CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHÔNG GIAN THƯ VIỆN ĐẠI HỌC 1. Các khái niệm Không gian Thư viện Từ điển tiếng Việt có định nghĩa “không gian là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất với những đặc tính vật lý như dài, ngắn, lớn, bé, cao, thấp…” [31, tr. Trong tiêu chuẩn của IFLA (IFLA Library buiding guidelines: development and reflectons) “Không gian thư viện không chỉ là nơi truy cập thông tin để học tập, nghiên cứu mà còn là nơi NSDTV gặp gỡ, hội họp, tham gia các hoạt động cùng nhau và chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau” [51, tr. Theo Hiệp hội thư viện Mỹ, “không gian thư viện là nơi NSDTV tương tác với các ý tưởng vật thể và trừu tượng để mở rộng việc học tập nghiên cứu, tạo điều kiện cho sự sáng tạo và tạo nên kiến thức mới” [37, tr.
Theo Phan Thị Kim Dung “thư viện được hình thành từ bốn yếu tố: trụ sở, vốn tài liệu, người sử dụng và NLCTTV. Nói tới không gian thư viện là nói tới việc tạo lập, bố trí sắp xếp không gian thích hợp cho bốn yếu tố trên. Bất kỳ thay đổi nào của bốn yếu tố này đều ảnh hưởng tới sự thay đổi của không gian thư viện”. Tác giả đề cập đến các tương tác giữa bốn yếu tố của thư viện tạo nên các mối quan hệ tác động qua lại, liên quan và ràng buộc lẫn nhau giữa các yếu tố này hình thành nên không gian thư viện.
Và trong thời đại công nghệ phát triển “Trụ sở thư viện không còn chỉ đơn thuần là các toà nhà trong một khuôn viên mà còn bao gồm cả “trụ sở ảo” trên mạng. Phương thức hoạt động thay đổi kéo theo trang thiết bị thay đổi và không gian cho chúng cũng thay đổi. Tác giả Nguyễn Ngọc Nguyên nhận định: “Không gian thư viện bao gồm: Kiến trúc, cảnh quan tòa nhà và thiết kế, bài trí nội thất thẩm mỹ, khoa học, hợp lý; Tổ chức các không gian phục vụ bạn đọc phù hợp, đáp ứng được nhu cầu của bạn đọc và điều kiện của thư viện; Tổ chức không gian làm việc” [12, tr. Như vậy tác giả đã nhấn mạnh yếu tố kiến trúc, cảnh quan và bài trí nội thất thẩm mỹ làm thu hút NSDTV đến với thư viện và tổ chức không gian làm việc của NLCTTV tăng hiệu quả của 14 công việc.
Dưới góc độ không gian ảo, tác giả Nguyễn Ngọc Anh cho rằng “Với các thư viện hiện đại, "không gian" không chỉ bao gồm toà nhà và khuôn viên thư viện, mà còn có "không gian ảo" trên mạng. Môi trường thân thiện trên mạng chính là giao diện thân thiện, dễ sử dụng, trong đó các dịch vụ tương tác giữa NSDTV và thư viện là đặc trưng cơ bản của thư viện 2. Không gian thư viện là môi trường tương tác, kết nối, thúc đẩy các thành phần của thư viện. Không gian thư viện hiện đại vừa được xem là một không gian cụ thể xác định bởi các tường rào và định hình vật lý bởi các tòa nhà, các yếu tố thuộc về môi trường, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ, cảnh quan và cách bài trí nội thất và ngoại thất.
Không gian vừa là một khoảng không phi vật lý (không gian ảo) được mở rộng đến nơi mà thư viện có thể hướng tới. Không gian thư viện trong giới hạn nghiên cứu nội dung của đề tài này là không gian vật lý bên trong thư viện nhằm phục vụ tối đa cho nhu cầu của NSDTV. Thư viện đại học Từ điển ALA - Từ điển giải nghĩa thư viện học và tin học Anh - Việt có giải nghĩa về thuật ngữ University Library (Thư viện đại học) như sau: “Một thư viện hay một hệ thống thư viện, được đại học thành lập, hỗ trợ và quản trị để đáp ứng nhu cầu truy tìm thông tin của sinh viên, giáo sư và để hỗ trợ cho những chương trình giảng huấn và dịch vụ toàn trường” [22, tr. Thuật ngữ Thư viện đại học (Academic library) theo tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 5453:2009 ISO 5127:2001 Thông tin và Tư liệu đã định nghĩa “Thư viện đại học là Thư viện được thành lập và quản lý bởi các cơ quan giáo dục và nghiên cứu đại học”.
Định nghĩa này tiếp tục được viện dẫn trong TCVN 10274: 2013 Hoạt động Thư viện - Thuật ngữ và định nghĩa chung [19, tr. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Luật Thư viện 2019 thì nội dung này được quy định như sau: “Thư viện đại học là thư viện có tài nguyên thông tin phục vụ người học và người dạy trong cơ sở giáo dục đại học” [6, tr. Từ đó, ta có thể hiểu rằng Thư viện đại học là một bộ phận được thành lập và quản lý bởi các cơ quan giáo dục và nghiên cứu đại học với chức năng, nhiệm vụ đặc 15 thù nhằm phục vụ người học và người dạy trong cơ sở giáo dục đó. Thư viện hiện đại và không gian thư viện hiện đại Theo từ điển tiếng Việt thuật ngữ hiện đại được hiểu là thời đại ngày nay (đương thời) đối lập với cổ điển.
