Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành công nghiệp chế biến thủy hải sản giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của Việt Nam, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP và kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, hoạt động này làm phát sinh lượng nước thải lớn, ước tính trung bình để chế biến 1 tấn thủy sản thành phẩm cần tiêu tốn gần 10 m³ nước. Nước thải chế biến thủy sản chứa hàm lượng chất hữu cơ cao, các hợp chất nitơ, photpho, dầu mỡ, chất rắn lơ lửng, cùng dư lượng hóa chất khử trùng, tẩy rửa (nước Javel, cloramin, xà phòng, sút). Việc xả thải chưa qua xử lý làm đen bẩn, bốc mùi hôi thối các kênh rạch, làm suy giảm nghiêm trọng nồng độ oxy hòa tan và hủy hoại hệ sinh thái thủy vực xung quanh.
Nhiều công nghệ xử lý nước thải hiện nay đòi hỏi chi phí đầu tư lớn, tiêu hao nhiều năng lượng và hóa chất, chưa gắn kết với sự phát triển bền vững của hệ sinh thái tự nhiên. Trong bối cảnh đó, phương pháp xử lý nước thải bằng đất ngập nước nhân tạo (bãi lọc ngầm trồng cây) kết hợp với các công trình xử lý sinh học hiếu khí nổi lên như một giải pháp chi phí thấp, vận hành đơn giản, thân thiện với môi trường và có khả năng loại bỏ hiệu quả các chất ô nhiễm hữu cơ, chất dinh dưỡng cũng như vi sinh vật gây bệnh. Nhằm giải quyết bài toán nước thải tại Công ty Cổ phần Xuất khẩu Thủy sản Quảng Ninh 2 (AQUAPEXCO II) theo dự án hợp tác nghiên cứu giữa Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Barcelona (Tây Ban Nha), đề tài được thực hiện nhằm đánh giá thực tế hiệu quả vận hành của trạm xử lý liên hợp này.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Xác định thành phần và tính chất nước thải chế biến thủy sản của Công ty Cổ phần Xuất khẩu Thủy sản Quảng Ninh 2.
- Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải bằng phương pháp hiếu khí kết hợp bãi lọc ngầm trồng cây tại trạm xử lý của công ty.
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý nhằm nâng cao hiệu suất xử lý của toàn bộ hệ thống.
Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu:
- Khảo sát lưu lượng, đo đạc và xác định nồng độ các thông số ô nhiễm đầu vào và đầu ra qua từng công đoạn xử lý.
- So sánh kết quả nước thải sau xử lý của hệ thống với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp chế biến thủy sản (QCVN 11:2008/BTNMT, Cột B).
- Đánh giá, so sánh khả năng làm sạch giữa bãi lọc dòng chảy thẳng đứng và dòng chảy nằm ngang, cũng như giữa hai loài thực vật trồng thử nghiệm (cây cói và cây sậy).
- Đề xuất các giải pháp quản lý, duy tu và vận hành tối ưu trạm xử lý nước thải.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống xử lý nước thải tiền xử lý hiếu khí (bể sục khí Aerotank, bể lắng) kết hợp 4 bể bãi lọc ngầm trồng cây tại Công ty Cổ phần Xuất khẩu Thủy sản Quảng Ninh 2.
- Phạm vi không gian: Các phân xưởng sản xuất (tiếp nhận nguyên liệu, bảo quản, sơ chế, phân cỡ, mạ băng), các bể gom, bể hiếu khí, bể lắng, các bể bãi lọc ngầm và cửa xả thải cuối cùng của công ty.
- Phạm vi thời gian: Khóa luận thu thập số liệu thứ cấp giai đoạn 2012–2015 và tiến hành khảo sát, lấy mẫu thực nghiệm từ tháng 9/2015 đến tháng 12/2015 (các đợt quan trắc tập trung vào các ngày 05/09/2015, 12/09/2015, 26/09/2015 và 20/10/2015).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và căn cứ pháp lý
- Cơ sở khoa học của hệ thống bãi lọc ngầm trồng cây: Nước thải chế biến thủy sản chứa phần lớn các chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học (protein, cacbohydrat, lipit) và khoáng chất dinh dưỡng. Quá trình xử lý trong bãi lọc ngầm dựa trên sự phối hợp của ba yếu tố: chất mang lọc (đá, sỏi), quần thể vi sinh vật (hiếu khí, kỵ khí, tùy tiện) và hệ thực vật thủy sinh. Vi sinh vật bám dính trên bề mặt giá thể và rễ cây tạo màng sinh học (biofilm) để phân giải, khoáng hóa chất hữu cơ. Rễ thực vật thực hiện hấp thu trực tiếp N, P và các vi lượng làm dinh dưỡng tạo sinh khối, đồng thời vận chuyển oxy từ khí quyển xuống vùng rễ, tạo các vùng vi hiếu khí xen kẽ kỵ khí thúc đẩy đồng thời quá trình nitrat hóa và khử nitrat.
