Chương I: Cơ sở lý thuyết xuất khâu gạo Việt Nam. Chương 2: Thực trạng xuất khâu gạo Việt Nam thị trường gạo nước ngoài. Chương 3: Giải pháp cho xuất khẩu gạo Việt Nam sang thị trường nước ngoài. 220 CHUONG 1: CO SO LY THUYET XUAT KHAU GAO VIET NAM 1.
Cơ sở lý luận về xuất khẩu 1. Khái niệm về xuất khẩu Xuất khâu là việc bán hàng hóa hoặc dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán theo nguyên tắc ngang giá. Tiền tệ ở đây có thê là ngoại tệ đối với ít nhất một bên trong mối quan hệ này. Mục đích của hoạt động xuất khâu là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế.
230 Việc trao đôi hàng hóa mang lại lợi ích cho các quốc gia do đó các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này. Đặc điểm của xuất khẩu Thứ nhất, thị trường kinh doanh trong xuất khâu thường phức tạp và khó tiếp cận hơn thị trường trong nước. Bởi vì thị trường xuất khâu vượt ngoài phạm vi biên 235 giới quốc gia nên về mặt địa lý thì nó ở xa hơn và phức tạp hơn và có nhiều nhân tố ràng buộc hơn. Thứ hai, khách hàng trong hoạt động xuất khẩu là người nước ngoài.
Do đó, sẽ có những điểm khác biệt về ngôn ngữ, lối sống, mức sống và phong tục tap quan. điều này sẽ dẫn đến những khác biệt trong nhu cầu và cách thức thỏa mãn nhu cầu. 240 Vì vậy nhà xuất khâu cần phải có sự nghiên cứu sâu hơn đề tìm hiểu nhu cầu của khách hàng nước ngoài để đưa ra những hàng hóa phù hợp. Thứ ba, hình thức mua bản trong hoạt động kinh đoanh xuất khâu thường là mua bán qua hợp đồng xuất khẩu với khối lượng mua lớn mới có hiệu quả.
Thứ tư, các nghiệp vụ liên quan đến hoạt động xuất khẩu như thanh toán vận chuyền, ký kết hợp đồng. đều phức tạp và chứa rất nhiều rủi ro. Vai trò của xuất khẩu H Đi với nền kinh tế Hoạt động về xuất khâu đã góp phần làm tăng quy mô cho nền kinh tế thé giới. Cùng với nhập khẩu, xuất khâu thúc đây sự phát triển và tăng trưởng nền kinh tế quốc 250 gia.
Quốc gia sẽ xuất khâu các sản phâm, hàng hóa dư thừa hoặc các hàng hóa có lợi thể hơn đề bán cho những quốc gia khác. Và ngược lại, nhập khẩu các loại hàng hóa dịch vụ để đáp ứng nhu cầu nền kinh tế trong nước không đáp ứng được hay khắc phục các yêu kém tổn tại trong nước như công nghệ - kỹ thuật, khoa học. Xuất khẩu còn tạo nguồn vốn phục vụ cho hoạt động nhập khâu và tái đầu tư 255 vào các lĩnh vực khác. Điều này giúp giảm sự phụ thuộc vào các khoản đầu tư của nước ngoài đối với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, nhu cầu nhập khẩu lớn hiện nay như Việt Nam.
Xuất khẩu còn giúp quốc gia gia tăng dự trữ các ngoại tệ. Khi đó, cán cân thanh toán thặng dư (ngoại tệ thu về lớn hơn) là điều kiện tốt cho sự phát triển kinh tế. 260 Hoạt động xuất khâu góp phần làm chuyên địch cơ cấu của kinh tế từ nền kinh tế nông nghiệp sang nên kinh tế công nghiệp và địch vụ. Và hoạt động xuất khâu còn có đóng góp không nhỏ trong việc giải quyết vấn đề công ăn, việc làm cho người lao động.
