Tổng quan nghiên cứu

Năm 2021 ghi nhận bước chuyển dịch chiến lược của ngành lúa gạo Việt Nam khi sản lượng lúa cả nước đạt 43,88 triệu tấn, tăng 1,1 triệu tấn so với năm 2020. Dù đối mặt với làn sóng bùng phát của đại dịch COVID-19 khiến chuỗi cung ứng gián đoạn nghiêm trọng, hoạt động xuất khẩu gạo vẫn đạt 6,15 triệu tấn với tổng kim ngạch xấp xỉ 3,27 tỷ USD, tăng 4,8% về giá trị so với cùng kỳ. Đặc biệt, giá xuất khẩu gạo bình quân của Việt Nam đạt mức 530 USD/tấn, tăng 8% và duy trì vị thế dẫn đầu trong nhóm các quốc gia xuất khẩu gạo truyền thống.

Tuy nhiên, bối cảnh thương mại quốc tế đặt ra nhiều thách thức gay gắt liên quan đến chi phí logistics tăng phi mã, tình trạng thiếu hụt container rỗng, cùng sự gia tăng của các hàng rào kỹ thuật như biện pháp kiểm dịch động thực vật và rào cản kỹ thuật đối với thương mại tại các thị trường nhập khẩu lớn. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu phân tích toàn diện thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2021, xác định các yếu tố tác động đến hiệu quả chuỗi giá trị và đánh giá mức độ thích ứng của hệ thống doanh nghiệp xuất khẩu.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian sản xuất lúa gạo trọng điểm tại Việt Nam, đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời mở rộng khảo sát các thị trường tiêu thụ chủ lực như Liên minh châu Âu, Hàn Quốc, Trung Quốc và khối ASEAN trong khung thời gian năm 2021. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp hệ thống luận cứ khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách hoàn thiện khung khổ pháp lý, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình thương mại quốc tế nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng Lý thuyết Lợi thế so sánh của David Ricardo và Lý thuyết Lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter. Hai mô hình lý thuyết này giải thích động lực chuyên môn hóa sản xuất nông sản dựa trên điều kiện tự nhiên, chi phí nhân công và năng lực đổi mới công nghệ trong chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng các lý thuyết về quản trị chuỗi cung ứng toàn cầu và quản trị rủi ro thương mại quốc tế để phân tích sự vận động của dòng hàng hóa nông sản qua biên giới.

Hệ thống khái niệm cốt lõi trong nghiên cứu bao gồm 5 phương thức xuất khẩu chủ yếu:

  • Xuất khẩu trực tiếp: Hoạt động bán hàng hóa thông qua phòng ban xuất khẩu chuyên trách, chi nhánh hoặc công ty con tại nước ngoài mà không qua trung gian.
  • Xuất khẩu gián tiếp: Hình thức thương mại ủy thác thông qua các công ty quản trị xuất khẩu, đại lý hoặc nhà môi giới quốc tế nhằm giảm thiểu rủi ro pháp lý và tài chính.
  • Xuất khẩu tại chỗ: Giao dịch cung cấp hàng hóa cho thương nhân quốc tế nhưng giao nhận ngay trong phạm vi lãnh thổ nội địa theo chỉ định.
  • Gia công quốc tế: Hoạt động sản xuất, chế biến nguyên liệu theo đơn đặt hàng của đối tác nước ngoài để nhận thù lao gia công.
  • Tạm nhập tái xuất: Giao dịch thương mại ba bên với mục tiêu thu hồi ngoại tệ lớn hơn thông qua việc nhập khẩu rồi tái xuất hàng hóa chưa qua chế biến.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô toàn diện, bao quát 4 vụ sản xuất lúa chính trong năm 2021 gồm vụ đông xuân, hè thu, thu đông và vụ mùa trên tổng diện tích canh tác 7,24 triệu ha. Dữ liệu quốc tế được trích xuất từ các tổ chức uy tín như Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc và Hội đồng Ngũ cốc Quốc tế. Số liệu quốc gia được tổng hợp từ Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương, cùng báo cáo tài chính kiểm toán của các doanh nghiệp đầu ngành như Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An, Tập đoàn Lộc Trời và Tổng công ty Lương thực Miền Bắc.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng được áp dụng để khảo sát các nhóm doanh nghiệp đại diện cho mô hình liên kết chuỗi giá trị công nghệ cao và mô hình thương mại truyền thống. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp so sánh liên kỳ và phân tích chuỗi giá trị là nhằm phản ánh khách quan bức tranh toàn cảnh, đo lường chính xác các biến động về giá, sản lượng và biên lợi nhuận trong điều kiện đứt gãy chuỗi cung ứng giai đoạn 2020 - 2021.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, năng suất sản xuất đã bù đắp thành công sự sụt giảm về diện tích gieo cấy. Diện tích lúa cả nước năm 2021 đạt 7,24 triệu ha, giảm 38,3 nghìn ha so với năm trước. Tuy nhiên, năng suất lúa bình quân đạt 60,6 tạ/ha, tăng 1,8 tạ/ha, giúp tổng sản lượng lúa đạt 43,88 triệu tấn, tăng 1,1 triệu tấn. Trong đó, vụ đông xuân đạt sản lượng 20,63 triệu tấn với năng suất 68,6 tạ/ha, tăng 2,9 tạ/ha so với cùng kỳ.