- Thực vật sử dụng: Cây cói thuộc họ Cói (Cyperaceae, bao gồm loài cói bông trắng Cyperus tojet jomis và cói bông nâu) có khả năng chịu mặn, thích ứng tốt với môi trường nước lợ ven biển; cây sậy (Phragmites communis, họ Hòa thảo Poaceae) có hệ rễ phát triển sâu, sinh khối lớn, thân rỗng hỗ trợ dẫn truyền oxy mạnh mẽ.
- Hệ thống văn bản pháp lý áp dụng:
- Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13;
- Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH;
- Các Nghị định: số 80/2006/NĐ-CP, số 21/2008/NĐ-CP, số 29/2011/NĐ-CP (về ĐTM và cam kết BVMT), số 59/2007/NĐ-CP (về quản lý chất thải rắn), số 12/2009/NĐ-CP, số 83/2009/NĐ-CP và số 67/2003/NĐ-CP (về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải);
- Quy chuẩn kỹ thuật: QCVN 11:2008/BTNMT (nước thải chế biến thủy sản), QCVN 40:2011/BTNMT, QCVN 08:2008/BTNMT, QCVN 09:2008/BTNMT, QCVN 10:2008/BTNMT;
- Tiêu chuẩn ngành và tiêu chuẩn quốc gia: TCN 51-84, TCN 51-2006, TCVN 6773:2000.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Tổng hợp các tài liệu báo cáo sản xuất của AQUAPEXCO II giai đoạn 2012–2015, báo cáo hiện trạng xả thải và các hồ sơ quan trắc môi trường định kỳ.
- Phương pháp khảo sát hiện trạng và đo đạc nguồn thải: Lắp đặt lưu lượng kế (dải đo 5–40 lít/phút) trên các đường ống cấp nước và xả thải tại từng công đoạn chế biến (tiếp nhận, bảo quản bằng đá xay, sơ chế, mạ băng ở $2^\circ\text{C}$). Thể tích dòng thải được tính theo công thức:
$$V_{\text{nguồn thải}} = \text{Định mức lưu lượng} \times \text{Số giờ làm việc}$$
- Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu: Tiến hành lấy mẫu tại 7 điểm quan trắc trên toàn hệ thống (nước thải đầu vào, sau bể hiếu khí/lắng, sau các bể bãi lọc dòng chảy đứng/ngang trồng cói và sậy, miệng xả cuối cùng).
- Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm:
- Chỉ tiêu TSS: Phân tích theo TCVN 6625:2000;
- Chỉ tiêu COD: Phân tích theo TCVN 6491:1999;
- Chỉ tiêu BOD₅: Phân tích theo TCVN 6001-1:2008;
- Chỉ tiêu $\text{PO}_4^{3-}$: Phân tích theo TCVN 6202:1996;
- Chỉ tiêu $\text{NO}_3^-$: Phân tích theo TCVN 6180:1996;
- Chỉ tiêu $\text{NH}_4^+$: Phân tích theo TCVN 6179:1996;
- Chỉ tiêu Tổng Nitơ (T-N): Phân tích theo TCVN 6638:2000;
- pH và Oxy hòa tan (DO): Đo trực tiếp ngoài hiện trường bằng máy đo chuyên dụng.
