MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (viết tắt là BVTV) đã trở thành một trong những công cụ hữu hiệu nhất trong công tác phòng trừ sâu bệnh, bảo vệ sản xuất nông nghiệp và đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm. Với điều kiện khí hậu tự nhiên và đa dạng, Việt Nam là nước có lợi thế lớn trong canh tác và phát triển nông nghiệp. Cùng với việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng hóa chất nông nghiệp đã gia tăng nhanh chóng ở Việt Nam.
Từ chỗ chỉ có 77 loại hoạt chất được cho phép sử dụng năm 1991, đến năm 2010 có 437 loại thuốc trừ sâu, 304 loại thuốc diệt nấm và 160 loại thuốc diệt cỏ được cho phép sử dụng (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2010). Trong hai thập niên gần đây, số lượng thuốc BVTV nhập khẩu tăng từ 20,300 lên 72,560 tấn (Nguyễn Hữu Huân, 2005; Bộ Nông nghiệp và Phát Triển nông thôn, 2010). Trong Thông tư Ban hành danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam và công bố mã HS đối với thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam (2015), thuốc trừ sâu có đến 769 hoạt chất với 1690 tên thương phẩm, thuốc trừ bệnh có 607 hoạt chất với 1295 tên thương phẩm. Ở đồng bằng sông Cửu Long (viết tắt là ÐBSCL), việc sử dụng và quản lý thuốc BVTV đã bắt đầu trở thành mối quan tâm lớn vì đây là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của cả nước.
Bến Tre là một trong những tỉnh giữ vai trò quan trọng trong phát triển sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL. Tuy nhiên, Bến Tre được đánh giá là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp. Trong Báo cáo lần thứ 4 (2007), Ủy Ban Liên Chính Phủ Về Biến Đổi Khí Hậu đã phân tích và phỏng đoán các tác động của nước biển dâng và cho rằng các vùng châu thổ được xếp trong nhóm cực kỳ nguy cấp do biến đổi khí hậu là: vùng hạ lưu sông Mekong (Việt Nam), sông Ganges - Brahmaputra (Bangladesh) và sông Nile (Ai Cập). Địa hình Bến Tre là vùng đất thấp và có bốn con sông chảy qua nên đặc biệt chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu.
Ngoài ra, vùng đất này còn chịu những biến đổi bất thường khác của khí hậu như thời tiết khó dự đoán hơn, hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra thường xuyên hơn, thời kỳ hạn hán kéo dài… Các hiện tượng này gây khó khăn cho người dân nơi đây (Oxfam, 2008) vì biến đổi khí 1 hậu ảnh hưởng tới mọi mặt của sản xuất nông nghiệp, tác động đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng. Vậy trong bối cảnh biến đổi khí hậu như hiện nay, việc sử dụng thuốc BVTV của người nông dân ở Bến Tre như thế nào, các yếu tố nào tác động đến việc sử dụng đó cũng như việc sử dụng thuốc BVTV đã ảnh hưởng đến môi trường sống và sức khỏe của những người dân như thế nào? Nhóm tác giả đã tiến hành tìm hiểu về “Việc sử dụng thuốc BVTV trong nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre” để lý giải những vấn đề trên. Mục đích, mục tiêu nghiên cứu 1. Mục đích nghiên cứu Mục đích của đề tài nhằm làm rõ thực trạng, các yếu tố tác động và hệ quả của việc sử dụng thuốc BVTV trong nông nghiệp của người dân tại khu vực tỉnh Bến Tre.
Từ đó, đề tài đưa ra những đề xuất mang tính khuyến nghị để góp phần vào việc sử dụng hiệu quả thuốc BVTV trong hoạt động sản xuất nông nghiệp không chỉ của tỉnh Bến Tre mà còn của cả vùng ĐBSCL. Mục tiêu nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài đề ra bốn mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau: - Tìm hiểu nhận thức và hành vi sử dụng thuốc BVTV của người dân - Phân tích các yếu tố tác động đến việc sử dụng thuốc BVTV của người dân - Tìm hiểu hệ quả của việc sử dụng thuốc BVTV - Đề xuất các giải pháp sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp nhằm phát triển bền vững ngành nông nghiệp 1. Tổng quan các nghiên cứu về ảnh hưởng thuốc BVTV 1. Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, khi ngành nông nghiệp ra đời thì con người cũng đã biết tìm những hóa chất để có thể bảo vệ cây trồng, chống lại côn trùng, sâu hại gây bệnh và cỏ dại.
Tuy nhiên, mãi đến khi vấn đề môi trường được chú ý thì vấn đề ảnh hưởng 2 thuốc BVTV đến môi trường mới được quan tâm. Đã có rất nhiều quốc gia, tổ chức, nhà khoa học đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc BVTV và phát triển các chương trình quản lý, đánh giá các rủi ro do thuốc BVTV gây nên. Trước tiên là những nghiên cứu đề cập đến các rủi ro, ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường. Trong cuốn sách “Silent spring” của Carson (1962) đã phân tích những rủi ro môi trường liên quan đến việc sử dụng thuốc trừ sâu.
Cuốn sách đã thật sự gây sốc cho không ít người khi lập luận rằng những mối nguy hiểm môi trường đó do chính con người tạo ra và song hành trong cuộc sống. Chúng là những chất độc có trong thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và nhiều loại chất khác sử dụng trong nông nghiệp. Carson cho rằng những hóa chất đó thậm chí còn nguy hiểm hơn cả những chất phóng xạ. Chúng có thể xâm nhập theo đường tiêu hóa (cùng thức ăn, đồ uống); theo đường hô hấp (ví dụ khi ta hít phải) hay qua da (như khi phun thuốc trừ sâu, trừ cỏ không mang khẩu trang, găng tay,…).
