Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG SỐ LƯỢNG CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG SỐ LƯỢNG CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI 1. Khái niệm biểu tượng Theo từ điển Tiếng Việt của GS Hoàng Phê chủ biên:“Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng, là hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm dứt” [19, tr. Dựa vào cơ sở sinh lí học có thể khẳng định: Biểu tượng được hình thành khi sự vật hiện tượng trước đây tác động vào giác quan tạo ra những đường liên hệ thần kinh tạm thời để lại những dấu vết trong vỏ não.
Do đó, biểu tượng được xây dựng trên cơ sở tri giác. Nếu không có tri giác biểu tượng không thể hình thành được [8, tr. Theo quan điểm của các nhà triết học duy vật biện chứng Mác- Lenin thì: “Biểu tượng là một hình ảnh của khách thể đã được tri giác còn lưu lại trong bộ óc con người và do một tác động nào đó được tái hiện, nhớ lại”. Biểu tượng cũng như cảm giác, tri giác “Là hình ảnh chủ quan của thế giới quan”.
Nhưng khác với cảm giác và tri giác biểu tượng phản ánh khách thể một cách gián tiếp, là “hình ảnh của hình ảnh”. Ngoài ra, bằng tưởng tượng từ những biểu tượng cũ, con người có thể sáng tạo ra những biểu tượng mới [8, tr. Theo quan điểm của các nhà tâm lí học: A. Liublinxkaia coi “Biểu tượng là những hình ảnh cụ thể của sự vật, hiện tượng nảy sinh ra trong óc khi không có sự tác động trực tiếp của chúng vào các giác quan” [4, tr.X Mukhina coi “Biểu tượng là hình ảnh trực quan nảy sinh trong não người về những sự vật, hiện tượng đã tri giác trước”[4, tr.
8 Những định nghĩa và quan niệm trên cho thấy biểu tượng được coi như sản phẩm của quá trình ghi nhớ và tưởng tượng. Điểm chính của biểu tượng là sự xâm nhập giữa tính trực quan và tính khái quát, nếu biểu tượng được coi là bước quá độ giữa hình tượng và khái niệm, là giai đoạn chuyển tiếp từ nhận thức cảm tính lên nhận thức lí tính. Biểu tượng là kết quả của sự chế biến và tổng hợp được hình thành do tri giác tạo ra. Thiếu tri giác, biểu tượng không thể hình thành được [4, tr.
Biểu tượng có những đặc điểm khác với hình tượng tri giác. Hình ảnh của biểu tượng phản ánh những đặc điểm cụ thể của sự vật, giống như hình tượng của tri giác nhưng nó có khái quát qua nhiều lần tri giác trong những điều kiện khác nhau, ở những thời điểm khác nhau. Tuy nhiên, biểu tượng chỉ tái hiện lại những đặc điểm cơ bản, gây ấn tượng mạnh, có ý nghĩa đối với hành động của trẻ, bỏ đi những chi tiết ngẫu nhiên, rườm rà. Như vậy, biểu tượng vừa mang tính cụ thể vừa mang tính khái quát [4, tr.
Biểu tượng có những khác biệt rất căn bản với khái niệm, biểu tượng phản ánh những đặc điểm cụ thể, bên ngoài, đặc trưng, trực quan, của sự vật, hiện tượng. Khái niệm phản ánh những thuộc tính của bản chất, những mối quan hệ, quan hệ có tính quy luật của hàng loạt các sự vật, hiện tượng cùng loại. Các khái niệm kết hợp chặt chẽ với nhau cho phép từ tri thức này suy ra tri thức kia. Các biểu tượng vốn có ở trẻ không tự nhiên biến thành khái niệm.
