CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƯƠNG MẠI HÓA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 1. Khái quát chung về quyền Sở hữu trí tuệ 1. Khái niệm về quyền Sở hữu trí tuệ Có thể nói rằng, quyền SHTT là một trong những cơ sở của nền kinh tế hiện đại.
Quyền SHTT đã được WTO mà tiền thân là GATT (Hiệp định chung về thuế quan và thương mại) đưa vào vòng đám phán Uruguay năm 1986 - 1994 với lý do là quyền SHTT không phải là một hoạt động tách rời hoạt động thương mại mà nó có mối quan hệ chặt chẽ tới thương mại và phát triển kinh tế. Hiện nay với sự hội nhập sâu rộng giữa các nền kinh tế trong một thế giới phẳng và sự bùng nổ của các hoạt động đầu tư quốc tế từ những thập niên 80 của thế kỷ trước, các hoạt động thương mại hóa quyền SHTT không chỉ diễn ra trên phạm vi thị trường của quốc gia mà diễn ra sôi động trên phạm vi toàn cầu. Khoản 1 Điều 4 của Luật SHTT định nghĩa: “Quyền SHTT là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền SHCN và quyền đối với giống cây trồng”. Từ định nghĩa trên của Luật SHTT chúng ta thấy rằng quyền SHTT chính là quyền sở hữu đối với các tài sản trí tuệ.
Như vậy khái niệm về quyền SHTT gắn liền với khái niệm tài sản trí tuệ. Quyền SHTT gồm 3 nhóm quyền: quyền tác giả và quyền liên quan, quyền SHCN và quyền đối với giống cây trồng. Tài sản trí tuệ là một dạng tài sản vô hình và theo nghĩa thông dụng thì tài sản trí tuệ được hiểu là tất cả các sản phẩm của hoạt động trí tuệ, do hoạt 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động trí tuệ của con người sáng tạo ra thông qua sự tư duy, sáng tạo. Tài sản trí tuệ có những đặc tính cơ bản: + Có khả năng lan truyền nhanh chóng và vô tận; + Có thể được nhiều chủ thể cùng chiếm hữu và sử dụng (khác biệt với tài sản hữu hình, tại một thời điểm chỉ duy nhất một chủ thể có thể chiếm hữu và sử dụng); + Dễ bị sao chép, bắt chước; + Có khả năng bị hao mòn vô hình [29; 5].
Tuy nhiên, không phải bất cứ một tài sản trí tuệ nào được sáng tạo ra bởi trí tuệ và hoạt động tư duy của con người cũng là đối tượng được bảo hộ theo quy định của pháp luật về SHTT. Vì vậy, trong phạm vi của luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các tài sản trí tuệ là đối tượng được bảo hộ quyền SHTT theo quy định của pháp luật về SHTT của Việt Nam. Đối với một tài sản hữu hình, quyền sở hữu đối với các loại tài sản này được pháp luật Việt Nam ghi nhận gồm 3 quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Đối với tài sản trí tuệ, quyền sở hữu đối với loại tài sản này lại có những nét rất đặc biệt.
+ Quyền chiếm hữu “Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản” (Điều 182 BLDS 2005). Đối với một tài sản hữu hình, tại một thời điểm thì chỉ có 1 chủ thể duy nhất chiếm hữu các tài sản hữu hình này. Song với đặc trưng của tài sản trí tuệ là một tài sản vô hình, nó không thể cầm nắm được và với khả năng lan truyền vô tận thì có thể cùng một lúc có nhiều người chiếm hữu nó, do vậy quyền chiếm hữu tài sản vô hình được thể hiện rất mờ nhạt và trong một số trường hợp nhất định là không có ý nghĩa. + Quyền sử dụng 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản” (Điều 192 BLDS 2005).
Đối với tài sản hữu hình thì việc sử dụng tài sản đó là do chủ sở hữu quyết định, với một chiếc bút chẳng hạn, chủ sở hữu chiếc bút này có thể sử dụng nó như viết, vẽ, dùng làm thước kẻ… là tùy thuộc vào ý chí của người này. Nhưng đối với tài sản trí tuệ như một bài hát thì khi đã được công bố thì có thể có nhiều người sử dụng nó một lúc. Nhưng cũng có những tài sản trí tuệ chẳng hạn như sáng chế hay nhãn hiệu khi đang còn hiệu lực bảo hộ thì việc sử dụng hoặc cho phép người khác sử dụng các loại tài sản này lại là độc quyền của chủ sở hữu. + Quyền định đoạt “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó” (Điều 195 BLDS).