Thứ hai, cơ cấu xuất khẩu chuyển dịch rõ nét từ số lượng sang chất lượng cao. Khối lượng xuất khẩu đạt 6,15 triệu tấn, tương đương năm 2020, nhưng kim ngạch đạt 3,27 tỷ USD, tăng 4,8%. Giá trị bình quân đạt 530 USD/tấn, tăng 8% so với năm 2020. Xu hướng này khẳng định chiến lược tái cơ cấu lúa gạo sang các phân khúc gạo thơm, gạo đặc sản và gạo chất lượng cao đang phát huy hiệu quả thực chất.

Thứ ba, sự phân hóa sâu sắc về kết quả kinh doanh giữa các mô hình doanh nghiệp. Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An trúng thầu 48.763 tấn trên tổng hạn ngạch 50.000 tấn gạo xuất khẩu sang Hàn Quốc, chiếm 98% thị phần với mức giá trúng thầu cao hơn 9% đến 10% so với mặt bằng chung, giúp doanh thu đạt trên 30 triệu USD, tăng 67%. Tập đoàn Lộc Trời xuất khẩu hơn 80.000 tấn gạo với doanh thu hơn 1.000 tỷ đồng, tăng gấp 4 lần về sản lượng và doanh số. Ngược lại, Tổng công ty Lương thực Miền Bắc ghi nhận quý thứ 7 thua lỗ liên tiếp, với mức lỗ ròng 9 tháng đầu năm gần 248 tỷ đồng và nợ phải trả vượt 4.778 tỷ đồng do chi phí vận hành và logistics tăng mạnh.

Thảo luận kết quả

Trong giai đoạn cao điểm dịch bệnh từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2021, hơn 80% doanh nghiệp chế biến lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long bị đình trệ hoạt động do đứt gãy vận chuyển và thiếu nhân công. Các đơn vị vượt qua khủng hoảng thành công nhờ áp dụng mô hình liên kết vùng nguyên liệu cánh đồng lớn và tổ chức sản xuất ba tại chỗ. Về mặt vận tải, giải pháp thuê tàu biển chở hàng rời thay thế container của Tập đoàn Lộc Trời cho đơn hàng 4.170 tấn sang châu Âu đã giúp tiết kiệm đáng kể chi phí logistics.

Khi so sánh quốc tế, năng suất lúa Việt Nam đạt khoảng 900 kg/rai, cao gấp đôi Thái Lan ở mức 450 kg/rai và vượt Ấn Độ ở mức 800 kg/rai. Mặc dù đồng baht Thái Lan mất giá giúp giá gạo trắng 5% tấm FOB của nước này cạnh tranh ở mức 390 USD/tấn, gạo Việt Nam vẫn giữ vững giá bán 395 đến 405 USD/tấn nhờ sự vượt trội của các giống lúa chất lượng cao. Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu đã tạo động lực tăng giá xuất khẩu thêm từ 10 đến 20 USD/tấn.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa qua biểu đồ cột kép so sánh sản lượng và kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2020 - 2021, kết hợp bảng ma trận phân tích tương quan giữa chi phí đầu vào phân bón và biên lợi nhuận ròng của các doanh nghiệp niêm yết.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Hoàn thiện thể chế quản lý thương mại: Bộ Công Thương cần chủ trì sửa đổi Nghị định số 107/2018/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo, bãi bỏ các điều kiện kinh doanh không còn phù hợp, tạo cơ chế thông thoáng cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo hữu cơ và gạo vi chất dinh dưỡng. Mục tiêu rút ngắn 30% thời gian thẩm định thủ tục cấp phép trong giai đoạn 2022 - 2024.

  • Mở rộng nguồn vốn tín dụng chuỗi giá trị: Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại cần đẩy mạnh thực hiện Văn bản số 5747/NHNN-TD, mở rộng hạn mức cho vay thu mua tạm trữ thóc gạo cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Cho phép doanh nghiệp thế chấp bằng hợp đồng xuất khẩu và tài sản lúa gạo hình thành trong tương lai, phấn đấu hạ lãi suất vay thu mua xuống 1% đến 1,5% mỗi năm.

  • Chuẩn hóa vùng nguyên liệu và kiểm soát chất lượng: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp các địa phương chuyển đổi cơ cấu giống, nâng tỷ lệ gieo trồng giống lúa chất lượng cao và lúa thơm lên trên 75% diện tích canh tác. Kiểm soát nghiêm ngặt dư lượng thuốc bảo vệ thực vật nhằm đáp ứng Lệnh 248, 249 của Hải quan Trung Quốc và tiêu chuẩn HACCP, BRC của châu Âu trước năm 2025.

  • Xây dựng thương hiệu quốc gia và logistics chuyên dụng: Hiệp hội Lương thực Việt Nam cùng cộng đồng doanh nghiệp đẩy mạnh gắn nhãn chứng nhận quốc gia Gạo Việt Nam, thành lập văn phòng xúc tiến thương mại tại các thị trường trọng điểm. Đầu tư nâng cấp hệ thống kho chứa silo hiện đại tại các cảng sông Đồng bằng sông Cửu Long nhằm giảm 15% tổn thất sau thu hoạch và hạ chi phí logistics vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cán bộ tại Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có thể sử dụng dữ liệu thực chứng 6,15 triệu tấn gạo và 3,27 tỷ USD kim ngạch để xây dựng kịch bản điều hành thị trường và đàm phán mở rộng hạn ngạch thuế quan trong các hiệp định thương mại.

  • Ban lãnh đạo doanh nghiệp xuất khẩu lúa gạo: Các giám đốc điều hành và quản lý xuất nhập khẩu có thể áp dụng bài học kinh nghiệm từ mô hình liên kết cánh đồng lớn của Công ty Trung An và phương thức vận tải hàng rời của Tập đoàn Lộc Trời để tái cấu trúc chuỗi cung ứng nội bộ.

  • Tổ chức tín dụng và quỹ đầu tư nông nghiệp: Các chuyên viên thẩm định tín dụng ngân hàng có thêm căn cứ đánh giá rủi ro tài chính, thẩm định dòng tiền chuỗi cung ứng lúa gạo và xây dựng các gói tài trợ thương mại phù hợp với chu kỳ mùa vụ.

  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Giới học thuật thuộc các khối ngành Kinh tế quốc tế, Quản lý chuỗi cung ứng và Kinh doanh thương mại có thể khai thác mô hình nghiên cứu, hệ thống dữ liệu so sánh năng suất và lý thuyết xuất khẩu để phát triển các công trình nghiên cứu mở rộng.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao năm 2021 diện tích gieo trồng lúa giảm nhưng sản lượng và kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng trưởng? Mặc dù diện tích gieo cấy giảm 38,3 nghìn ha xuống còn 7,24 triệu ha, năng suất bình quân đã tăng 1,8 tạ/ha lên 60,6 tạ/ha, giúp sản lượng lúa tăng thêm 1,1 triệu tấn. Đồng thời, việc chuyển hướng sang gạo thơm chất lượng cao đã đẩy giá xuất khẩu bình quân tăng 8% lên 530 USD/tấn, đưa tổng kim ngạch đạt 3,27 tỷ USD.