Với cách xâm nhập đó, con người có nguy cơ mang theo chất độc từ lúc sinh ra đến khi chết và chịu sự tàn phá của chúng. Bài viết “Nhiễm bẩn do thuốc bảo vệ thực vật ở các ao nông thôn” (Contamination of Rural Ponds with Pesticide) đã mô tả lại kết quả nghiên cứu của Frank và các đồng sự thực hiện từ năm 1982 tại 11 vùng nông nghiệp đầu nguồn Ontario, Canada. Nhóm tác giả này đã nghiên cứu về sự nhiễm độc môi trường do sử dụng các chất hóa học. Có ít nhất 81 loại thuốc trừ sâu khác nhau đã được sử dụng trong nông nghiệp dọc theo hành lang an toàn và nhiều loại thuốc được sử dụng gần nhà.
Trung bình 39% của bề mặt nước có chứa dư lượng hợp chất clo. Việc sử dụng nồng độ cao thuốc trừ sâu ở vùng này đã gây ra ô nhiễm bề mặt nguồn nước tại vùng nghiên cứu. Thuốc diệt cỏ Atrazine có mặt trong 93% các mẫu nước với mức sử dụng 2,2kg/ha/năm. Nghiên cứu của Charles ở Mỹ năm 2004 cho thấy thuốc BVTV có hiện tượng gây ô nhiễm không chỉ ngay ở vùng nó được sử dụng mà cả sang các vùng lân cận do sự rửa trôi.
Cũng theo tác giả này, thuốc BVTV chỉ dùng cho canh tác thông thường và canh tác hữu cơ là lưu huỳnh, dầu khoáng trừ sâu, thuốc trừ nấm chứa đồng. Trong sách “BVTV và sản xuất mùa vụ trên thế giới” (Plant protection and world crop production), Cramer (1967) đánh giá tình hình cung cấp thực phẩm thế 3 giới hiện nay, sự tăng dân số và ảnh hưởng của dịch bệnh, sâu bệnh và cỏ dại lên sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, tác phẩm còn đề cập đến sản lượng tiềm năng và thiệt hại thực tế do côn trùng, bệnh tật và cỏ dại của mỗi loại nông nghiệp chính ở mỗi nước lớn trên thế giới. Bên cạnh những nghiên cứu về các hệ quả nghiêm trọng của việc sử dụng thuốc BVTV, một số nghiên cứu quan tâm đến việc bảo vệ môi trường do thuốc BVTV gây ra.
Tại Mỹ, nơi khoa học môi trường rất phát triển, các chuyên gia và các nhà khoa học đã xây dựng và duy trì nhiều chương trình bảo vệ môi trường do thuốc trừ sâu từ rất sớm như. Năm 2002, Fred Whitford, điều phối viên của Chương trình thuốc trừ sâu của Đại học Purdue đã viết cuốn sách “Tài liệu hoàn chỉnh về quản lý thuốc bảo vệ thực vật”. Tác giả cho rằng cần có chính sách dứt khoát và yêu cầu xem xét một sản phẩm thuốc trừ sâu trước khi đưa vào sử dụng trên thị trường với nhãn mác rõ ràng và chính xác. Tuy nhiên, thuốc trừ sâu cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì cuộc sống của chúng ta, bởi chính chúng giúp con người bảo vệ cây trồng, nguồn lương thực, thực phẩm của nhân loại.
Để xử lý nước rửa bình xịt, chai lọ,. từ quá trình sử dụng thuốc BVTV, hạn chế việc xả, đổ nước thải bừa bãi, gây ảnh hưởng đến môi trường, năm 1993 hai nhà khoa học Thụy Điển là Torsttensson và Castilllo đã nghiên cứu và đề xuất mô hình đệm sinh học. Đây là công trình xây dựng đơn giản và rẻ tiền, được áp dụng rộng rãi như là một biện pháp để bảo vệ nguồn nước mặt và nước ngầm. Các nghiên cứu trên được tiến hành ở nhiều quốc gia khác nhau chứng tỏ rằng thuốc BVTV đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới và hệ quả tiêu cực của nó đến môi trường sống và sức khỏe của con người đã thể hiện rất rõ.
Các nghiên cứu trên đều chủ yếu tập trung vào hai chủ đề chính: những ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường và những chính sách, chương trình can thiệp nhằm hạn chế những rủi ro và ảnh hưởng do thuốc BVTV gây nên. Những nghiên cứu này được thực hiện với góc nhìn của các nhà khoa học tự nhiên, chưa đi sâu tìm hiểu các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc BVTV. Các nghiên cứu ở Việt Nam Kể từ khi Việt Nam chuyển hướng sang xây dựng và phát triển một nền kinh tế thị trường, bắt đầu từ các chính sách đổi mới được thông qua vào năm 1986, ngành sản xuất và phân phối thuốc BVTV được tư nhân hóa nhiều hơn. Để cung cấp một cơ sở pháp lý cho các tư nhân nhập khẩu thuốc BVTV, sản xuất, đóng gói và phân phối, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hàng năm đã đề ra một danh sách các loại thuốc BVTV đã được phê duyệt cho nhập khẩu, sản xuất, phân phối và sử dụng tại Việt Nam.