Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chương trình giáo dục mầm non, hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh giữ vai trò nền tảng trong việc phát triển nhận thức, trong đó khám phá thế giới tự nhiên là một nội dung trọng tâm. Bên cạnh thiên nhiên hữu sinh (động vật, thực vật), thiên nhiên vô sinh bao gồm các yếu tố như đất, đá, cát, sỏi, nước, không khí, ánh sáng... là những khách thể gần gũi, hiện diện liên tục trong đời sống hằng ngày của trẻ nhưng lại chứa đựng nhiều thuộc tính vật lý cần được khám phá. Ở giai đoạn 4 - 5 tuổi, trẻ có sự phát triển mạnh mẽ về nhu cầu nhận thức, tính tò mò, khả năng tập trung chú ý có chủ đích và độ nhạy cảm của các giác quan; tuy nhiên, tư duy của trẻ vẫn mang đậm tính trực quan hình tượng. Phương thức lĩnh hội tri thức hiệu quả nhất ở độ tuổi này tuân theo nguyên lý "học mà chơi, chơi mà học". Trong các loại hình trò chơi, trò chơi học tập (TCHT) đóng vai trò là phương tiện giáo dục trí tuệ then chốt, giúp chuyển hóa các nhiệm vụ nhận thức trừu tượng thành các hành động chơi hấp dẫn, đưa hoạt động trí óc vào khuôn nếp một cách tự nhiên.

Thực tiễn chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở mầm non cho thấy nội dung khám phá thiên nhiên vô sinh vẫn chưa được khai thác đồng đều. Nhiều giáo viên còn gặp khó khăn trong khâu thiết kế hoạt động, thiếu tài liệu hướng dẫn chuyên biệt, đồng thời còn tâm lý ngại tổ chức các hoạt động với vật liệu tự nhiên (nước, cát, bùn, sỏi) do lo ngại vấn đề vệ sinh lớp học và an toàn cho trẻ. Để giải quyết thực trạng này, tác giả Lê Hải Yến đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: "Thiết kế trò chơi học tập nhằm giúp trẻ 4 - 5 tuổi tìm hiểu tự nhiên vô sinh", dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hoàng Thanh Phương tại Trường Đại học Hùng Vương.

Mục tiêu chung của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn, đề xuất quy trình thiết kế và xây dựng hệ thống trò chơi học tập cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi về chủ đề tự nhiên vô sinh, góp phần nâng cao chất lượng phát triển nhận thức cho trẻ ở trường mầm non.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, khóa luận xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận của việc thiết kế, sưu tầm và sử dụng trò chơi học tập nhằm giúp trẻ 4 - 5 tuổi tìm hiểu tự nhiên vô sinh.
  2. Điều tra thực trạng việc sưu tầm, thiết kế và sử dụng trò chơi học tập trong quá trình cho trẻ 4 - 5 tuổi tìm hiểu tự nhiên vô sinh ở trường mầm non.
  3. Sưu tầm và thiết kế một số trò chơi học tập nhằm giúp trẻ 4 - 5 tuổi tìm hiểu tự nhiên vô sinh.
  4. Thực nghiệm sử dụng một số trò chơi học tập đã được sưu tầm và thiết kế nhằm giúp trẻ 4 - 5 tuổi tìm hiểu tự nhiên vô sinh.

Khách thể nghiên cứu của đề tài là quá trình tổ chức hoạt động tìm hiểu tự nhiên vô sinh của trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm non. Đối tượng nghiên cứu tập trung vào việc sưu tầm và thiết kế một số trò chơi học tập cho trẻ 4 - 5 tuổi tìm hiểu tự nhiên vô sinh. Về phạm vi nghiên cứu, nội dung đề tài tập trung vào các yếu tố nước, đất, đá, cát, sỏi, không khí, ánh sáng (ưu tiên sâu vào chủ đề cát và nước); phạm vi địa bàn khảo sát và thực nghiệm được tiến hành trên nhóm trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi tại Trường Mầm non Nông Trang và Trường Mầm non Hòa Phong, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, đề tài tổng thuật quan điểm về trò chơi học tập từ các nhà giáo dục kinh điển thế giới và Việt Nam. Khái niệm TCHT được tổng hợp từ các định nghĩa của A. N. Leontiev, Kharlamov và Đinh Văn Vang: TCHT là loại trò chơi có luật, được người lớn sáng tạo nhằm mục đích dạy học và giáo dục, đòi hỏi trẻ phải huy động ở mức độ cao các chức năng trí tuệ để giải quyết nhiệm vụ nhận thức. Cấu trúc của TCHT gồm 3 thành tố thống nhất hữu cơ: nhiệm vụ nhận thức (nhiệm vụ học tập đóng vai trò định hướng), hành động chơi (các thao tác trí óc và hành vi mà trẻ thực hiện) và luật chơi (quy tắc điều khiển hành vi và đánh giá kết quả). Về đối tượng tự nhiên vô sinh (TNVS), đề tài xác định đây là tập hợp các yếu tố có bản chất vô cơ (nước, không khí, đất, đá, cát, sỏi, ánh sáng), không diễn ra quá trình đồng hóa - dị hóa, chỉ biến đổi từ dạng này sang dạng khác dưới tác động của tự nhiên và con người.

