Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về trách nhiệm pháp lý tiền hợp đồng Chương 2: Trách nhiệm pháp lý tiền hợp đồng theo quy định của một số quốc gia trên thế giới. 13 Chương 3: Trách nhiệm pháp lý giai đoạn tiền hợp đồng theo pháp luật Việt Nam. 14 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ TIỀN HỢP ĐỒNG 1. Khái quát chung về hợp đồng.
Ở Việt Nam, pháp luật về hợp đồng chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Trong pháp luật Dân sự, hợp đồng là một trong những chế định trung tâm. Bởi vậy, hợp đồng được coi như là luật quy định trách nhiệm giữa các bên và một lẽ tất yếu rằng, bên vi phạm sẽ phải chịu một hậu quả do đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng.1 Chế định hợp đồng xuất hiện từ rất sớm, ngay từ thời phong kiến trong Bộ Luật Hồng Đức của nhà Lê Sơ, chế định hợp đồng đã được nhắc đến trong các giao dịch, chuyển nhượng quyền sở hữu, tuy chưa có định nghĩa cụ thể về hợp đồng nhưng đã có những quy định liên quan đến điều kiện, hình thức, nội dung cơ bản của hợp đồng, ví dụ “các giao dịch được thực hiện phải được thể hiện trong khế ước và không được có sự man trá”. Sau này, chế định hợp đồng bắt đầu được quy định cụ thể hơn trong Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1936 và Bộ Dân luật Việt Nam Cộng hòa năm 1972.
Tuy nhiên, do hầu hết chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của BLDS Pháp 1804 nên hợp hợp đồng lúc này với tên gọi chung là khế ước được hiểu “là một hiệp ước của một người hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác” để tặng cho, chuyển giao, hoặc làm hay không làm cái gì.2 Đến giai đoạn xây dựng pháp luật dân sự Việt Nam, chế định hợp đồng được ghi nhận chính thức trong các BLDS Việt Nam hiện đại, tại Điều 394 BLDS năm 1995 và Điều 388 BLDS năm 2005 sau này đều thống nhất cách gọi chung từ “khế 1 Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình Luật Hợp đồng – Phần chung, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 2 Điều 680(2) Dân luật Trung Kỳ năm 1936 quy định: “Khế ước là một hiệp ước của một người hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để chuyển giao, để làm hay không làm cái gì”. Điều 653 Bộ Dân luật Việt Nam Cộng hòa năm 1972 quy định: “Khế ước hay hiệp ước là một hành vi pháp lý do sự thỏa thuận giữa hai người hay nhiều người để tạo lập, di chuyển, biến cải hay tiêu trừ một quyền lợi, đối nhân hay đối vật”.
15 ước” thành “hợp đồng dân sự” theo đó: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Tuy nhiên, ở những nước có sự phân biệt giữa luật công và luật tư như Việt Nam thì BLDS thường được coi là nền tảng của luật tư3, được áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự hay hợp đồng kinh tế, hợp đồng có mục đích kinh doanh hay hợp đồng nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Vì vậy, việc thêm bổ ngữ “dân sự” phía sau trong chế định hợp đồng được cho là chưa phù hợp. Đến khi BLDS năm 2015 ra đời, quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” đã được đánh giá là khái niệm hoàn thiện nhất, khắc phục được những khuyết điểm về cách định nghĩa của hợp đồng trong các bộ luật trước.
Thể hiện chế định hợp đồng trong BLDS có tính bao quát cho toàn bộ các quan hệ tư, nơi các chủ thể ở trong mối quan hệ bình đẳng với nhau. Theo Bộ luật Dân sự Pháp 1804 (sửa đổi, bổ sung bởi Sắc lệnh 2016-131) quy định hợp đồng là “sự thống nhất ý chí giữa hai hoặc nhiều người nhằm tạo lập, thay đổi, chuyển giao hoặc chấm dứt các nghĩa vụ”.4 Và nếu các bên chủ thể cùng có sự nhầm lẫn giống nhau về một nội dung thì hợp đồng đó vẫn được coi là đã xác lập. Án lệ của Nhật cũng có những quy định tương tự như nếu 02 bên cũng có sự gặp gỡ về sự đồng nhất ý chí về một nội dung khớp nhau theo mặt chủ quan thì hợp đồng đó coi như có sự xác lập. Từ một số định nghĩa về hợp đồng trên, có thể xác định hai vấn đề trọng tâm trong chế định về hợp đồng, đó là: (i) sự thống nhất ý chí giữa các bên tham gia hợp đồng, và (ii) tạo lập một hậu quả pháp lý.5 Vấn đề thứ nhất của chế định hợp 3 Trần Kiên, Khái niệm hợp đồng và những nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 2+3/2019.
4 Điều 1101, Bộ luật Dân sự Pháp (sửa đổi, bổ sung bởi Sắc lệnh 2016-131). 5 Ngô Huy Cương (2013), sđd, tr. 16 đồng thể hiện ý chí của các bên tham gia hợp đồng và sự thỏa thuận thể hiện ý chí, đây là vấn đề biểu hiện của giai đoạn giao kết hợp đồng; vấn đề thứ hai của chế định hợp đồng, thể hiện mục đích của hợp đồng là xác lập thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng, vấn đề này là biểu hiện của giai đoạn thực hiện hợp đồng. Do đó, một cách chung nhất, hợp đồng có thể được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều người nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật hoặc quyền và nghĩa vụ giữa các bên.6 Ý nghĩa xã hội quan trọng của hợp đồng là nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, đảm bảo được sự bình ổn, từ đó hình thành nên những nguyên tắc để duy trì sự bình ổn này.
