Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về hộ và kinh tế nông hộ Trong một số từ điển ngôn ngữ học cũng như một số từ điển chuyên ngành kinh tế, người ta định nghĩa về "hộ" như sau: "Hộ là những người cùng chung trong một ngôi nhà, nhóm người đó có chung huyết tộc và là những người làm chung, ăn chung". Về phương diện thống kê, Liên hợp quốc cho rằng: "Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung, cùng làm chung và có chung một ngôn ngữ" [27]. Tại cuộc hội thảo Quốc tế về quản lý trang trại tại Hà Lan, các đại biểu nhất trí rằng: "Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác" [23].
Trong nghiên cứu "Quá trình đô thị hoá" ở các nước châu Á, giáo sư MC. Gee và các đồng nghiệp đã lưu ý thêm rằng: các thành viên của hộ không nhất thiết phải sống cùng nhà, họ có thể sống khá xa gia đình, nhưng đóng góp vào phần thu nhập của hộ thì họ được coi là một thành viên của hộ. Tuy nhiên đây chỉ là ý kiến thiên về khía cạnh nguồn thu nhập của hộ. Nhìn từ góc độ khác, các tác giả lại có quan điểm về hộ như sau: Harris (1989) ở viện nghiên cứu phát triển trường Đại học Tổng hợp Susex (London, Anh) cho rằng: "Hộ là đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động"[21].
Nhóm các học giả lý thuyết phát triển cho rằng: "Hộ là một hệ thống các nguồn lực tạo thành một nhóm các chế độ kinh tế riêng nhưng lại có quan hệ chặt chẽ phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn"[6]. Trên góc độ này, các đại biểu thuộc trường phái "Hệ thống thế giới" (các đại biểu Wallerstan (1982), Wood (1981, 1982), Smith (1985), Martin và Bellhel (1987) cho rằng: "Hộ là một nhóm người có chung sở hữu, chung quyền lợi trong mọi hoàn cảnh. Hộ là một đơn vị kinh tế giống như các công ty, xí nghiệp khác". c 5 Nhóm các nhà nhân chủng học Waller (1982), Wood (1982) cho rằng: "Hộ là một đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất lao động tiếp theo trong quá trình tổ chức nguồn thu nhập nhằm chi tiêu cho cá nhân và đầu tư cho sản xuất"[22].
Qua các quan điểm khác nhau về khái niệm "hộ" trên đây, thấy rằng có một số điểm cần chú ý khi phân định hộ: - Hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc hay không cùng chung huyết tộc. - Hộ cùng sống chung hay không cùng sống chung trong một mái nhà. - Có chung một nguồn thu nhập và ăn chung. - Cùng tiến hành sản xuất kinh doanh.
Frank Ellis trường Đại học Tổng hợp Cambridge (1988) cho rằng: "Kinh tế nông hộ khác với những người làm kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường ở bốn yếu tố: đất đai, lao động, vốn và sự tiêu dùng. Hộ là cơ sở hoạt động của xã hội, giúp cho các tổ chức xác định, đánh giá kinh tế, cùng chung một nguồn vốn, các thành viên cùng sống dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập, mọi quyết định đều dựa trên những thành viên, kinh tế nông hộ là một tổ chức kinh tế của nền kinh tế xã hội. Các nguồn lực như đất đai, tư liệu sản xuất, lao động, vốn được đóng chung; chung một ngân sách, ngủ chung một mái nhà; ăn chung; mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống đều do chủ hộ phát ra"[25]. Mác và Anghen (1962) cho rằng: Kinh tế nông hộ vốn bị hạn chế nên cần được cải tạo thì nó mới có thể phát triển nông nghiệp lên trình độ xã hội hoá ngày càng cao.
Do đó, lúc đầu các ông dự đoán kinh tế nông hộ sẽ hoàn toàn bị xoá bỏ trong điều kiện phát triển công nghiệp. Sau này, với thực tế phát triển kinh tế ở Anh và các nước tư bản khác, Mác đã thấy rằng: Phát triển nông nghiệp không giống như phát triển công nghiệp, kinh tế nông trại gia đình tỏ ra là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp có hiệu quả và "Nông nghiệp hợp lý mâu thuẫn với phát triển kinh doanh chủ nghĩa tư bản"[26]. Traianov đã cho rằng: Hình thức kinh tế nông hộ có khả năng thích ứng và tồn tại trong mọi hình thức sản xuất và ông chú ý đến đặc tính sinh học của cây trồng, vật nuôi cũng như các đặc điểm khác của sản xuất nông nghiệp để hướng tới một sự hợp tác không phải "Vô chủ hoá" hoặc "Tạp chủ hoá" trong nông nghiệp. c 6 Từ những quan điểm trên đây cho thấy: Kinh tế nông hộ là một hình thức kinh tế cơ bản có hiệu quả và tự chủ trong nông nghiệp, được hình thành và tồn tại khách quan, lâu dài, dựa trên cơ sở sức lao động, đất đai và tư liệu sản xuất của gia đình mình là chính.
