CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LƯU VỰC SÔNG 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về môi trường Môi trường là khái niệm có nội hàm rất rộng, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Theo Khoản 1, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2014 định nghĩa môi trường: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.” Định nghĩa này có điểm khác biệt so với định nghĩa môi trường của Luật Bảo vệ môi trường 2005, coi con người là một thành tố của môi trường chứ không phải là trung tâm trong mối quan hệ giữa môi trường và con người Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi, sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước. Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần thiết cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú. Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người.
Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định. ở các cấp khác nhau như: Liên Hiệp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,. Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác. Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo.
1 Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội. Khái niệm về Hoạt động Bảo vệ môi trường Khoản 3, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trưởng năm 2014 định nghĩa về hoạt động bảo vệ môi trường như sau: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành”. Hoạt động bảo vệ môi trường là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển của các quốc gia và được thực hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau như: - Cấp độ cá nhân: cá nhân có trách nhiệm tuân thủ quy định pháp luật về môi trường và bảo vệ môi trường, tuân thủ các quy tắc cộng đồng về bảo vệ môi trường. Từng hành động riêng lẻ của cá nhân có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến môi trường.
Hiện nay, các quốc gia ngày càng chú trọng việc nâng cao hiểu biết của cộng đồng về bảo vệ môi trường, đưa hoạt động bảo vệ môi trường tới trường học và từng gia đình, từ đó nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường của toàn xã hội thay vì chỉ tập trung vào công tác quản lý của Nhà nước như trước đây. - Cấp độ cộng đồng: Cộng đồng dân cư, do có sự ràng buộc về lợi ích và chịu tác động chung của môi trường, có vai trò to lớn trong bảo vệ môi trường. Ở cấp độ cộng đồng, biện pháp giáo dục và hành động tập thể được chú trọng. - Cấp độ địa phương, vùng: Do đặc điểm của môi trường, đặc biệt là các yếu tố môi trường như nước, không khí, việc bảo vệ môi trường sẽ trở nên hiệu quả hơn nếu thực hiện ở phạm vi lớn có sự tham gia của nhiều cộng đồng.
Ở Việt Nam, việc bảo vệ môi trường ở cấp độ địa phương được thực hiện theo nguyên tắc địa giới hành chính, cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện bảo vệ môi trường là cơ quan hành chính nhà nước địa phương. 2 - Cấp độ quốc gia: Việc bảo vệ môi trường ở cấp độ quốc gia được thực hiện thông qua hoạt động quản lý thống nhất của Nhà nước. Nhà nước thông qua các công cụ và hình thức khác nhau để thực hiện việc bảo vệ môi trường. Cấp độ quốc gia về bảo vệ môi trường được xem xét kỹ trong toàn bộ giáo trình này.
Khái niệm về lưu vực sông - Lưu vực sông là vùng diện tích mà tại đó tất cả nước trên bề mặt, nước mưa, băng tuyết hội tự và nước chảy đồn về theo cùng một dòng. Bao đồm dòng chính và tất cả các phụ lục, chi lưu - Quản lý lưu vực sông là công tác nghiên cứu đặc tính của lưu vực nhằm mục đích phân loại mức độ bền vững và ảnh hưởng của các công trình, dự án đén chức năng của lưu vực tác động đến thảm thực vật và con người trong ranh giới lưu vực. Các thông số đánh giá bao gồm nguồn nước cấp, chất lượng nước, tháo nước qua kênh dẫn, nước mưa, luật pháp và công tác quy hoạch và sử dụng lưu vực. Một số khái niệm khác - Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và vi sinh vật.
- Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. - Quy hoạch bảo vệ môi trường là việc phân vùng môi trường để bảo tồn, phát triển và thiết lập hệ thống hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường gắn với hệ thống giải pháp bảo vệ môi trường trong sự liên quan chặt chẽ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nhằm bảo đảm phát triển bền vững. Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường lưu vực sông 1.Nguyên tắc bảo vệ môi trường Theo Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường 2014, thì nguyên tắc bảo vệ môi trường được cụ thể như sau: - Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. - Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với sự phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để đảm bảo quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành - Bảo vệ môi trường phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu chất thải - Bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu; bảo vệ môi trường bảo đảm không phương hại chủ quyền, an ninh quốc gia - Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên và ưu tiên phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường - Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, sự cố và suy thoái môi trường phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật 1. Nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường lưu vực sông Nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường lưu vực sông nói riêng đang dần dần được hoàn thiện thông qua các văn bản pháp luật ban hanh. Và được tập trung chủ yếu vào những nội dung sau: - Tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan quản lý nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường; kiểm tra, giám sát việc thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật. - Ban hành các cơ chế chính sách, pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
4 - Tuyên truyền, giáo dục kết hợp với biện pháp hành chính, kinh tế và biện pháp khác để xây dựng kỷ cương và văn hóa bảo vệ môi trường. - Ưu tiên thanh tra, kiểm tra và xử lý vấn đề môi trường bức xúc, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ô nhiễm môi trường nguồn nước; chú trọng bảo vệ môi trường khu dân cư; phát triển hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường. T - Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường; bố trí khoản chi riêng cho bảo vệ môi trường trong ngân sách với tỷ lệ tăng dần theo tăng trưởng chung; các nguồn kinh phí bảo vệ môi trường được quản lý thống nhất và ưu tiên sử dụng cho các lĩnh vực trọng điểm trong bảo vệ môi trường. - Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực về bảo vệ môi trường.
- Mở rộng, tăng cường hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường; thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường. Thực trạng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, phát triển kinh tế nhanh kết hợp với việc khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và việc nảy sinh các vấn đề xã hội trong những năm gần đây đã đặt ra những thách thức ngày càng gia tăng trong việc duy trì sự phát triển bền vững và lâu dài của đất nước cũng như những tác động tới môi trường. Mặc dù sự phát triển kinh tế và xã hội tại Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc nhưng đi kèm với những tiến bộ này là những khó khăn với những thay đổi nhanh chóng của môi trường.
Điều này đòi hỏi công tác QLNN về tài nguyên và môi trường ở Việt Nam phải có những tác động tích cực trước những yêu cầu mới. Trên thế giới các vấn đề môi trường toàn cầu, khu vực, quốc gia đang trở nên cấp bách.