Chương 1: Những vấn đề lý luận về giới hạn của tự do báo chí. Chương 2: Giới hạn tự do báo chí trong pháp luật một số nước. Chương 3: Giới hạn tự do báo chí trong pháp luật Việt Nam. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIỚI HẠN CỦA TỰ DO BÁO CHÍ 1.
Báo chí và tự do báo chí 1. Quan niệm về báo chí Nhu cầu thông tin giao tiếp, kết nối xã hội là nhu cầu tự nhiên, vốn có gắn liền với lịch sử phát triển loài người. Trải qua thời gian, hình thức truyền tải thông tin ngày càng đa dạng và phát triển: từ hình thức viết lên đá, người đưa tin, tờ bướm… đến hình thức báo chí như ngày nay. Sự ra đời của báo chí chính là cột mốc quan trọng đánh dấu nhu cầu thông tin – giao tiếp đã ở một mức độ cấp thiết hơn rất nhiều và khả năng đáp ứng của các phương tiện truyền tin đã đạt đến trình độ cao hơn hẳn trước đó [6, tr.
Theo Từ điển Tiếng Việt, báo chí là “các cơ quan thông tin như báo hằng ngày, hằng tuần, tạp chí, tập san” [11]. Đây là khái niệm còn đơn giản, chưa đề cập đến vai trò truyền tải thông tin của báo chí cũng như chưa bao quát được hết các loại hình báo chí trong thời kỳ phát triển công nghệ như hiện nay. Tương tự như vậy, trong tiếng Anh, thuật ngữ báo chí (press) vừa được hiểu là một loại phương tiện truyền thông tin tức; vừa là một danh từ để chỉ các tổ chức xuất bản và phát sóng tin tức nói chung [19]. Về góc độ lý thuyết, báo chí được hiểu là “những tư liệu sinh hoạt tinh thần nhằm thông tin và nói rõ về những sự kiện thời sự đã và đang diễn ra cho một nhóm đối tượng nhất định, nhằm mục đích nhất định, xuất bản định kỳ, đều đặn” [2].
Về góc độ pháp luật, theo Luật Báo chí năm 2016 thì: Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử. Như vậy, có thể khái quát về báo chí như sau: báo chí là sản phẩm của hoạt động thu thập, đánh giá, sáng tạo và trình bày tin tức và thông tin;bao gồm những ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin, được phát hành rộng rãi trong xã hội dưới nhiều hình thức đa dạng. Quan niệm về tự do báo chí Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, báo chí là lĩnh vực thuộc hình thái ý thức xã hội và mang tính giai cấp rõ nét. Khi xã hội còn phân chia thành các giai cấp có quyền lợi khác nhau, thậm chí đối lập nhau, thì báo chí khó có thể thoát lý khỏi tính giai cấp, khó có tự do tuyệt đối [8].
Bởi bất cứ trong xã hội nào, các giai cấp cầm quyền cũng luôn tìm mọi cách để chi phối báo chí; coi nó như công cụ hữu hiệu để giành và củng cố quyền lực chính trị của mình. Và trong một chế độ chính trị có nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, khi mọi lĩnh vực của xã hội phải tuân theo pháp luật, thì hoạt động báo chí cũng không thể nằm ngoài yêu cầu này. Tuy nhiên, với vai trò cơ bản và quan trọng hàng đầu là thông tin, phản ánh trung thực khách quan các sự kiện, sự việc diễn ra trong đời sống xã hội, báo chí tự do và độc lập vẫn là nền tảng thiết yếu của bất kì một xã hội tự do nào. Có thể nói, tự do báo chí là mục tiêu phấn đấu của con người nhằm giành cho mình quyền được thông tin, trao đổi, giao tiếp, thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình một cách công khai qua các phương tiện thông tin đại chúng, không hề bị một sự lệ thuộc, một sự hạn chế nào [7, tr.
Hiểu theo nghĩa thông thường, tự do báo chí là thoát ly khỏi mọi sự ràng buộc, mọi sự cấm đoán đối với báo chí [9]. Từ điển Dictionary.com thì định nghĩa tự do báo chí (freedom of press) là “sự tự do xuất bản báo, tạp chí và các ấn phẩm khác mà không có sự kiểm duyệt, hạn chế của Chính phủ và chỉ bị giới hạn bởi Luật”. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong cuốn Sổ tay Luật truyền thông, tác giả Jane Kirtley cho rằng, mặc dù còn nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của báo chí (chẳng hạn báo chí cần phải đóng vai trò cổ súy, đi tiên phong thúc đẩy các sự nghiệp, phải có quan điểm chính trị rõ ràng; hay báo chí phải khách quan, không mang tính đảng phái…) nhưng để có tự do báo chí phải có những yếu tố cơ bản là [13]: Thứ nhất, một nền báo chí tự do và độc lập là điều thiết yếu của bất kì xã hội tự do nào. Nghĩa là một nền báo chí không phải chịu những kiểm soát và qui định không phù hợp của chính phủ, một nền báo chí không chịu ảnh hưởng tài chính từ khu vực tư nhân, trong đó các công ty quảng cáo, hay những áp lực kinh tế và kinh doanh từ các công ty tư nhân.
