CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN 1. Các khái niệm liên quan Hoạt động du lịch sinh thái ngày càng được chú trọng, quan tâm. Những năm nửa cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, du lịch sinh thái đã dần được định hình. Tuy chưa có một sự xác định cụ thể nào về loại hình du lịch sinh thái, nhưng nó thường được đề cập đến như: du lịch có trách nhiệm, bền vững, bảo tồn.
và thường được xếp vào nhóm du lịch thích mạo hiểm hoặc du lịch thiên nhiên. Phạm Trung Lương đã đưa ra cách nhìn của minh trong cuốn Du lich sinh thái: Những vấn đề về lý luận thực tiễn và phát triển ở Việt Nam rằng: “Mọi hoạt động có liên quan đến thiên nhiên như tắm biển, nghỉ núi. đều được hiểu là DLST”[16, tr5- 6]. Tác giả cũng đề cập những tên gọi khác khi nhắc đến DLST như: Du lịch thiên nhiên (Nature Toursim), Du lịch dựa vào thiên nhiên (Nature — Based Tourism), Du lịch môi trường (Enviromental Tourism), Du lịch đặc thù (Particular Tourism), Du lịch xanh (Green Tourism), Du lịch thám hiểm (Adventure Tourism), Du lịch bản xứ (Indigenous Tourism), Du lịch có trách nhiệm (Responsible Tourism), Du lịch nhạy cảm (Sensitized Tourism), Du lịch nhà tranh (Cottage Tourism) và Du lịch bền vững (Sustainable Tourism).
Du lich sinh thai Trén thé gidi Ta có thé tìm được những nghiên cứu về lĩnh vực DLST trên các diễn đàn nghiên cứu khoa học của các tác giả đi đầu trên thế giới như Ceballos — Lascurian, Buckley. Hay các nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về DLST của các tổ chức khoa học trên thế giới như: Cater, Chalker, Dowling, Western, Duff, Wight. Hiệp hội DLST, Quy bao vệ động vật hoang dã (WWF), Tổ chức bao tồn thiên nhiên thé giới (IUCN). đã có nhiều công trình nghiên cứu và công bố những quan điểm về DLST như: Hiệp hội đã xuất bản cuốn Du lịch sinh thái: Hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch và quan ly của tác giả Kreglind Lerg và Donald E.
Trong tác phẩm của minh, tác giả đã nói: “Du lịch sinh thái là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tan phá dé thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hoá đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành. Qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra và tạo ra lợi ích cho những người dân địa phương tham gia tích cực”[12]. Một khái niệm tương đối hoàn chỉnh đầu tiên được đưa ra năm 1987 do Hector Ceballos —Lascurain: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đôi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá tri văn hoá được khám pha”[16, tr§]. Hiệp hội du lịch sinh thái quốc tế (TIES) định nghĩa DLST như sau: “Du lịch có trách nhiệm đến các khu vực tự nhiên bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi của người dân địa phuong”’[23].
- Theo Viện nghiên cứu Phát triển Du lịch: “Du lịch sinh thái là một hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường, có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hoá, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng góp nỗ lực bảo tồn”[34, tr10]. Tại Việt Nam DLST là lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX, song đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trường. Do trình độ nhận thức khác nhau, nên cách hiểu về DLST cũng khác nhau và còn nhiều điểm chưa thống nhất. Dé có sự thống nhất về khái niệm, phục vụ cho công tác nghiên cứu và hoạt động thực tiễn phát triển DLST, Tổng cục Du lịch Việt Nam đã phối hợp với nhiều Tổ chức quốc tế như ESCAP, WWE, IUCN.
kết hợp với sự tham gia của các chuyên gia các nhà khoa học quốc tế và Việt Nam về DLST và các lĩnh vực liên quan, tổ chức các chuyên đề nghiên cứu về hoạt động DLST trong các cuộc hội nghị, hội thảo, như: “Hội nghị Quốc tế về du lịch bền vững ở Việt Nam” do Tổng cục du lịch Việt Nam kết hợp với Quỹ Hanns Seidel (CHLB Đức) được tô chức tại Huế vào tháng 5/1997; Hội thảo “DLST với phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam” diễn ra tại Hà Nội vào tháng 4/1998; Hội thảo “Xây dựng chiến lược Quốc gia về phát triển DLST tại Việt Nam” được tổ chức vào tháng 9/1999 tại Hà Nội do Tổng cục du lịch phối hợp với Tổ chức IUCN và ESCAP thực hiện. Trong Hội thảo quốc gia về “Xdy đựng chiến lược phát triển Du lịch sinh thái ở Việt Nam” từ ngày 07/09 dén 09/09/1999. Và đã đưa ra được một khái niệm về DLST tương đối khái quát: “Du lich sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có sự đóng góp cho nỗ lực bảo tôn và phát triên bên vững, với sự tham gia tích cực của cộng đông địa phương” Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới mẻ, đang là môi quan tâm của nhiêu người ở nhiêu lĩnh vực khác nhau. Có nhiêu cách đặt vẫn đề về du lịch sinh thái, tuy nhiên tôi xin đê cập đên một số khái niệm sau: Theo Luật Du lịch, Điều 4, Khoản 19: Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững.