Hướng đến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong giai đoạn đàm phán, đồng thời là đảm bảo quyền tự do, tính tự nguyện trong giao kết hợp đồng, đặc biệt trong giai đoạn tiền hợp đồng, đây là những nguyên tắc cần được đảm bảo trước nhất. Khái quát chung về giai đoạn tiền hợp đồng Nếu như hợp đồng chỉ có thể được thực hiện và đem lại lợi ích cho các chủ thể một cách tốt nhất khi hợp đồng được giao kết, phản ánh gần nhất mong muốn, tiệm cận thực sự lợi ích của các bên. Thì để đạt được mục tiêu này, quá trình đàm phán thương lượng cho đến khi giao kết hợp đồng có vai trò vô cùng quan trọng, giúp cho các bên hạn chế tối đa những rủi ro không mong muốn có thể phát sinh khi hợp đồng được thực hiện. Quá trình này được gọi là giai đoạn tiền hợp đồng.
Khái niệm về giai đoạn tiền hợp đồng Giai đoạn tiền hợp đồng (giai đoạn trước hợp đồng – pre contractual phase) được hiểu là giai đoạn ban đầu của quá trình đàm phán, trong đó các bên xem xét khả năng giao kết hợp đồng, xác lập các quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau, một bên thể hiện mong muốn xác lập hợp đồng cho đến khi được giao kết. Tuy 6 Ngô Huy Cương (2013), sđd, tr. 17 nhiên, hiện nay vẫn chưa có “một định nghĩa chính thức, cụ thể, rõ ràng về giai đoạn tiền hợp đồng trong các văn bản pháp lý quốc tế và pháp luật quốc gia”.7 Thông thường, giai đoạn tiền hợp đồng bắt đầu từ khi một bên đưa ra lời mời giao kết bày tỏ ý định tạo lập một hợp đồng (như quảng cáo, trưng bày giới thiệu hàng hóa đưa ra thông tin) cho người khác biết mong muốn xác lập một hợp đồng của mình. Đó được coi là yếu tố đầu tiên của giai đoạn tiền hợp đồng và được gọi là lời mời giao kết.
Trong giai đoạn này các bên sẽ tiến hành đàm phán, thương lượng và thảo luận các vấn đề liên quan để đi đến kết quả là hợp đồng được xác lập. Và khi hợp đồng được giao kết thành công thì giai đoạn tiền hợp đồng được coi như là chấm dứt. Theo pháp luật Việt Nam thời điểm kết thúc giai đoạn giao kết hợp đồng được thể hiện qua việc một bên chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, hết hạn trả lời chấp nhận hoặc có thông báo về việc thay đồi, rút lại hoặc hủy bỏ đề nghị có hiệu lực, v.8 Ở một số quốc gia thời điểm xác lập quan hệ tiền hợp đồng giữa các bên được xác lập từ bắt đầu từ khi một bên vào cửa hàng để mua đồ, kể từ thời điểm này các bên đã hình thành mối quan hệ pháp lý giữa người mua và người bán9. Đây là cách giải thích của Tòa án tối cao Đức áp dụng trong một bản án Germuseblattfal dựa trên học thuyết Culpa in contrahendo (lỗi trong giai đoạn đàm phán hợp đồng).
Theo đó việc đi vào một cửa hàng đã ngầm thể hiện ý định xác lập một quan hệ với người bán hàng10. Tuy nhiên, trường hợp một trong các bên từ chối giao kết hợp đồng hoặc hủy bỏ cuộc đàm phán không có lý do chính đáng khiến hợp đồng không thể được xác lập, gây thiệt hại cho bên còn lại, đồng thời có sự vi phạm nghĩa vụ hình thành trong quá trình thỏa thuận đàm phán giữa các bên cũng như vi phạm nguyên tắc thiện chí, trung thực thì khi đó sẽ phát sinh một loại trách nhiệm được gọi là trách nhiệm pháp lý tiền hợp đồng. 7 Lê Trường Sơn, “Giai đoạn tiền hợp đồng trong pháp luật Việt Nam”, 2015, tr.26 8 Điều 391 BLDS 2015 9 Eva Lein và Bart Volders (2009), “Trách nhiệm tiền hợp đồng của công ty bảo hiển và Luật bảo hiển của Pháp” Nxb. 10 Giai đoạn tiền hợp đồng – Lê Trường Sơn, (2015), tr 27 18 1.
Nguyên tắc điều chỉnh giai đoạn tiền hợp đồng Trong BLDS năm 2005, các nguyên tắc chi phối chế định hợp đồng đươc phân chia tương ứng với từng giai đoạn của hợp đồng, bao gồm các nguyên tắc trong giai đoạn giao kết hợp đồng và nguyên tắc trong giai đoạn thực hiện hợp đồng. Theo đó, quy định riêng về các nguyên tắc điều chỉnh trong giai đoạn tiền hợp đồng như sau: Điều 389 BLDS 2005 quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự: “Việc giao kết hợp đồng phải được tuân thủ theo các nguyên tắc sau đây. (1) Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội; (2) Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng”.