Một nền báo chí tự do và độc lập phải đem đến cho độc giả, khán giả và thính giả những thông tin mà họ cần để có thể tham gia đầy đủ với tư cách là công dân của một xã hội tự do. Thứ hai, một nền báo chí tự do phải là nền báo chí dũng cảm và sẽ đưa tin về những câu chuyện quan trọng đối với độc giả và khán giả mà không phải sợ sệt điều gì hay không thiên vị một bên nào. Nền báo chí đó sẽ thách thức các giả định, sẽ nghi vấn nhà chức trách, và sẽ chỉ biết đi tìm sự thật, cho dù sự tìm kiếm đó sẽ dẫn đến đâu – có thể đến tận những nơi quyền lực cao nhất, đến tận những người sở hữu các cơ quan báo chí, và thậm chí ngay cả khi điều đó dẫn đến cái chết. Thứ ba, một nền báo chí tự do phải là một nền báo chí có trách nhiệm.
Quan điểm về trách nhiệm khác nhau ở từng nước, và thậm chí là khác nhau theo từng năm. Đối với nhiều người, chuẩn mực trong thời bình và ổn định có thể khác nhau với chuẩn mực trong thời chiến hay lúc quốc gia nguy cấp. Tuy nhiên một số nguyên tắc căn bản vẫn không hề thay đổi. Một nền báo chí tự do phải biết đi tìm sự thật và phải đưa tin về điều đó.
Nền báo chí đó sẽ không biết mệt mỏi trong việc tìm kiếm đạt đến tính chính xác. Báo chí không bao giờ được phép đưa tin sai sự thật trong khi biết rõ điều đó. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, có thể khái quát về tự do báo chí như sau: tự do báo chí là một trong những quyền con người cơ bản nhất, thông qua đó mà con người truyền tải thông tin, thể hiện quan điểm, ý chí của mình trước các vấn đề của đời sống xã hội mà không bị bất kỳ một sự hạn chế, lệ thuộc, can thiệp nào. Quyền này đã được luật nhân quyền quốc tế và pháp luật của hầu hết các quốc gia ghi nhận.
Mối quan hệ giữa tự do báo chí với các quyền con người khác Các quyền con người đều có tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau. Tính chất này thể hiện ở việc bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Một quyền được thúc đẩy hay bị vi phạm sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến các quyền khác. Cũng như các quyền con người khác nói chung, quyền tự do báo chí có mối quan hệ biện chứng với các quyền khác.
Thật vậy, tự do báo chí chỉ được thực thi hiệu quả khi các quyền cơ bản, không thể bị đình chỉ trong mọi trường hợp được bảo đảm. Ví dụ, một nhà báo phải được bảo đảm quyền được sống; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền tự do và an ninh cá nhân trước tiên thì mới có thể thực hiện được quyền tự do báo chí của mình. Và đồng thời, nhờ bảo đảm được quyền tự do báo chí, các quyền khác như tự do ngôn luận, tự do thông tin, các quyền dân sự, các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội… được thực thi, bảo vệ và thúc đẩy tốt hơn. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, việc thực thi quyền tự do báo chí lại ảnh hưởng, xâm hại đến các quyền, tự do khác.
Chẳng hạn, nhà báo đưa tin về đời tư của một cá nhân làm xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về quyền riêng tư, hay thể hiện quan điểm nhằm chế giễu, phỉ báng một tôn giáo làm xúc phạm đến quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân hay 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một cộng đồng, có bài viết gây phân biệt đối xử, kỳ thị quyền của đồng bào dân tộc thiểu số… Ngoài ra, tự do báo chí có quan hệ gần gũi hơn cả với một số quyền con người, bao gồm: quyền tự do biểu đạt, quyền tiếp cận thông tin. Tự do báo chí với tự do biểu đạt Trong thế giới hiện đại, báo chí và các phương tiện truyền thông khác góp phần quan trọng để củng cố, thúc đẩy quyền tự do biểu đạt. Từ việc phát triển tự do biểu đạt thì tự do báo chí ngày càng được đề cao và chú trọng. Tự do báo chí là điều kiện giúp cho tự do biểu đạt được thực hiện một cách hoàn chỉnh hơn, dễ dàng hơn.
Trong luật nhân quyền quốc tế tự do biểu đạt (freedom of expression) bao gồm cả tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do xuất bản, tự do Internet, triển lãm, biểu diễn nghệ thuật… Điều 19 Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948 (UDHR) ghi nhận về quyền tự do biểu đạt như sau: Mọi người đều có quyền tự do quan điểm và biểu đạt ý kiến; kể cả tự do bảo lưu quan điểm mà không bị can thiệp; cũng như tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện truyền thông nào, không có giới hạn về biên giới.