Khóa luận kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước về tổ chức hoạt động khám phá khoa học và môi trường xung quanh như Nguyễn Thiều Dạ Hương (2014), Nguyễn Thị Thanh Tâm (2013), Nguyễn Thị Hòa, Hoàng Thị Phương, Đinh Văn Vang (2012), Nguyễn Ánh Tuyết (2003) và Jang Young Soong (2014).

Tác giả phối hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu sau:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, so sánh và hệ thống hóa các tài liệu khoa học giáo dục mầm non.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra bằng Anket: Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến đối với 20 giáo viên mầm non đang trực tiếp giảng dạy tại Trường MN Nông Trang và Trường MN Hòa Phong.
    • Phương pháp quan sát sư phạm: Ghi chép cách thức giáo viên tổ chức TCHT và biểu hiện nhận thức, hứng thú của trẻ trong các hoạt động khám phá.
    • Phương pháp đàm thoại: Trao đổi trực tiếp với cán bộ quản lý và giáo viên dạy lớp 4 - 5 tuổi.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức các hoạt động có sử dụng hệ thống TCHT đã thiết kế trên nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC).
    • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động của trẻ: Đánh giá biểu tượng kiến thức thông qua phiếu bài tập, tranh vẽ, sơ đồ ghép nối.
  • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý và phân tích các số liệu định lượng thu được từ phiếu hỏi và thang đo đánh giá trẻ.

Hệ thống đánh giá mức độ nhận thức về TNVS của trẻ 4 - 5 tuổi trong đề tài được xây dựng dựa trên 3 tiêu chí:

  • Tiêu chí 1: Tính chính xác của những kiến thức về TNVS (mức độ xác thực hiểu biết về tên gọi, dấu hiệu).
  • Tiêu chí 2: Sự phong phú ở mặt nhận thức của trẻ (sự đa dạng vốn hiểu biết về đặc điểm, tính chất, lợi ích).
  • Tiêu chí 3: Mức độ khái quát của những hiểu biết (khả năng tổng hợp dấu hiệu đặc trưng, phân nhóm).

Thang đánh giá được phân chia thành 4 mức độ: Mức 1 - Giỏi (4 điểm), Mức 2 - Khá (3 điểm), Mức 3 - Trung bình (2 điểm), Mức 4 - Yếu (1 điểm).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 1 khái quát lịch sử nghiên cứu TCHT trên thế giới qua 3 khuynh hướng: (1) Nghiên cứu vai trò của TCHT đối với sự phát triển nhân cách toàn diện (tiêu biểu là I. Komenxki, N. Crupxcaia, A. Macarencô, E. Chikhêeva); (2) Nghiên cứu TCHT trong mục đích dạy học (F. Froebel, M. Montessori, A. Uxôva); (3) Nghiên cứu TCHT nhằm phát triển các phẩm chất trí tuệ cụ thể (A. Xôrôkina, Babunova, A. Bônđarencô). Tại Việt Nam, tác giả tổng hợp các công trình về tổ chức hoạt động trải nghiệm và trò chơi khám phá khoa học của Nguyễn Thiều Dạ Hương, Nguyễn Thị Thanh Tâm, Hoàng Thị Phương, Đinh Văn Vang...

Chương này phân tích bản chất cấu trúc 3 thành tố của TCHT (nhiệm vụ nhận thức, hành động chơi, luật chơi), đồng thời phân loại TCHT theo nhiều góc độ: theo phương tiện tổ chức của P. Udalsova (vật thật; tranh ảnh/mô hình; lời nói), theo nhiệm vụ nhận thức và theo các thao tác trí tuệ (nhận biết đối tượng; so sánh - ghép đôi; sắp xếp thứ tự; phân nhóm). Đồng thời, tác giả xác định mục tiêu, nội dung chuẩn phát triển nhận thức về TNVS cho lứa tuổi 4 - 5 tuổi theo Chương trình Giáo dục Mầm non, bao gồm biểu tượng về nước, không khí, vật thể rắn (đất, đá, cát, sỏi) và ánh sáng, nhấn mạnh vai trò của TCHT trong việc giúp trẻ rèn luyện tư duy phân tích, tổng hợp và hình thành ý thức bảo vệ môi trường.

