài vi khuẩn kỵ khí tùy tiện có khả năng khử $\text{Fe}^{3+}$. Tác giả đã phân lập được 2 chủng vi khuẩn thuần khiết ký hiệu là FN7 và FN9 có hoạt tính khử sắt, khử nitrate và oxy hóa amoni.

5. Khí nitơ ($\text{N}_2$) sinh ra từ mô hình được xác định bằng phương pháp nào?

Tổng thể tích khí sinh ra từ các bể kỵ khí kín được xác định bằng phương pháp dời chỗ cột nước. Thành phần và hàm lượng phần trăm khí $\text{N}_2$ trong hỗn hợp khí thu được được định lượng bằng phương pháp sắc ký khí (GC) trên hệ thống Agilent 7890A.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Phương Chung đã nghiên cứu thành công quá trình feammox trong điều kiện dị dưỡng và pH trung tính quy mô phòng thí nghiệm, chuyển hóa hoàn toàn amoni thành khí nitơ mà không tích lũy nitrite. Cấu trúc quần xã vi sinh vật được xác định do lớp $\gamma$-Proteobacteria chiếm ưu thế, cùng với việc phân lập thành công hai chủng vi khuẩn khử sắt FN7 và FN9. Với tỷ lệ $[\text{COD}]/[\text{NH}_4^+] = 1,4$ và thời gian lưu 6 ngày, mô hình đạt hiệu suất xử lý ~91% $\text{NH}_4^+$ và 60% COD. Công trình cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực nghiệm quan trọng nhằm phát triển công nghệ xử lý nước thải giàu amoni tiết kiệm năng lượng, không phụ thuộc vào quá trình sục khí hiếu khí truyền thống.