Tạo ra thu nhập chính đáng và nâng cao đời song cho ho. Xuất khẩu còn là một cơ sở quan trọng tạo điều kiện mở rộng và thúc đây các quan hệ kinh tế đôi ngoại của đất nước. D Đối với doanh nghiệp Hoạt động xuất khâu giúp doanh nghiệp gia tăng doanh số bán hàng. Trong bối cảnh thị trường trong nước trở nên bão hòa, xuất khẩu trở thành giải pháp giúp 270 doanh nghiệp tăng doanh số bán hàng của mình khi mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế.
Ngoài vấn đề ngoại tệ thu về, xuất khẩu sẽ tạo động lực đề cho các đoanh nghiệp không ngừng cải tiễn chất lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm và địch vụ. Thông qua xuất khâu, doanh nghiệp có thê đa dạng hóa thị trường đầu ra của minh. Da dang hoa thị trường giúp doanh nghiệp tạo ra các nguồn thu nhằm ổn định 275 luồng tiền thanh toán cho các nhà cung cấp. Đồng thời tiếp tục đa dạng hóa thị trường để tránh sự phụ thuộc vào một thị trường nao đó.
Xuất khâu còn giúp quảng bá được thương hiệu rộng rãi: Đó không chỉ là thương hiệu riêng của doanh nghiệp mà còn là một thương hiệu quốc gia xét trên thị trường quốc tế. Có càng nhiều đoanh nghiệp tạo tên tuổi thì sẽ tích tiêu thành đại, đần khang định được vị thế của quốc gia đó. Ví 280 dụ rõ nhất minh chứng điều này chính là nhắc đến Apple người ta nghĩ ngay đến Mỹ, Samsung hay Hyundai là Hàn Quốc. Qua đó, nhờ có hoạt động xuất khẩu nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam có cơ hội tiếp xúc, trau dồi kinh nghiệm hoạt động, xây dựng chiến lược kinh doanh trên thị trường quốc tế với chi phi va rủi ro thấp nhất.
Các hình thức xuất khẩu Cùng với sự phát triển của kinh tế toàn cầu, các hình thức xuất nhập khâu cũng được phát triển đa dạng hỗ trợ người dùng và các đoanh nghiệp có thể đễ dàng đưa hàng hóa của mình phát triển đi các thị trường quốc tế. Ứng với mỗi phương thức xuất khẩu có đặc điểm riêng, kỹ thuật tiễn hành riêng tuy nhiên trong thực tế xuất 290 khâu thường sử dụng một trong những phương thức chủ yếu sau: 1. Xuâât kh ẩi trực têâp Phương thức xuất khâu trực tiếp trong thương mại quốc tế có thê được thực hiện ở mọi lúc và mọi nơi trong đó người mua, người bán trực tiếp có thể gặp mặt và trao đôi hoặc thông qua các thư từ, điện tín,. đề có thê bàn bạc và thỏa thuận với 295 nhau về hàng hóa, giá cả, điều kiện giao dịch, phương thức thanh toán.
mà không qua người trung gian. Những nội dung này được thỏa thuận một cách tự nguyện, việc mua không nhất thiết gắn liền với việc bán. Hoạt động xuất khâu trực tiếp có những ưu điểm, nhược điểm như: Về ưu điểm: 300 ® Thảo luận trực tiếp một cách dé đàng dẫn đến thông nhất. ® Tăng lợi nhuận và doanh thu cho doanh nghiệp.
e Tiết kiệm được chỉ phí tối da cho các bên trung gian. e Nắm bắt chính xác sự thay đôi nhu cầu, thị hiểu của khách hàng e Kiêm soát được giá cả và sản phâm của mình ở thị trường nước ngoài. e Tạo điều kiện phát huy tính độc lập của doanh nghiệp. e Chủ động, tích cực trong việc tiêu thụ hàng hóa, sản phâm do chính doanh nghiệp sản xuất ra.