Chương 2: Thực trạng việc sử dụng trò chơi học tập trong tổ chức hoạt động tìm hiểu tự nhiên vô sinh cho trẻ 4 - 5 tuổi

Chương 2 trình bày dữ liệu khảo sát thực trạng trên mẫu nghiên cứu gồm 20 giáo viên và 50 trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi tại Trường Mầm non Nông Trang và Trường Mầm non Hòa Phong (TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ). Kết quả khảo sát nhận thức của giáo viên cho thấy: 100% giáo viên được hỏi nhận thức được tầm quan trọng của TCHT đối với sự phát triển toàn diện của trẻ; 80% giáo viên (16/20) cho rằng cần thường xuyên tổ chức cho trẻ khám phá TNVS; tuy nhiên có 70% giáo viên (14/20) thừa nhận trên thực tế chưa tổ chức thường xuyên; 60% giáo viên (12/20) hiểu chưa đầy đủ các nội dung cần có để tổ chức hoạt động và chỉ 5% (1/20) nắm vững toàn diện nội dung này.

Về các hình thức tổ chức TCHT khám phá TNVS, kết quả tổng hợp từ giáo viên được thể hiện qua bảng số liệu sau:

Hình thức tổ chức Thường xuyên (SL) Thường xuyên (%) Thỉnh thoảng (SL) Thỉnh thoảng (%) Không bao giờ (SL) Không bao giờ (%)
Trong hoạt động góc 10 50,0 6 30,0 4 20,0
Qua hoạt động ngoài trời 11 55,0 7 35,0 1 10,0
Qua hoạt động chơi 15 75,0 3 15,0 2 10,0
Trong các giờ học 16 80,0 3 15,0 1 5,0
Các hoạt động khác 14 70,0 5 25,0 1 5,0

Số liệu phản ánh TCHT chủ yếu được triển khai tập trung trong các giờ học có chủ đích (80%) và hoạt động chơi chung (75%), trong khi việc vận dụng vào sinh hoạt hằng ngày rất thấp (82,39% giáo viên thừa nhận hiếm khi áp dụng). Nguyên nhân xuất phát từ việc nguồn trò chơi về TNVS còn nghèo nàn, giáo viên gặp khó khăn khi tự sáng tác và ngại khâu vệ sinh, dọn dẹp sau khi trẻ thao tác với cát, nước, bùn.

Khảo sát mức độ nhận thức về TNVS trên 50 trẻ trước khi có tác động sư phạm cho thấy kết quả phân loại như sau:

Đơn vị khảo sát Tổng số trẻ Giỏi (SL) Giỏi (%) Khá (SL) Khá (%) Trung bình (SL) Trung bình (%) Yếu (SL) Yếu (%)
Trường MN Nông Trang 25 9 36,0 9 36,0 4 16,0 3 12,0
Trường MN Hòa Phong 25 10 40,0 8 32,0 5 20,0 2 8,0

Tỷ lệ trẻ đạt mức Giỏi còn khiêm tốn (36% - 40%), vốn hiểu biết của trẻ còn phân tán, chủ yếu tập trung vào một số đặc tính cơ bản của nước, trong khi các thuộc tính của đất, đá, cát, sỏi, không khí và nguyên nhân ô nhiễm môi trường chưa được nhận thức rõ.

Chương 3: Thiết kế và thực nghiệm sư phạm một số trò chơi học tập nhằm giúp trẻ 4 - 5 tuổi tìm hiểu tự nhiên vô sinh

Chương 3 xây dựng khung giải pháp gồm 4 nguyên tắc thiết kế TCHT: (1) Đảm bảo tính mục đích; (2) Đảm bảo tính hệ thống (sắp xếp trò chơi từ dễ đến khó, từ cụ thể đến khái quát); (3) Đảm bảo tính phát triển (thiết kế mở, nhiều mức độ chơi); (4) Dựa trên đặc trưng hoạt động khám phá TNVS của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi.

Quy trình thiết kế TCHT gồm 7 bước cụ thể:

  1. Xác định mục tiêu giáo dục của trò chơi.
  2. Xác định nhiệm vụ nhận thức của trò chơi.
  3. Xác định cách chơi, luật chơi của trò chơi.
  4. Xác định hành động chơi (tập trung vào 4 dạng hành động: giấu - tìm; chắp ghép; so sánh; đố và đoán).
  5. Đặt tên cho trò chơi (ngắn gọn, gợi mở nội dung).
  6. Lựa chọn đồ chơi, vật liệu chơi phù hợp (an toàn, trực quan, tận dụng vật liệu tự nhiên).
  7. Hướng dẫn cách chơi.