Kinh tế nông hộ là hình thức kinh tế cơ bản có hiệu quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, tồn tại, thích ứng và phát triển trong mọi hình thức kinh tế xã hội. Cho đến nay, nhiều học giả đều nhận thấy rằng kinh tế nông hộ không giống như các hình thức kinh tế khác vì: - Là loại hình kinh tế thích nghi, có lợi thế cũng như những hạn chế bởi các yếu tố đất đai, lao động, tiền vốn và thái độ tiêu dùng của chủ hộ. - Là đơn vị kinh tế cơ sở vừa sản xuất, vừa tiêu dùng, có sự thống nhất giữa đơn vị kinh tế và đơn vị xã hội. Do đó, nó thực hiện được đồng thời nhiều chức năng mà đơn vị kinh tế khác không có được.
Kinh tế nông hộ có khả năng tự điều chỉnh rất cao trong mối quan hệ sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng. - Là tế bào xã hội mang tính chất đặc thù với điều kiện tự nhiên - kinh tế mỗi nước và mỗi khu vực trên thế giới, phát triển từ thấp đến cao. - Kinh tế nông hộ tuy là đơn vị kinh tế độc lập nhưng không đối lập với kinh tế hợp tác và kinh tế nhà nước. Ở nước ta hiện nay, kinh tế nông hộ là một khái niệm chung để chỉ các loại nông hộ có trình độ sản xuất khác nhau từ tự cung, tự cấp đến sản xuất hàng hoá.
Kinh tế nông hộ đã có tác dụng to lớn để thúc đẩy nông nghiệp và nông thôn nước ta phát triển. Tuy nhiên, nông hộ là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua sự hoạt động của nông hộ. Vì vậy, chúng tôi thống nhất khái niệm về nông hộ như sau: "Hộ nông dân là những hộ có phương tiện kiếm sống dựa trên ruộng đất, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình, trong sản xuất nông hộ luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng lớn hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị trường, hoạt động với mức độ hoàn hảo không cao" (Ellis 1988) [12].
c 7 Tóm lại: Kinh tế nông hộ là một thực thể lâu dài, là sự ra đời của một chủ thể kinh tế ở nông thôn. Trong một thời gian dài, kinh tế nông hộ có tác động to lớn đối với sự phát triển kinh tế của xã hội. Từ những khái niệm trên đây chúng tôi thống nhất những vấn đề kinh tế cơ bản của nông hộ đó là: - Nông hộ là đơn vị hoạt động của xã hội, làm cơ sở cho phân tích kinh tế nông hộ và nông thôn. - Các nguồn lực (đất đai, vốn sản xuất, tư liệu sản xuất, sức lao động) được góp thành một nguồn vốn chung của mọi thành viên trong gia đình, cùng chung một ngôn ngữ.
- Cùng sống chung dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn tuổi trong gia đình. Đặc trưng của kinh tế nông hộ Trong thời kỳ bao cấp, chúng ta chủ yếu thừa nhận 2 thành phần kinh tế cơ bản trong nền kinh tế, đó là kinh tế quốc doanh, sau này gọi là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Từ Đại hội VI đến nay, Đảng quyết định chuyển từ cơ chế kinh tế bao cấp sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN, thừa nhận nền kinh tế gồm nhiều thành phần kinh tế. Cùng với kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, chúng ta từng bước thừa nhận kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài… Trong thời kỳ bao cấp, chúng ta chủ yếu thừa nhận 2 thành phần kinh tế cơ bản trong nền kinh tế, đó là kinh tế quốc doanh, sau này gọi là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể.
Từ Đại hội VI đến nay, Đảng quyết định chuyển từ cơ chế kinh tế bao cấp sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN, thừa nhận nền kinh tế gồm nhiều thành phần kinh tế. Cùng với kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, chúng ta từng bước thừa nhận kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài… Kinh tế nông hộ là hình thức kinh tế rất đa dạng ở mỗi quốc gia, mỗi vùng và mỗi địa phương. Vì vậy, để chọn hướng đi đúng đắn cho nó thì chúng ta phải hiểu được những đặc trưng sau đây của thành phần kinh tế này: c 8 1. Có sự thống nhất về lợi ích trong nông hộ Đây là đặc trưng bao trùm nhất của kinh tế nông hộ.
Bởi vì, mọi thành viên trong nông hộ đều làm việc với tính tự giác cao, tự chủ, tự nguyện và đều phấn đấu hết sức mình cho lợi ích kinh tế của bản thân, của gia đình và xã hội. Song lợi ích kinh tế không những phụ thuộc vào sự thống nhất hành động các thành viên trong gia đình, mà còn phụ thuộc vào môi trường kinh tế ở mỗi quốc gia, vấn đề huy động các nguồn lực (đất đai, tư liệu sản xuất và lao động). - Về động cơ hành động: Đó là những đạo luật, chính sách của Nhà nước nhằm đảm bảo cho việc huy động các nguồn lực có thuận lợi hay không.Việc huy động các nguồn lực do các chủ hộ liên kết với nhau và do đạo luật, chính sách của mỗi quốc gia quy định.