Đối với các tài sản trí tuệ thì quyền định đoạt được thể hiện gần giống như quyền định đoạt tài sản hữu hình, bởi vì chỉ có pháp luật của một số quốc gia có quy định quyền từ bỏ quyền tác giả đối với tác phẩm, ví dụ Pháp, Đức Ý, Tây Ban Nha. Các đối tượng của quyền Sở hữu trí tuệ Quyền SHTT bao gồm 3 nhóm quyền: quyền tác giả và quyền liên quan, quyền SHCN và quyền đối với giống cây trồng. Do đó, đối tượng của quyền SHTT bao gồm các đối tượng của các quyền: quyền tác giả và quyền liên quan, quyền SHCN, quyền đối với giống cây trồng. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quyền tác giả: Tác phẩm: văn học, nghệ thuật, khoa học - Cuộc biểu diễn Quyền liên quan: - Bản ghi âm, ghi hình - Chương trình phát sóng SHTT - Tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa - Sáng chế - Kiểu dáng công nghiệp SHCN - Nhãn hiệu - Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn - Chỉ dẫn địa lý - Tên thương mại - Bí mật kinh doanh Quyền đối với giống cây trồng Vật liệu nhân giống Vật liệu thu hoạch Hình 1.
Các đối tượng của quyền SHTT Quyền tác giả và quyền liên quan + Quyền tác giả Khoản 2 Điều 4 Luật SHTT định nghĩa: “Quyền tác giả là quyền của các tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”. Đối tượng được bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. * Đặc điểm của quyền tác giả: (i) Chỉ bảo hộ hình thức thể hiện, không bảo hộ nội dung, giá trị của tác phẩm. Do đó, quyền tác giả phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm được định hình dưới hình thức vật chất nhất định.
(ii) Tác phẩm phải có tính nguyên gốc Một tác phẩm được định hình dưới một dạng hình thức vật chất nhất định thì mới chỉ là điều kiện cần để phát sinh quyền tác giả đối với tác phẩm. Điều kiện đủ để một tác phẩm được bảo hộ đó là tính nguyên gốc. Tức là tác 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phẩm đó phải do tác giả bằng trí tuệ của mình sáng tạo ra mà không sao chép từ một hay những tác phẩm khác. Quyền tác giả được phát sinh khi tác phẩm có tính nguyên gốc và được thể hiện dưới một dạng vật chất nhất định, không phụ thuộc vào nội dung, giá trị của tác phẩm.
Đây là nguyên tắc “bảo hộ tự động” của quyền tác giả. Chủ sở hữu tác phẩm không bắt buộc phải đăng ký quyền tác giả tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Tác phẩm dù có đăng ký hay không đăng ký quyền tác giả đều được hưởng sự bảo hộ như nhau từ phía Nhà nước. Tuy nhiên, việc đăng ký quyền tác giả lại cần thiết và rất có ý nghĩa trong việc chứng minh quyền tác giả khi có tranh chấp xảy ra.
Quyền tác giả bao gồm: Quyền nhân thân và quyền tài sản. Trong đó, quyền nhân thân gồm quyền nhân thân không gắn với quyền tài sản và quyền nhân thân gắn với quyền tài sản: (i) Quyền nhân thân không gắn với quyền tài sản được quy định tại Khoản 1, 2 và 4 Điều 19 Luật SHTT. Các quyền này gắn liền với tác giả và được bảo hộ vô thời hạn; (ii) Quyền nhân thân gắn với quyền tài sản được quy định tại Khoản 3 Điều 19 Luật SHTT và quyền tài sản được quy định tại Điều 20 của Luật SHTT. Quyền nhân thân gắn với quyền tài sản và quyền tài sản được bảo hộ suốt cuộc đời tác giả + 50 năm sau khi tác giả tạ thế.
Quyền nhân thân gắn với quyền tài sản và quyền tài sản sẽ thuộc về chủ sở hữu của tác phẩm - người đầu tư tài chính, cơ sở vật chất, kỹ thuật… để tạo nên tác phẩm (sẽ thuộc về tác giả nếu tác giả đồng thời là người đầu tư tài chính, cơ sở vật chất, kỹ thuật… để tạo nên tác phẩm). + Quyền liên quan: 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoản 3 Điều 4 Luật SHTT quy định: “Quyền liên quan là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa”. Như vậy, đối tượng của quyền liên quan là cuộc biểu diễn; bản ghi âm, ghi hình; chương trình phát sóng và tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa. Cũng giống như quyền tác giả, quyền liên quan cũng được bảo hộ theo nguyên tắc “bảo hộ tự động” tức là nó phát sinh ngay khi cuộc biểu diễn; bản ghi âm, ghi hình; chương trình phát sóng và tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được định hình.
Việc đăng ký bảo hộ quyền liên quan với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không phải là điều kiện bắt buộc. Quyền SHCN “Đối tượng của quyền SHCN bao gồm sáng chế, nhãn hiệu, KDCN, tên thương mại, BMKD, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn và chỉ dẫn địa lý” (Khoản 2 Điều 3 Luật SHTT). + Sáng chế “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên” (Khoản 12 Điều 4 Luật SHTT). Điều kiện để một sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế là: có tính mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp.
Điều kiện để một sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích là: có tính mới và có khả năng áp dụng công nghiệp. Quyền SHCN đối với sáng chế và quyền SHCN đối với giải pháp hữu ích được bảo hộ trong thời hạn Bằng độc quyền có hiệu lực. Tại Việt Nam, Bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 20 năm tính từ ngày 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.