Loại hình DLST là loại hình có quy mô không lớn nhưng có tác dụng hoà nhập môi trường tự nhiên với điểm du lịch, khu du lịch và nền văn hoá đó. Đây cũng là loại hình du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại của du khách cùng người dân địa phương, đồng thời, đây cũng chíng là loại hình du lịch hướng tới mục tiêu bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên để có điều kiện phát triển hoạt động du lịch trong tương lai. Tóm lại, những khái niệm trên là những cái nhìn tổng quan của thế giới về DLST. Đó là những gì mà bản thân con người luôn muốn hướng đến trong tương lai nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, phát triển các giá trị sẵn có của nó và duy trì, phát huy các giá trị văn hoá bản địa.
Du lịch sinh thái cộng đồng Du lịch sinh thái cộng đồng được các nhà nghiên cứu trên thế giới đặc biệt quan tâm, trong việc vừa phát triên “du lịch” lại vừa đi đôi với việc phát triển “cộng đông”. Như vậy, để hiểu về du lịch sinh thái cộng đồng, ta đi làm rõ thêm một khái niệm nữa, đó là “cộng đông”. Cộng đồng có thé nói là một tập hợp các thực thé trong một xã hội, bao gồm nhiều mối quan hệ cộng sinh liên quan rang buộc lẫn nhau giữa các thành phần trong xã hội. Đây là một xã hội có tổ chức kết cấu liên quan chặt chẽ đến nhau.
Cộng đồng dựa trên các nền văn hoá, văn minh của con người. Ở đó những lợi ích chung gắn kết các thé loại với nhau tạo thành một cố kết tập thể. Theo Chủ nghĩa Mác — Lênin: Cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự giống nhau về lợi ích, mục đích, các điều kiện tồn tại của các thành viên và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất. sự gần gũi về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất và sự tương đồng về điều kiện sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về mục tiêu và các phương tiện hoạt động.
Tác giả Schmirk lại đưa ra định nghĩa về cộng đồng: “Cộng đồng là một tập hợp những người chung địa bàn cư trú và có quyền sử dụng các tài nguyên tự nhiên ở địa phương” Xét về định nghĩa cộng đồng, chúng ta có thể thấy nó được dùng nhiều trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội và khoa học kỹ thuật. Khái niệm này được đề cập đến vào những năm 1940 tại các thuộc địa của Anh. Rõ ràng có thể thấy rằng, một cộng đồng có nhiều điểm chung của một nhóm người sống tại một khu vực địa lý, một vùng địa lý mà ở đó các nhóm người này có những mối quan hệ về huyết thống, tôn giáo, cơ sở sinh sống. hay nói cách khác, họ có một mối gắn kết với nhau.
Ở Việt Nam, khái niệm cộng đồng luôn gắn kết với khái niệm “làng xã”, tạo nên một chỉnh thể mô tả cụ thể nhất mối quan hệ gắn kết của xã hội Việt Nam. Tựu chung lại, chúng ta có thể hiểu về cộng đồng như sau: Cộng đồng là một nhóm xã hội của các cá thể sống chung trong cùng một môi trường, có liên quan, ảnh hưởng đến nhau, chịu sự tác động lẫn nhau về mặt tư tưởng, tôn giáo và các mối quan hệ chính trị xã hội. Ở đó có chung các môi quan tâm, kê hoạch, các nhu cau, các nguy cơ và các điều kiện khác có sự ảnh hưởng đến tính thống nhất của các thành viên trong nhóm xã hội đó. Song song với việc phát triển du lịch, việc bảo vệ môi trường sinh thái cần có những giải pháp quản lý bền vững.
Theo Hiệp hội du lịch sinh thái quốc tế (TIES), DLST được định nghĩa như sau: “Du lịch có trách nhiệm đến các khu vực tự nhiên bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi của người dân địa phương” và được hiểu trên cơ sở sự quan tâm tới thiên nhiên và trách nhiệm xã hội. Chính vi lí do đó, để đảm bảo sự phát triển lâu dai và bền vững, hoạt động DLST đã được tiếp cận trên một khía cạnh mới đó là sự phát triển Du lịch sinh thái cộng đồng (Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng). Tác giả Võ Quế đã giới thiệu những góc nhìn diễn giải một số nhà nghiên cứu trong cuốn “Du lịch cộng đồng - Lý thuyết và vận dụng”. Ví như tác giả Keith W.Sproule và Ary S.Suhand, Nicole Hausle: “Du lịch dựa vào cộng đồng là nói tới các tổ chức kinh doanh du lịch sinh thái do cộng đồng sở hữu và quản lý.
Hơn nữa, du lịch sinh thái bao hàm ý một cộng đồng đang chăm lo đến tài nguyên thiên nhiên của mình dé có thu nhập nhờ du lịch và đang sử dung thu nhập đó dé làm cho đời sống của cộng đồng mình được tốt lên.