- Phương pháp đánh giá hiệu suất và so sánh: Tính toán hiệu suất xử lý dựa trên tải lượng ô nhiễm $T = Q \times N$ (với $Q$ là lưu lượng m³/ngày, $N$ là nồng độ mg/l):
$$H (%) = \frac{T_2 - T_1}{T_2} \times 100$$
So sánh đối chiếu nồng độ đầu ra với ngưỡng giới hạn Cột B của QCVN 11:2008/BTNMT.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Chương này nêu rõ tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ xung đột giữa sự phát triển nhanh của ngành chế biến thủy sản và ô nhiễm môi trường nước. Tác giả giới thiệu khái quát dự án xử lý nước thải thí điểm công suất 20 m³/ngày đêm do Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp cùng Đại học Barcelona triển khai tại Công ty Cổ phần Xuất khẩu Thủy sản Quảng Ninh 2. Phần này xác định 3 mục tiêu cụ thể, 2 yêu cầu kỹ thuật và phân tích ý nghĩa khoa học lẫn thực tiễn trong công tác kiểm soát ô nhiễm công nghiệp.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tác giả hệ thống hóa các cơ sở khoa học và pháp lý liên quan đến công nghệ xử lý nước thải bằng đất ngập nước kiến tạo; phân tích thực trạng ngành thủy sản Việt Nam (dẫn chứng số liệu xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2013 đạt 2,96 tỷ USD; các rào cản thuế chống trợ cấp 6,7% của DOC đối với tôm, sụt giảm thị trường cá tra tại EU). Chương này đi sâu vào định lượng tải lượng chất thải rắn (1 tấn tôm thành phẩm phát sinh 0,75 tấn phế thải; 1 tấn cá tra fillet phát sinh 1,8 tấn; nhuyễn thể hai mảnh vỏ phát sinh 8 tấn phế thải) và tính chất nước thải (BOD₅ vượt 10–30 lần, COD vượt 9–19 lần, T-N vượt tới 9 lần so với quy chuẩn). Tác giả tổng thuật kinh nghiệm quốc tế về bãi lọc ngầm (Na Uy, CH Séc, Philippines, Thái Lan, Đức) và các nghiên cứu ứng dụng tại Việt Nam (Viện Kỹ thuật Môi trường đô thị - ĐH Xây dựng, ĐHQGHN), cùng danh mục các thông số lý hóa chuẩn để đánh giá chất lượng nước.
Phần 3: Đối tượng, phạm vi, nội dung, phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết về đối tượng trạm xử lý tại AQUAPEXCO II, phạm vi thời gian nghiên cứu thực nghiệm trong quý IV/2015. Mô tả sơ đồ đo lưu lượng dòng thải tại các công đoạn chế biến; quy trình phân tích 8 thông số ô nhiễm chính theo hệ thống Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) và công thức tính toán hiệu suất xử lý dựa trên lưu lượng và nồng độ dòng thải.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này tập trung trình bày 4 nhóm nội dung lớn:
- Tổng quan doanh nghiệp: Lịch sử hình thành từ năm 1988, cổ phần hóa năm 2005, vùng nuôi tôm công nghiệp 80 ha, quy mô 500 lao động chuyên sản xuất mực ống và tôm Vannamei xuất khẩu sang Nhật Bản, Mỹ, EU.
- Thông số kỹ thuật hệ thống:
- Hệ thống tiền xử lý hiếu khí Aerotank: 1 bể gom 1,8 m³, 2 bể hiếu khí tổng thể tích 9,4 m³, 2 bể lắng tổng thể tích 2,6 m³ (tổng thể tích khối hiếu khí là 12 m³). Thời gian lưu thủy lực bể hiếu khí là 11,32 giờ (khi tính cho 24 giờ) hoặc 5,6 giờ (khi tính cho 12 giờ làm việc); bể lắng tương ứng là 3,13 giờ (24 giờ) hoặc 1,5 giờ (12 giờ).
- Hệ thống bãi lọc ngầm trồng cây: 4 bể, mỗi bể có thể tích hình học 40 m³ (tổng 160 m³), thể tích chứa nước thực tế trừ lớp vật liệu lọc đá sỏi là 10 m³/bể (tổng thể tích nước 40 m³). Gồm 2 bể dòng chảy ngang (1 trồng cói, 1 trồng sậy) và 2 bể dòng chảy đứng (1 trồng cói, 1 trồng sậy). Thời gian lưu thủy lực bãi lọc là 48 giờ (vận hành 24 giờ) hoặc 24 giờ (vận hành 12 giờ).
