MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nghèo đói là một vấn đề mang tính chất toàn cầu luôn tồn tại trong xã hội. Nghèo đói làm cho nền kinh tế chậm phát triển, giải quyết vấn đề nghèo đói là động lực để phát triển kinh tế xã hội. Ngay cả những nước phát triển cao cũng có tình trạng nghèo đói và chênh lệch giàu nghèo ngày càng trở nên cách biệt.
Sau gần 30 năm đổi mới cơ chế quản lý, Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - an ninh - quốc phòng. Nền kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh chóng, đời sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, ảnh hưởng của quá trình phát triển kinh tế xã hội không đồng đều đến tất cả các vùng, các nhóm dân cư. Vì vậy, một bộ phận dân cư do các nguyên nhân khác nhau chưa bắt kịp với sự thay đổi, gặp những khó khăn trong đời sống, sản xuất và trở thành người nghèo.
Xác định rõ tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội và môi trường, để thực hiện thành công mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020, Đảng và Nhà nước ta cần làm là đưa nước ta thoát khỏi nước nghèo và kém phát triển.Vậy vấn đề xóa đói giảm nghèo (XĐGN) là một chủ trương lớn, là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế -xã hội. Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, trong đó lao động đang làm việc trong nông thôn chiếm gần 70%, làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm 51%, tỉ lệ đói nghèo còn cao nhưng phân bố không đều giữa các vùng, miền. Nhưng bất kì nơi nào từ thành phố đến nông thôn, đồng bằng đến miền núi, vùng sâu vùng xa vẫn tồn tại các hộ nghèo, người nghèo, xã nghèo. Chính vì vậy trong quá trình xây dựng và đổi mới Đảng và Nhà n 2 nước ta luôn đặt mục tiêu xóa đói giảm nghèo lên hàng đầu, góp phần đem lại hiệu quả thiết thực cho người nghèo ổn định thu nhập, nâng cao chất lượng đời sống và tạo mọi điều kiện để đáp ứng đầy đủ nhu cầu và nguyện vọng của người nghèo, để cho người nghèo có cơ hội và điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội, phát triển sản xuất và tự vươn lên thoát nghèo nhằm hướng đến mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Xoá đói, giảm nghèo là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, một số số hộ nông dân trở thành hộ giàu có, thu nhập và đời sống tăng lên rõ rệt. Ở những vùng khác nhau đã có những ông chủ trang trại, chủ trại rừng. Bên cạnh một số hộ giàu và khá giả trong nông thôn hiện nay, đại bộ phận kinh tế hộ nông dân còn thuộc diện trung bình và nghèo.
Đặc biệt là ở vùng nông thôn và miền núi. Trong những năm qua được sự chỉ đạo của cấp Đảng ủy và chính quyền địa phương, sự nỗ lực của toàn thể quần chúng, phong trào xoá đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng được phát triển sâu rộng đã giúp cho nhiều hộ vượt qua đói nghèo và vươn lên khá giả, một số nơi đã thanh toán được nạn đói kinh niên. Chủ trương chính sách của Đảng ta là: Xoá đói giảm nghèo đi đôi với khuyến khích làm giàu hợp pháp, thu hẹp dần khoảng cách thu nhập giữa các vùng và các tầng lớp dân cư. Huyện Sơn Dương là một huyện còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế và xã hội.
Trong đó xã Minh Thanh là một xã nghèo của huyện, cùng hưởng ứng các chương trình, chính sách của Đảng và Nhà nước về xóa đói giảm nghèo. Nhân dân và chính quyền huyện Sơn Dương nói chung và xã Minh Thanh nói riêng cùng tiến hành thực hiện các chương trình 135, 134 và 167 của Thủ tưởng Chính phủ thành công. Đảng bộ địa phương phân công giao cho các ban ngành thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, đồng thời đẩy mạnh phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu. Đây là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên và lâu dài.
Làm tốt n 3 công tác xoá đói, giảm nghèo sẽ góp phần đem lại sự công bằng xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên nên trong quá trình thực tập tại xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang em đã chọn đề tài nghiên cứu của mình: “Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế cho hộ nghèo tại địa bàn xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang”, làm đề tài thực tập tốt nghiệp. Nhằm đánh giá đúng đắn thực trạng đói nghèo, tìm ra nguyên nhân và đề ra những biện pháp thiết thực để từng bước góp phần xoá đói, giảm nghèo ở địa phương mình một cách hiệu quả. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1.Mục tiêu chung Xác định những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển kinh tế của hộ nghèo nói riêng và người dân trong xã nói chung, tìm ra nguyên nhân dẫn đến nghèo và tái nghèo là gì.
Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế cho hộ nông dân trên địa bàn xã. Mục tiêu cụ thể Tìm hiểu thực trạng nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo tại xã Minh Thanh-Sơn Dương-Tuyên Quang. Đánh giá hiệu quả của công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn xã Minh Thanh-Sơn Dương-Tuyên Quang. Đề xuất các giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo tại xã Minh Thanh-Sơn Dương-Tuyên Quang.
Mục đích nghiên cứu của đề tài Dựa trên những vấn đề lý luận và phương pháp luận để xem xét đánh giá vấn đề nghèo đói của các hộ dân nghèo ở nông thôn, phân tích và đánh giá thực trạng nghèo đói ở vùng nông thôn và những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế cho các hộ nông dân nghèo tỉnh Tuyên Quang. n 4 Nghiên cứu tình hình sản xuất, thu nhập và đời sống của nhóm hộ nông dân nghèo thông qua việc kiểm tra khảo sát các mô hình kinh tế hộ nông dân trong cơ chế quản lý mới. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập Đề tài là kết quả của sự phân tích tổng hợp tìm tòi học tập giúp cho sinh viên: - Bổ xung các kiến thức về nghèo đói đã được học trong nhà trường. - Bổ xung những kiến thức về xác định thực trạng và nguyên nhân đói nghèo. - Giúp sinh viên được tiếp cận với thực tế, nâng cao kiến thức cho bản thân. - Có cái nhìn tổng thể về thực trạng nghèo đói của người dân trên địa bàn nghiên cứu.
- Trang bị thêm kinh nghiêm thực tế cho bản thân khi ra công tác. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài có thể là cơ sở để có những định hướng giải pháp nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo cho địa phương. Đối với công tác xóa nghèo của địa phương. Thông qua đề tài các lãnh đạo địa phương có thể nhìn nhận rõ hơn về nguyện vọng và khó khăn của người dân, đặc biệt là người nghèo.
Từ đó sẽ giúp cho công tác xóa nghèo tại địa phương đạt hiệu quả cao nhất. n 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2. Lý luận về đói nghèo 2.
Khái niệm về đói nghèo a. Khái niệm về người nghèo Người nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương. Nghèo là một cuộc sống thiếu về vật chất hay tinh thần, tiêu dùng hàng ngày, trình độ giáo dục y tế thấp, dễ bị tổn thương và rủi ro cao, không có quyền và tiếng nói nhiều trong xã hội. Vì thế xóa đói giảm nghèo được định nghĩa là làm giảm đi những thiếu thốn đó trong cuộc sống.
Nghèo được diễn tả là sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn nhất định. Thước đo tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo thay đổi theo từng địa phương và theo thời gian. Tổ chức y tế thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập. Theo đó một người nghèo là người có thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm của quốc gia đó.
Tóm lại nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương. Khái niệm về hộ nghèo Hộ Nghèo là tình trạng một số hộ gia đình chỉ thỏa mãn một phần tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng, xét trên mọi phương diện. Nghèo được chia thành các mức khác nhau: Nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối hoặc nghèo có nhu cầu tối thiểu. Nghèo tuyệt đối : Theo ngân hàng thế giới “Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở danh giới ngoài cùng của tồn tại.
Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê, mất phẩm cách vượt qua sức tưởng tượng ”. Ngân hàng thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với đô la thế giới để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn cho nạn nghèo tuyệt đối. Bước tiếp đưa ra mức ranh giới nghèo (chuẩn nghèo) cho từng địa phương, từng khu vực. Được xác định từ 2 đôla/ người/ngày cho châu Mỹ La Tinh và từ 3 - 4 đôla/người/ngày là cho những vùng Đông Âu, cho đến 14 đôla/người/ngày cho những nước công nghiệp.
Nghèo tương đối : Nghèo tương đối có thể xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự đáp ứng đầy đủ của xã hội đó. Nghèo tương đối có thể coi là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối.