Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Những khái niệm liên quan Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về rau an toàn. Theo Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn 1998 thì những sản phẩm rau tươi có chất lượng giống như đặc tính giống của nó, hàm lượng các hóa chất độc hại và mức độ nhiễm vi sinh vật gây hại dưới mức tiêu chuẩn cho phép và bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường thì được gọi là rau đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm gọi tắt là rau an toàn Theo thông tư 59 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Rau, quả an toàn là sản phẩm rau, quả tươi được sản xuất, sơ chế, chế biến phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm hoặc phù hợp với quy trình kỹ thuật sản xuất, sơ chế rau, quả an toàn được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt hoặc phù hợp với các quy định liên quan đến đảm bảo an toàn thực phẩm có trong quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tươi an toàn VietGAP, các tiêu chuẩn GAP khác và mẫu điển hình đạt các chỉ tiêu an toàn thực phẩm theo quy định [2].
Rau an toàn là rau khi sản xuất vẫn sử dụng phân hoá học và các hoá chất BVTV, song có giới hạn. Chất lượng rau sản xuất ra có các tiêu chuẩn về: dư lượng thuốc BVTV; gốc nitrat và các yếu tố độc hại gây bệnh khác trong rau nằm trong giới hạn tiêu chuẩn cho phép, đảm bảo vệ sinh và an toàn sức khoẻ cho người tiêu dùng. Căn cứ theo quyết định số 04/2007/QĐ - BNN, ngày 19/01/2007 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc ban hành “ Quy định về quản lý sản xuất và chứng nhận rau an toàn” [3] khái niệm RAT được hiểu như sau: “Là sản phẩm rau tươi đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng về hàm lượng kim loại nặng, hàm lượng Nitrat (NO3), vi sinh vật, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật e 5 (BVTV) theo quy định hiện hành của nhà nước (tại quyết định số 99/2008/QĐ - BNN ngày 15/10/2008 của Bộ NN&PTNT); được sản xuất, sơ chế theo quy trình sản xuất, sơ chế RAT; tiến tới sản xuất, sơ chế theo quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả tươi Việt Nam (VietGAP)”. *Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả tươi Việt Nam gọi tắt là VietGAP (Vietnames Good Agricultural Practices): Là những nguyên tắc trình tự, thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, sơ chế đảm bảo an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và nguồn gốc sản phẩm.
*Ngưỡng an toàn: Là mức giới hạn tối đa cho phép của dư lượng hóa chất độc hại (kim loại nặng, nitrat, thuốc Bảo vệ thực vật, các chất điều hòa sinh trưởng), các vi sinh vật có hại được phép tồn tại trên rau mà không ảnh hưởng đến sức khỏe con người theo Quy định hiện hành của Bộ Y tế. Tóm lại: Rau an toàn phải đảm bảo các yêu cầu sau: Không chứa dư lượng thuốc sâu quá mức cho phép. Không chứa lượng nitrat quá mức cho phép. Không chứa các vi khuẩn và kí sinh trùng gây bệnh cho người và gia súc, gia cầm (kể cả ăn sống và nấu chín ngay khi ăn và cả một thời gian sau khi ăn).
Không tồn dư một số kim loại nặng như: Thuỷ ngân (Hg), chì (Pb). quá ngưỡng cho phép. Tiêu chuẩn rau an toàn Theo Quyết định số 106/2007/QĐ - BNN ngày 28 tháng 12 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) [4] sản phẩm rau được hiểu là an toàn khi đáp ứng được các yêu cầu sau: 1. Chỉ tiêu về hình thái Chỉ tiêu hình thái tức là xét ở khía cạnh sạch, hấp dẫn về hình thức: sản phẩm rau phải tươi, sạch bụi bẩn, không lẫn các tạp chất, thu đúng độ chín - e 6 khi có chất lượng cao nhất, không có triệu chứng bệnh, có bao bì bảo quản vệ sinh hấp dẫn.
Chỉ tiêu về nội chất Chỉ tiêu nội chất tức là xét về khía cạnh sạch, an toàn về chất lượng: Khi sản phẩm rau không chứa các dư lượng vượt quá ngưỡng cho phép của tiêu chuẩn vệ sinh y tế của Việt Nam và các tổ chức quốc tế như tiêu chuẩn của tổ chức nông lương Liên Hợp Quốc (FAO), Tổ chức Y Tế Thế giới (WHO) hoặc của một số nước tiên tiến như: Nga, Mỹ. Chỉ tiêu nội chất được quy định cho rau tươi bao gồm : - Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. - Dư lượng đạm Nitrat(NO3). - Dư lượng kim loại nặng(chì, thủy ngân, asenic, kẽm, đồng…).
- Số lượng vi sinh vật và kí sinh trùng gây hại. Trong đó yêu cầu (2) hoàn toàn phụ thuộc vào môi trường canh tác và kỹ thuật trồng trọt, nó là yếu tố quyết định rau sạch hay rau bị ô nhiễm. Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật Thuốc BVTV hay nông dược là những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hoá chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật. Khi phun thuốc BVTV, có một phần lượng thuốc bám lại trên bề mặt cây rau gọi là dư lượng thuốc.
Lượng thuốc tồn dư này ở một mức độ nhất định sẽ gây ngộ độc cho người ăn. Người bị ngộ độc có thể sẽ gánh chịu những hậu quả nặng nề trước mắt hoặc lâu dài tuỳ thuộc vào nồng độ và loại độc tố tích luỹ trong cơ thể. Theo Trần Khắc Thi, hiện nay, Việt Nam sử dụng khoảng 270 loại thuốc trừ sâu, 216 loại thuốc trừ bệnh, 160 loại thuốc trừ cỏ, 12 loại thuốc diệt chuột và 22 loại thuốc kích thích sinh trưởng với khối lượng ngày càng tăng. Khi phun thuốc trừ sâu, trừ bệnh, trừ cỏ dại… thuốc sẽ tạo thành lớp mỏng e 7 trên bề mặt của lá, quả, thân cây, mặt đất, mặt nước (Trần Khắc Thi và cộng sự 2008) [15].