Về nhược điểm: ® Doanh nghiệp phải tự chủ về mặt tài chính. 310 ® Phải có kiến thức kinh doanh trên thị trường thế giới. ® Chi phí thực hiện cho việc giao dich kha cao. e Đối với thị trường mới còn nhiều bỡ ngỡ, dễ bị ép giá trong mua bán.
e Khối lượng mặt hàng cần giao địch phải lớn dé bù đắp được chi phí: Giấy tờ, đi lại, điều tra, tìm hiểu thị trường. 315 ® Dễ xảy ra rủi ro bởi nếu đội ngũ nhân viên không đủ trình độ và kinh nghiệm xử lý công việc. & Các hình thức xuất khẩu trực tiếp Đề thực hiện xuất khâu trực tiếp, các doanh nghiệp cần có tô chức trong nước 320 đảm nhận nghiệp vụ xuất khẩu và có kênh phân phối ở nước ngoài. Tô chức xuât khâu ở trong nước của doanh nghiệp: Bệ phận xuất khẩu: Bộ phận thực hiện chức năng xuất khâu trực thuộc phòng kinh doanh.
Trong trường hợp này phòng kinh doanh sẽ gồm 2 bộ phận chính là bộ phận kinh doanh trong nước và bộ phận xuất khâu. Cơ cấu tô chức này chỉ phù hợp với doanh nghiệp mới xuất khâu, có quy mô nhỏ, lượng hàng hóa hy vọng bán ở nước ngoài vừa và nhỏ, triết lý quản trị không hướng tới việc kinh doanh ở hải ngoại; công ty không thê có được những nguồn lực bồ sung hoặc nếu có thì lại thiếu những nguồn lực then chốt chủ yếu. Như vậy mô hình này chỉ thích hợp với những doanh nghiệp ở những giai đoạn đầu trong việc phát triên thị trường xuất khâu trực tiếp. 330 Phòng xuất khẩu: Khi lượng hàng bán ra nước ngoài liên tục tăng thì việc thành lập một bộ phận chuyên cho hoạt động xuất khẩu là rất cần thiết.
Phòng xuất khâu riêng biệt này là một tô chức độc lập, trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ xuất khâu, từ tìm kiếm thị trường, khách hàng cho đến tô chức soạn thảo, chuẩn bị cho giám đốc ký kết hợp đồng xuất khẩu và tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Như 335 vậy các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu sẽ được tiễn hành trên cơ sở toàn thời gian bởi các nhân viên am hiều đến việc xuất khâu. Phòng xuất nhập khâu này được cơ cầu tô chức trên cơ sở chức năng, khu vực địa lý, sản phâm, khách hàng. Công ty con (công ty chỉ nhánh xuất khẩu): Khi quy mô xuất khâu lớn sẽ xuất hiện các công ty con đảm nhiệm việc xuất khâu trực thuộc công ty mẹ thường là các 340 tổng công ty).
Các công ty con có quyên tự chủ nhất định theo phân cấp của công ty mẹ. Cách tổ chức này tạo điều kiện cho các công ty con chủ động tìm kiếm khách 20 10 Thang, thi truong va thực hiện các đơn đặt hàng nước ngoài, tách kinh doanh xuất khâu với kinh doanh trong nước nên có thê đánh giá hiệu quả của kinh doanh xuất khâu trong tổng thê hoạt động kinh doanh của công ty Kênh phân phối ở nước ngoài: Chi nhánh bán hàng ở nước ngoài: Một nhà sản xuất có bộ phận xuất khẩu, nhưng muốn đạt được khả năng kiểm soát chặt chẽ thị trường nước ngoài cụ thê của mình thì công ty có thê tạo lập một chi nhánh bán hàng nước ngoài. Trong trường hợp này, chỉ nhánh có điều kiện tiếp cận trực tiếp với thị trường nước ngoài, nhanh chóng nắm bắt nhu cầu của khách hàng, tình hình thị tường 350 và có điều kiện phục vụ tốt khách hàng nước ngoài. Thường là có sẵn các nhà kho và các phương tiện kho bãi, như vậy chi nhánh này tự nó có thể duy trì hàng hóa tổn kho, những phụ tùng thay thế, cung ứng bảo trì, nghiệp vụ.