Hiện đại cần được hiểu gắn liền với đặc điểm của xã hội đương thời [33, tr. Nguyễn Văn Thiên trong luận án tiến sĩ “Quản lý Thư viện hiện đại tại Việt Nam” đã đề cập đến khái niệm thư viện hiện đại với những đặc trưng tiêu biểu như: - Là nơi tập trung các nguồn lực thông tin bao gồm những tài liệu có ứng dụng công nghệ mới, kết hợp với các tài liệu truyền thống. - Việc thu thập tổ chức thông tin ứng dụng công nghệ mới mang tính bền vững và đảm bảo thích ứng được với sự thay đổi nhanh chóng trên nhiều phương diện như công nghệ, nguồn lực thông tin, nhu cầu của người sử dụng thư viện… - Như một phần mở rộng của lớp học, thư viện phải tạo ra một môi trường giáo dục hỗ trợ việc học tập suốt đời thông qua việc cung cấp các dịch vụ hiện đại đáp ứng các mô hình học tập, giảng dạy và nghiên cứu. - Là một không gian liên kết nhiều thư viện, nơi tạo ra kiến thức mới và các dịch vụ mang tính tương tác cao giữa người sử dụng và thư viện.
Sự tương tác này thông qua không gian thực và cả không gian ảo. Nếu như Internet có xu hướng tách biệt người sử dụng thì thư viện hiện đại cần thực hiện điều ngược lại thông qua việc tạo lập ra không gian vật lý [24, tr. Tóm lại, không gian thư viện hiện đại bao gồm không gian vật lý và không gian ảo nhằm tạo ra một môi trường giáo dục hỗ trợ việc học tập, nghiên cứu của người sử dụng với hệ thống trang thiết bị, ứng dụng công nghệ thông tin và các dịch vụ mang tính tương tác cao. Tầm quan trọng của không gian thư viện đại học * Đối với người sử dụng thư viện Không gian đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp Thư viện thực hiện được nhiệm vụ lấy NSDTV làm trung tâm.
James K, Elmborg cho rằng không gian thư viện không chỉ là nơi cung cấp thông tin và còn là “không gian thứ ba” (third space). Không gian thứ ba là nơi NSDTV ngoài việc tiếp nhận tri thức còn là nơi giải 16 trí thực thụ, thụ hưởng các giá trị văn hóa. Nơi thứ ba ngoài nơi làm việc và nơi ở, là nơi trốn tránh những ồn ào bên ngoài [49]. NSDTV trong lớp học, môi trường làm việc hay ký túc xá, nơi ở thường bị gò bó trong một khuôn khổ không gian nhất định vì vậy chính Thư viện trở thành nơi định hình hành vi học tập và trợ giúp để họ đạt được mục tiêu học tập của mình.
Chính vì vậy tổ chức và thiết kế không gian thư viện có ảnh hưởng mạnh mẽ đến cảm xúc, năng suất làm việc và ý thức cộng đồng. Không gian cần được tổ chức và thiết kế tốt, phù hợp với sự đa dạng các hoạt động mà NSDTV muốn tham gia trong môi trường học tập Thư viện trong thời đại công nghệ thay đổi nhanh chóng, sử dụng truyền thông xã hội và áp dụng nhiều phương pháp học tập khác nhau. NSDTV ngày nay có thể chọn một loạt các hoạt động để thiết lập cuộc sống hàng ngày cho phù hợp với nhu cầu và sở thích của họ. Từ những hoạt động độc lập, theo nhóm đến tham gia vào các sự kiện lớn của cộng đồng.
Để hỗ trợ công việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và khám phá kiến thức của NSDTV, thư viện cần phải là một phần của các hoạt động này bằng cách cung cấp một loạt các dịch vụ, hoạt động và chương trình. Tạo hiệu quả không gian thư viện trở thành nơi NSDTV gặt hái được nhiều lợi ích nhất là một mục tiêu quan trọng của Thư viện [40]. Freeman, người có nhiều nghiên cứu và sản phẩm khoa học liên quan đến không gian Thư viện, Ông nhận định rằng Thư viện là nơi duy nhất tập trung thông tin mới và công nghệ có thể được kết hợp với kiến thức truyền thống tài nguyên tập trung vào người dùng, môi trường giàu dịch vụ hỗ trợ xã hội, mô hình giáo dục học tập, giảng dạy, nghiên cứu và hiện nay giảng viên mong đợi sinh viên của họ sử dụng thời gian của mình trong thư viện suy nghĩ phân tích, thay vì chỉ đơn giản là tìm kiếm thông tin [43]. Với một bộ phận không nhỏ NSDTV, bên cạnh việc đến Thư viện để tìm kiếm thông tin còn có nhu cầu được hòa nhập với môi trường nghiên cứu, khoa học và hòa nhập với cộng đồng.
Môi trường và cộng đồng đó rất có thể sẽ là yếu tố để hình thành và bồi đắp những nhân cách tích cực. Để đáp ứng được nhu cầu đó, không gian trong thư viện đại học phải mang tính mới mẻ, phong cách năng động và có bản sắc riêng, biến Thư viện trở thành môi trường sư phạm mới, đem đến cho sinh viên khả năng 17 tương tác và hợp tác cao trong nghiên cứu và học tập. Chính vì vậy, việc giải quyết vấn đề không gian trong thư viện hiện đại cần có giải pháp hài hoà giữa CNTT và tri thức truyền thống. Làm sao để không gian trong thư viện vừa mang tính hiện đại, vừa tôn trọng và gìn giữ những giá trị truyền thống [7].
* Đối với người làm công tác thư viện Không gian thư viện là nơi NLCTTV làm việc với nguồn thông tin, là nơi họ giao tiếp, hướng dẫn, phục vụ NSDTV. Không gian thư viện với những trang thiết bị, nội thất được xem là cầu nối giữa NLCTTV với nguồn tài nguyên, là phương tiện, công cụ hỗ trợ giúp họ giải quyết nhanh chóng các khâu công tác trong chu trình xử lý nghiệp vụ tài liệu thư viện.