- Vận hành và sự cố: Nhà máy chỉ hoạt động 12 giờ/ngày (7h–19h), lưu lượng nước thải thực tế đạt 1,6 m³/h. Ban đêm hệ thống sục khí vận hành gián đoạn (30 phút chạy, 30 phút nghỉ). Ghi nhận các sự cố: tràn bùn hoạt tính do bật đồng thời 2 máy bơm, đáy bể lắng thiết kế phẳng khiến việc hút bùn hồi lưu không triệt để làm bùn lưu cữu phân hủy kỵ khí, hỏng 2 rơle điều khiển máy bơm do ẩm ướt, tắc đường ống dẫn và van phao.
- Hiệu quả xử lý thực nghiệm: Trình bày chi tiết các bảng số liệu phân tích đầu vào và hiệu suất xử lý của 2 bậc công nghệ qua 4 đợt quan trắc. Đề xuất 3 nhóm giải pháp về quản lý, duy tu kỹ thuật và nâng cấp chế độ sục khí liên tục 24/24.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đưa ra kết luận tổng hợp về tính chất nước thải công ty (ô nhiễm hữu cơ rất cao, BOD₅ và COD vượt chuẩn 18–20 lần, TSS vượt 4 lần), xác nhận chất lượng nước đầu ra sau hệ thống liên hợp đạt QCVN 11:2008/BTNMT cột B. Khẳng định bãi lọc dòng chảy đứng cho hiệu quả vượt trội hơn dòng chảy ngang; cây sậy xử lý chất hữu cơ tốt hơn trong khi cây cói xử lý chất dinh dưỡng N, P tốt hơn, chịu mặn cao và cho sinh khối có giá trị kinh tế. Đề nghị chuyển giao, nhân rộng mô hình cho các nhà máy chế biến thủy sản và thực phẩm có điều kiện quỹ đất.
Kết quả và đóng góp
Kết quả xử lý các thông số ô nhiễm chính
Nước thải thô đầu vào của AQUAPEXCO II có mức độ ô nhiễm cao: COD trung bình 1342 mg/l (mẫu ngày 5–6/9/2015 lên tới 1547 mg/l), BOD₅ trung bình 1180 mg/l (mẫu ban đầu 962 mg/l), TSS trung bình 1339,8 mg/l, T-N trung bình 113,43 mg/l, $\text{PO}_4^{3-}$ trung bình 29,62 mg/l, pH 6,2, TDS 2684 ppm và độ dẫn điện EC 2552 µS/cm.
Bảng tổng hợp hiệu suất xử lý trung bình của hệ thống qua các đợt quan trắc thực nghiệm:
| Thông số |
Nước thải đầu vào (mg/l) |
Sau tiền xử lý hiếu khí (mg/l) |
Hiệu suất hiếu khí (%) |
Sau bãi lọc ngầm (mg/l) |
Hiệu suất bãi lọc (%) |
Tổng hiệu suất toàn hệ thống (%) |
| COD |
1342,0 |
439,0 |
67,28 |
156,0 |
66,27 |
88,38 |
| BOD₅ |
1180,0 |
430,0 |
63,40 |
95,0 |
78,08 |
91,95 |
| TSS |
1339,8 |
816,5 |
38,90 |
126,5 |
85,50 |
90,56 |
| Tổng Nitơ (T-N) |
113,43 |
59,74 |
48,34 |
25,30 |
58,59 |
77,70 |
| Lân ($\text{PO}_4^{3-}$) |
29,62 |
23,46 |
20,88 |
11,02 |
52,97 |
62,80 |
| pH |
6,00 |
- |
- |
7,00 |
- |
Đạt trung tính |
| TDS (ppm) |
2684,0 |
- |
- |
2265,0 |
15,61 |
15,61 |
| EC (µS/cm) |
2552,0 |
- |
- |
2220,0 |
13,01 |
13,01 |
So sánh cấu hình công nghệ và loài thực vật
- Hình thức dòng chảy: Bãi lọc ngầm dòng chảy đứng đạt hiệu quả cao hơn bãi lọc dòng chảy nằm ngang. Nguyên nhân do nước thải được phân phối tưới đều từ trên bề mặt giúp rễ cây không bị khô trong giai đoạn đầu mới trồng và tăng cường tiếp xúc với oxy khí quyển.
- Loài thực vật:
- Cây sậy (Phragmites communis) phát triển chiều cao 5–7 m, hệ rễ đâm sâu tạo điều kiện cho vi sinh vật phân giải chất hữu cơ (COD, BOD₅) tốt hơn cây cói.