Hiệp định EVFTA đã tác động cụ thể như thế nào đến giá gạo xuất khẩu của Việt Nam? Hiệp định EVFTA tạo điều kiện cho các dòng gạo thơm chất lượng cao tiếp cận thị trường châu Âu với thuế suất ưu đãi theo hạn ngạch. Nhờ đó, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực này tăng thêm từ 10 đến 20 USD/tấn tùy chủng loại, giúp doanh nghiệp Việt Nam xác lập mức giá cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.

Các doanh nghiệp xuất khẩu gạo đã đối phó ra sao với tình trạng khủng hoảng cước vận tải biển? Trước áp lực cước container tăng cao và thiếu vỏ rỗng trong năm 2021, các doanh nghiệp tiên phong đã chủ động chuyển đổi sang hình thức thuê tàu biển chở hàng rời. Điển hình như lô hàng 4.170 tấn gạo thơm của Tập đoàn Lộc Trời xuất sang châu Âu đã tối ưu hóa được chi phí logistics và đảm bảo đúng tiến độ giao hàng.

Nguyên nhân chính dẫn đến sự phân hóa lợi nhuận giữa các doanh nghiệp gạo trong năm 2021 là gì? Sự phân hóa xuất phát từ năng lực kiểm soát chuỗi giá trị và vùng nguyên liệu. Các doanh nghiệp sở hữu cánh đồng lớn và kiểm soát tốt chất lượng như Công ty Trung An đạt lợi nhuận tăng trưởng 570% trong quý IV. Ngược lại, những doanh nghiệp phụ thuộc vào thu mua trung gian và gánh nặng nợ vay ngắn hạn như Vinafood II đã chịu thua lỗ nặng.

Lệnh 248 và 249 của thị trường Trung Quốc đặt ra yêu cầu gì đối với gạo Việt Nam từ đầu năm 2022? Hai quy định này siết chặt công tác đăng ký doanh nghiệp sản xuất thực phẩm nước ngoài và quản lý an toàn thực phẩm nhập khẩu. Doanh nghiệp Việt Nam bắt buộc phải minh bạch toàn bộ quy trình canh tác, truy xuất nguồn gốc vùng trồng, kiểm soát dư lượng hóa chất và đáp ứng quy chuẩn đóng gói bao bì đồng bộ.

Kết luận

  • Sản xuất lúa gạo năm 2021 khẳng định bước tiến vượt bậc về năng suất với 43,88 triệu tấn lúa, bù đắp hiệu quả cho sự sụt giảm 38,3 nghìn ha diện tích gieo cấy.
  • Kim ngạch xuất khẩu đạt mốc 3,27 tỷ USD với 6,15 triệu tấn gạo, ghi nhận mức giá xuất khẩu bình quân ấn tượng 530 USD/tấn, tăng 8% so với năm 2020.
  • Mô hình liên kết chuỗi giá trị khép kín và chủ động vùng nguyên liệu là yếu tố then chốt quyết định khả năng sinh lời và sức chống chịu rủi ro của doanh nghiệp.
  • Việc tận dụng triệt để các ưu đãi thuế quan từ Hiệp định EVFTA và RCEP tạo động lực trực tiếp nâng cao biên độ giá trị cho các dòng gạo thơm đặc sản.
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của nghiên cứu là xác lập hệ thống giải pháp liên ngành giữa cơ quan quản lý nhà nước, ngân hàng thương mại và doanh nghiệp xuất khẩu.

Trong giai đoạn 2022 - 2025, ngành lúa gạo Việt Nam cần khẩn trương đẩy mạnh số hóa chuỗi cung ứng, hoàn thiện hệ thống logistics chuyên dụng và phát triển thương hiệu quốc gia Gạo Việt Nam. Các nhà quản trị và các đơn vị nghiên cứu quan tâm có thể tiếp cận trọn vẹn báo cáo luận văn để ứng dụng những mô hình phân tích định lượng vào hoạt động thực tiễn.