Chúng chỉ có thể được sử dụng khi hình thành khái niệm [4, tr. Tóm lại, biểu tượng là những hình ảnh cụ thể về sự vật và hiện tượng mà con người đã tri giác trước đây được tái hiện trong óc khi chúng không còn trực tiếp tác động vào giác quan ta nữa [4, tr. Khái niệm số lượng Số lượng là khái niệm chỉ số phần tử có trong một tập hợp tại một không gian và thời điểm xác định. Khái niệm số lượng có liên quan đến tập hợp, số lượng là một trong những thuộc tính đặc trưng của tập hợp, bất kì một tập hợp nào cũng xác định được độ lớn (số lượng) nhất định của nó, dù là các phần tử thuần nhất hay không thuần nhất [8, tr.
Khái niệm biểu tượng số lượng Biểu tượng số lượng là những hình ảnh về đặc trưng số lượng của các tập hợp còn lưu lại và được tái hiện trong óc của trẻ khi các tập hợp ấy không còn được trẻ tri giác trực tiếp, không còn tác động vào các giác quan 9 của trẻ như trước. Biểu tượng số lượng gồm: biểu tượng số lượng (đếm số lượng nhóm đối tượng), biểu tượng về mối liên hệ số lượng (so sánh số lượng của 2 nhóm đối tượng xem chúng như thế nào với nhau), biểu tượng về mối quan hệ số lượng (so sánh số lượng 2 nhóm đối tượng xem chúng hơn kém nhau bao nhiêu đơn vị). Từ đó giúp trẻ ngày càng đa dạng và phong phú hơn về biểu tượng số lượng [8, tr. Đặc điểm phát triển biểu tượng số lượng của trẻ 5 - 6 tuổi Trẻ 5 - 6 tuổi đã có khả năng lĩnh hội số lượng bằng các giác quan khác nhau như: Thính giác, thị giác, xúc giác,.
Trẻ có khả năng phân tích chính xác các phần tử của tập hợp, các tập hợp con trong tập hợp lớn. Trẻ khái quát được một tập hợp lớn gồm nhiều tập hợp con và ngược lại nhiều tập hợp riêng biệt có thể gộp lại với nhau theo một đặc điểm chung nào đó để tạo thành một tập hợp lớn. Ví dụ: Tập hợp quả có 4 quả táo, 3 quả cam, 9 quả xoài,. Khi đánh giá độ lớn của các tập hợp, trẻ 5 – 6 tuổi ít bị chi phối bởi các yếu tố: màu sắc, kích thước, vị trí sắp đặt các phần tử trong tập hợp.86-88] Hoạt động đếm của trẻ phát triển lên một bước mới, trẻ rất có hứng thú đếm và phần lớn nắm được trình tự của các con số từ 1-10, thậm chí còn nhiều số hơn nữa.
Trẻ biết thiết lập tương ứng 1:1 trong quá trình đếm, mỗi từ số ứng với một phần tử của tập hợp mà trẻ đếm. Trẻ không chỉ hiểu rằng, khi đếm thì số cuối cùng là số kết quả ứng với toàn bộ nhóm vật, mà trẻ còn bắt đầu hiểu con số là chỉ số cho số lượng phần tử của tất cả các tập hợp có cùng độ lớn không phụ thuộc vào những đặc điểm, tính chất cũng như cách sắp đặt của chúng [15, tr. Trẻ 5 – 6 tuổi bắt đầu hiểu mối quan hệ thuận nghịch giữa các số liền kề của dãy số tự nhiên (mỗi số đứng trước nhỏ hơn số đứng sau một đơn vị và mỗi số đứng sau lớn hơn số đứng trước một đơn vị). Trên cơ sở đó trẻ dần hiểu quy luật thành lập dãy số tụ nhiên n±1.
Kĩ năng đếm của trẻ ngày càng trở nên thuần thục, trẻ không chỉ đếm đúng số lượng các nhóm vật mà còn có cả các âm thanh và các động tác. Qua đó, trẻ hiểu sâu sắc hơn vai trò của số kết quả. Mặt khác, trẻ không chỉ đếm từng vật mà còn đếm từng nhóm vật. Ví dụ: Trẻ đếm được số quả hồng, quả bưởi, quả dứa,.