Theo Bùi Bảo Hoàn, rau có nhiều chủng loại, do vậy sâu hại cũng đa dạng, thông thường sâu bệnh làm giảm năng suất từ 10 - 40% đôi khi còn tới 100% nếu có dịch hại nên nông dân Việt Nam thường sử dụng quá nhiều (0,4 - 0,5 kg a.i là lượng hữu cơ hữu hiệu) trong khi đó liều lượng cho phép không quá 0.i để phun cho rau do Do thói quen sợ rủi ro, ít hiểu biết về mức độ độc hại của các loại hoá chất BVTV. Một số nguyên nhân quan trọng khác nữa là khoảng cách thời gian cách ly giữa lần phun thuốc cuối cùng tới lúc thu hoạch không tuân thủ nghiêm ngặt, đặc biệt là các loại rau thu hoạch liên tục như cà chua, đậu cô ve, dưa chuột. Ngoài ra nông dân còn sử dụng nhiều loại thuốc trừ sâu có độc tố cao (nhóm I, II) để bảo quản hạt giống các loại rau hay bị sâu mọt như hạt mùi, tía tô, rau dền, rau muống. Biện pháp hữu hiệu và đơn giản nhất để làm cho hàm lượng thuốc BVTV trong rau thấp hơn mức cho phép là áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp và sử dụng thuốc hoá học một cách hợp lý nhất.
* Hàm lượng nitrat tồn dư trong rau (NO3-) Đạm là thành phần hữu cơ quan trọng cho rau. Khi đất trồng có quá nhiều đạm thì lượng đạm dư thừa sẽ tích luỹ trong rau dưới dạng Nitrat (NO3- ). Khi đi vào cơ thể con người NO3- sẽ bị khử thành NO2, NO2 làm chuyển hoá chất Oxyhemoglobin (chất vận chuyển oxy trong máu) thành một chất không hoạt động được gọi là methahemoglobin, làm cho máu thiếu oxy. Trong cơ thể, lượng nitrat ở mức cao sẽ gây phản ứng với anmin thành chất gây ung thư gọi là nitrosamin.
Có thể nói hàm lượng nitrat vượt ngưỡng là triệu chứng nguy hiểm cho sức khoẻ con người [13]. Tổ chức Y Tế Thế Giới WHO và cộng đồng Y tế châu Âu (EC) giới hạn lượng nitrat trong nước uống là 50mg/lít. Trẻ em thường xuyên uống nước có hàm lượng nitrat cao hơn 45 mg/lít sẽ bị rối loạn trao đổi chất, giảm e 8 khả năng kháng bệnh. Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo hàm lượng nitrat trong rau không vượt quá 300 mg/kg rau tươi.
Hiện nay các loại rau bán trên thị trường hiện nay có thể chia ra làm 3 nhóm chính: Nhóm I: Có tồn dư NO3 rất cao ≤ 1200 mg/kg rau tươi gồm cải xanh, cải cúc, cải bẹ, rau dền, rau day, cải đắng; - Nhóm II: Có tồn dư NO3 từ 600 - 1200 mg/kg rau tươi gồm: cải bắp, cải củ, mồng tơi, xà lách, rau cải ngọt, su hào, mướp, bầu bí và các loại rau gia vị; - Nhóm III: Là loại rau tồn dư N03 ≤ 600 mg/kg rau tươi gồm: hành, rau muống, cải xoong, bí đỏ, dưa chuột, cà rốt (Trần Khắc Thi và Cộng sự, 2005) [16]. * Hàm lượng một số kim loại nặng chủ yếu Đặc tính của kim loại nặng là không thể tự phân huỷ được nên có sự tích luỹ trong dây truyền thức ăn của hệ sinh thái. Các kim loại nặng như asen, chì, thuỷ ngân. nếu vượt quá cho phép cũng là những chất có hại cho cơ thể, hạn chế sự phát triển của các tế bào và hoạt động của máu, gây thiếu máu, biến động thân nhiệt, rối loạn tiêu hoá.
Nguyên nhân chính làm hàm lượng kim loại nặng trong rau tăng chủ yếu do trong thuốc BVTV và phân bón NPK có chứa một số kim loại nặng. Trong quá trình tưới tiêu, các kim loại nặng này bị rửa trôi xuống ao hồ, sông rạch, thâm nhập vào mạch nước ngầm và gây ô nhiễm nguồn nước tưới rau. Mặt khác, nguồn nước thải của các thành phố và các khu công nghiệp chứa nhiều kim loại nặng cũng được chuyển trực tiếp vào rau tươi. Biện pháp khắc phục hiệu quả nhất là khuyến cáo tuyệt đối không sản xuất rau ở khu vực có chất thải của các nhà máy, khu công nghiệp, các khu vực đất đã bị ô nhiễm do quá trình sản xuất trước đó gây ra.
Tuyệt đối không sử dụng nước gần khu công nghiệp, các nhà máy để tưới. * Mức độ ô nhiễm do sử dụng nước tưới không sạch Các sản phẩm rau đều chứa một lượng nước rất lớn song nếu sử dụng nguồn nước không sạch thì sẽ gây góp phần gây ô nhiễm. Nước có thể gây ô e 9 nhiễm cho sản phẩm bằng hai cách: * Các kim loại nặng có sẵn trong đất hay nguồn nước thải từ thành phố khu công nghiệp được cây hấp thụ và tích luỹ dần vào sản phẩm.