- Cây cói (Cyperus) có khả năng thích nghi nhanh, chịu mặn tốt, sinh trưởng chồi mới mạnh và xử lý các chất dinh dưỡng (N, P), khoáng chất tốt hơn cây sậy. Thân cói thu hoạch có thể tận dụng dệt chiếu, làm đồ thủ công mỹ nghệ hoặc sản xuất túi sinh thái thay thế túi polyetylen.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Giải pháp kết cấu và công nghệ: Thiết kế lại đáy của 2 bể lắng có độ dốc thu gom về vị trí đặt đầu bơm hồi lưu bùn (thay vì đáy phẳng hiện tại khiến bơm chỉ hút được nước trong sau 1 phút hoạt động); hủy bỏ đường ống tràn tự chế giữa bể hiếu khí và bể lắng để chống thất thoát sinh khối; thay thế rơle chống ẩm cho máy bơm.
- Giải pháp vận hành: Nâng cấp chế độ sục khí của máy thổi khí bể Aerotank hoạt động liên tục 24/24 thay vì ngắt quãng 30 phút chạy/30 phút nghỉ vào ban đêm; bố trí nhân sự chuyên trách theo dõi lưu lượng, điều tiết van phao tránh hiện tượng sốc tải hoặc tràn bể.
- Đóng góp khoa học và thực tiễn: Cung cấp chuỗi dữ liệu thực nghiệm kiểm chứng tính khả thi của mô hình xử lý sinh thái chi phí thấp cho nước thải chế biến thủy sản tại vùng ven biển miền Bắc; chứng minh khả năng thay thế hóa chất xử lý bằng thảm thực vật bản địa (cây cói).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Thời gian vận hành thử nghiệm bãi lọc khi lấy mẫu còn ngắn, thảm thực vật mới qua giai đoạn bén rễ, sinh khối rễ chưa bao phủ kín toàn bộ khoảng trống giữa các hạt vật liệu mang, màng sinh học chưa đạt độ dày tối ưu.
- Nhà máy hoạt động theo ca 12 giờ/ngày và hệ thống tiền xử lý hiếu khí từng có giai đoạn dừng hoạt động trước đó 10 tháng, dẫn đến mật độ bùn hoạt tính (SVI) ban đầu thấp và dao động tải lượng giữa ngày và đêm.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục quan trắc, đánh giá hiệu quả của hệ thống sau thời gian vận hành dài hạn khi hệ vi sinh vật và bộ rễ thực vật đã phát triển ổn định toàn diện.
- Thử nghiệm tính toán chi tiết động học hấp thu chất dinh dưỡng và đánh giá khối lượng sinh khối cói thu hoạch định kỳ để đánh giá đầy đủ lợi ích kinh tế tuần hoàn.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Khóa luận là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Công nghệ Sinh học và Quản lý Tài nguyên Nước.
- Nội dung có giá trị ứng dụng cao:
- Số liệu thiết kế kích thước, dung tích và thời gian lưu thủy lực của hệ module tiền xử lý hiếu khí kết hợp 4 bể bãi lọc ngầm (đứng và ngang).
- Quy trình và kết quả thực nghiệm kiểm chứng hiệu suất xử lý các chỉ tiêu photpho, nitơ, COD, BOD₅ của loài cói và sậy trong điều kiện nước thải nhiễm mặn/khoáng cao.
- Các phân tích thực tế về sự cố cơ khí và thủy lực (đáy bể lắng phẳng, nghẹt van phao, phân phối dòng chảy) giúp các kỹ sư thiết kế trạm xử lý nước thải sinh học rút kinh nghiệm khi triển khai thực tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Lưu lượng và nồng độ các chất ô nhiễm chính trong nước thải của AQUAPEXCO II trước khi xử lý là bao nhiêu?
Nước thải tại nguồn của công ty có lưu lượng phát sinh khoảng 20 m³/ngày đêm (vận hành tập trung trong 12 giờ làm việc). Nồng độ các chất ô nhiễm đầu vào trung bình gồm: COD đạt 1342 mg/l (mẫu ban đầu đạt 1547 mg/l), BOD₅ đạt 1180 mg/l, TSS đạt 1339,8 mg/l, Tổng Nitơ (T-N) đạt 113,43 mg/l, $\text{PO}_4^{3-}$ đạt 29,62 mg/l, TDS là 2684 ppm, EC đạt 2552 µS/cm và pH ở mức 6,2.