Trẻ hiểu sâu sắc hơn ý nghĩa của khái niệm “đơn vị”- đơn vị của phép đếm có thể là cả nhóm vật chứ không chỉ là từng vật riêng lẻ. 10 Hơn nữa dưới sự hướng dẫn của người lớn, trẻ không chỉ biết đếm xuôi mà còn biết đếm ngược trong phạm vi 10, trẻ nhận biết được các số từ 1 – 10. Trẻ hiểu rằng mỗi con số không chỉ được diễn đạt bằng lời nói mà còn có thể viết và muốn biết số lượng của các vật trong nhóm không nhất thiết lúc nào cũng phải đếm, mà đôi lúc chỉ cần nhìn con số biểu thị số lượng của chúng. Việc làm quen trẻ với các con số có tác dụng phát triển tư duy trừu tượng cho trẻ, phát triển khả năng trừu tượng số lượng khỏi những vật cụ thể, dạy trẻ thao tác với các kí hiệu, các con số.
Ví dụ: số điện thoại, số nhà, biển số xe,.23-24] Như vậy, cần tiếp tục phát triển biểu tượng về tập hợp cho trẻ 5 - 6 tuổi, bước đầu cho trẻ làm quen với một số phép tính trên tập hợp, điều đó tạo cơ sở cho trẻ học các phép tính đại số sau này ở trường phổ thông. Tiếp tục dạy trẻ phép đếm trong phạm vi 10, giúp trẻ hiểu sâu sắc hơn khái niệm đơn vị, tạo tiền đề cho trẻ hiểu bản chất của các phép tính đại số mà trẻ sẽ học ở trường phổ thông.24] Dạy trẻ làm quen với các bài toán đơn giản trên các tập hợp cụ thể bằng cách phân tích để biết cái gì đã cho, cái gì cần tìm, để tìm cái đó phải làm như thế nào? đó chính là cơ sở để trẻ học tốt môn toán sau này ở trường phổ thông [14, tr. Nội dung hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5 - 6 tuổi Nội dung dạy trẻ 5 - 6 tuổi cần hướng tới việc củng cố và làm sâu sắc hơn những kiến thức, kỹ năng mà trẻ đã được học từ các lớp trước, hơn nữa nội dung dạy trẻ phải có tác dụng thúc đẩy sự phát triển trí tuệ và tư duy toán học cho trẻ nhỏ. Ngay từ các lớp mẫu giáo bé và nhỡ, trẻ đã được làm quen với các tập hợp và cách phân tách các tập hợp con trong tập lớn theo các dấu hiệu như: màu sắc, hình dạng, kích thước.
trẻ đã nắm được các biện pháp so sánh độ lớn của các tập hợp hoặc các tập con trong tập lớn bằng cách thiết lập mối tương ứng 1:1 giữa các phần tử của các tập hợp hoặc của các tập con, xác định mối quan hệ số lượng của chúng và diễn đạt mối quan hệ đó bằng lời nói. Trẻ đã nắm được kĩ năng đếm trong phạm vi 5, xác định số lượng các phần tử trong tập hợp hay số các tập con trong tập hợp bằng phép đếm và phản ánh độ lớn của tập hợp bằng từ số [15, tr. Ở lớp mẫu giáo lớn, GV cần tiếp tục phát triển BT về tập hợp cho trẻ. Nếu trẻ bé và nhỡ thường nhận biết tập hợp theo các dấu hiệu bên ngoài dễ nhận thấy như: màu sắc, kích thước, hình dạng, thì trẻ mẫu giáo lớn cần 11 nhận biết các tập hợp theo những dấu hiệu phức tạp hơn đối với trẻ.
Ví dụ: Trẻ phân loại đồ chơi theo vật liệu tạo nên chúng (đồ chơi bằng nhựa, đồ chơi bằng gỗ.