2. Quy mô và thông số thiết kế của hệ thống xử lý liên hợp gồm những hạng mục nào?
Hệ thống gồm hai khối công trình: Khối tiền xử lý hiếu khí có 1 bể gom (1,8 m³), 2 bể Aerotank (tổng 9,4 m³) và 2 bể lắng (tổng 2,6 m³). Khối bãi lọc ngầm trồng cây gồm 4 bể (mỗi bể 40 m³, tổng 160 m³, thể tích chứa nước thực tế 10 m³/bể do trừ thể tích đá sỏi), trong đó có 2 bể dòng chảy ngang (1 trồng cói, 1 trồng sậy) và 2 bể dòng chảy đứng (1 trồng cói, 1 trồng sậy).
3. Hiệu suất xử lý trung bình của từng giai đoạn đối với BOD₅ và COD đạt bao nhiêu phần trăm?
Đối với COD, hệ thống hiếu khí đạt hiệu suất 67,28% (giảm từ 1342 mg/l xuống 439 mg/l) và bãi lọc đạt 66,27% (giảm từ 439 mg/l xuống 156 mg/l), tổng hiệu suất đạt 88,38%. Đối với BOD₅, hệ thống hiếu khí đạt 63,40% (giảm từ 1180 mg/l xuống 430 mg/l) và bãi lọc đạt 78,08% (giảm từ 430 mg/l xuống 95 mg/l), tổng hiệu suất đạt 91,95%.
4. Khóa luận ghi nhận sự khác biệt nào giữa bãi lọc dòng chảy đứng với dòng chảy ngang và giữa cây cói với cây sậy?
Bãi lọc dòng chảy đứng đạt hiệu quả cao hơn dòng chảy ngang nhờ nước tưới từ trên bề mặt giúp rễ cây không bị khô và hấp thụ oxy tốt hơn. Cây sậy có ưu thế phân giải chất hữu cơ (COD, BOD₅) nhờ bộ rễ đâm sâu và thân dẫn khí lớn; trong khi cây cói xử lý các chất dinh dưỡng (N, P) tốt hơn, chịu mặn cao hơn và tạo ra sinh khối có giá trị kinh tế dùng làm đồ thủ công mỹ nghệ.
5. Những nguyên nhân chính nào làm giảm hiệu suất lắng và bùn hoạt tính tại hệ thống tiền xử lý hiếu khí?
Do đáy của 2 bể lắng được thiết kế phẳng nên bùn hoạt tính phân bố đều trên bề mặt đáy, bơm hồi lưu chỉ hút được bùn cục bộ xung quanh đầu hút trong 1 phút đầu rồi hút nước trong; nhà máy tự ý đục ống tràn gây thất thoát sinh khối; đồng thời hệ thống chỉ sục khí gián đoạn vào ban đêm (30 phút chạy/30 phút nghỉ) khiến vi sinh vật bị thiếu khí và bùn lắng bị phân hủy kỵ khí trôi sang bãi lọc.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Hải Anh đã khảo sát, đánh giá toàn diện tính chất nước thải chế biến thủy sản và hiệu quả vận hành của mô hình xử lý liên hợp hiếu khí kết hợp bãi lọc ngầm trồng cây tại Công ty Cổ phần Xuất khẩu Thủy sản Quảng Ninh 2. Kết quả phân tích thực nghiệm chứng minh hệ thống đạt tổng hiệu suất xử lý trên 91% đối với BOD₅, trên 88% đối với COD, trên 90% đối với TSS và đưa chất lượng nước thải đầu ra đạt Quy chuẩn QCVN 11:2008/BTNMT (Cột B). Nghiên cứu khẳng định tính khả thi, hiệu quả vượt trội của bãi lọc dòng chảy đứng và tiềm năng to lớn của cây cói trong việc xử lý nước thải công nghiệp giàu hữu cơ và độ mặn. Công trình cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực tiễn quan trọng phục vụ cho việc tối ưu hóa quản lý vận hành trạm xử lý và nhân rộng công nghệ sinh thái bền vững trong ngành công nghiệp chế biến thực phẩm.