Tác giả thiết kế và minh họa hệ thống TCHT phân bổ theo 4 nhóm chủ đề:

  • Nhóm trò chơi tìm hiểu về Nước: Các trò chơi giúp trẻ nhận biết trạng thái lỏng, tính chất không màu, không mùi, sự đổi màu, vật chìm/nổi, ứng dụng của nước.
  • Nhóm trò chơi tìm hiểu về Đất, đá, cát, sỏi: Các trò chơi trải nghiệm độ mịn, độ xốp, khả năng thấm nước, tạo hình và công dụng trong xây dựng.
  • Nhóm trò chơi tìm hiểu về Không khí: Các trò chơi phát hiện sự tồn tại, chuyển động và sức gió của không khí.
  • Nhóm trò chơi tìm hiểu về Ánh sáng: Các trò chơi tìm bóng, nhận biết nguồn sáng tự nhiên và nhân tạo.

Quy trình thực nghiệm sư phạm được tiến hành theo các bước đo lường trước và sau thực nghiệm giữa nhóm TN và nhóm ĐC để kiểm chứng tính hiệu quả của hệ thống TCHT đã xây dựng.

Kết quả và đóng góp

Về mặt kết quả, khóa luận đã khảo sát và lượng hóa thành công thực trạng nhận thức của giáo viên và trẻ 4 - 5 tuổi tại 2 trường mầm non trên địa bàn thành phố Việt Trì. Nghiên cứu chỉ ra rào cản lớn nhất trong việc triển khai chủ đề TNVS là sự thiếu hụt tài liệu trò chơi có tính hệ thống và tâm lý e ngại công tác dọn dẹp vệ sinh của giáo viên. Đề tài đã xây dựng thành công quy trình thiết kế 7 bước khoa học, đồng thời thiết kế ngân hàng TCHT chuyên biệt về nước, đất, đá, cát, sỏi, không khí và ánh sáng với các hành động chơi phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi mẫu giáo nhỡ.

Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các giải pháp và kiến nghị cụ thể:

  • Đối với cán bộ quản lý: Cần quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, bổ sung đồ dùng, quy hoạch các khu vực sân vườn, góc cát - nước ngoài trời; tăng cường tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn, hội thi và tiết dạy mẫu chuyên đề về khám phá thiên nhiên vô sinh.
  • Đối với giáo viên mầm non: Cần nâng cao tính chủ động trong việc tự thiết kế và làm đồ dùng đồ chơi từ vật liệu sẵn có; khắc phục tâm lý ngại bẩn; linh hoạt tích hợp TCHT vào các thời điểm hoạt động góc, hoạt động ngoài trời và sinh hoạt hằng ngày thay vì chỉ tập trung vào tiết học có chủ đích.
  • Đối với phụ huynh học sinh: Cần phối hợp chặt chẽ với nhà trường, tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc, vui chơi an toàn với môi trường tự nhiên tại gia đình, hình thành thói quen sử dụng tiết kiệm nước và giữ gìn vệ sinh môi trường.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc cụ thể hóa lý thuyết giáo dục học mầm non vào một mảng nội dung chuyên biệt là thiên nhiên vô sinh. Nghiên cứu cung cấp tài liệu hướng dẫn sư phạm mang tính thực nghiệm trực tiếp, giúp giáo viên có thêm nguồn học liệu chuẩn mực để tổ chức hoạt động giáo dục phát triển nhận thức.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, phạm vi khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm của đề tài mới được triển khai trên cỡ mẫu 20 giáo viên và 50 trẻ tại 2 trường mầm non thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; chưa mở rộng đối chứng tại các cơ sở giáo dục mầm non thuộc khu vực nông thôn hoặc miền núi. Về nội dung, hệ thống trò chơi thiết kế tập trung chuyên sâu nhất vào hai đối tượng "cát" và "nước", các chủ đề không khí và ánh sáng mới dừng lại ở mức độ minh họa, chưa được phân bổ tiết thực nghiệm tương đương.

Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài bao gồm:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm tại nhiều địa bàn trường mầm non có điều kiện cơ sở vật chất khác nhau nhằm hoàn thiện thang đo đánh giá.
  • Tiếp tục thiết kế chi tiết và chuẩn hóa hệ thống TCHT cho đầy đủ các yếu tố tự nhiên vô sinh khác như không khí, ánh sáng, khoáng vật và các hiện tượng thời tiết.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích đối với:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Mầm non: Nguồn tài liệu học tập bổ trợ cho các học phần Lý luận Giáo dục Mầm non, Phương pháp tổ chức hoạt động vui chơi và Phương pháp cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh.
  • Giáo viên mầm non và cán bộ chuyên môn: Cung cấp quy trình 7 bước thiết kế TCHT cùng hệ thống bài tập, trò chơi với cát, nước, sỏi, đá có thể ứng dụng trực tiếp trong kế hoạch giáo dục theo chủ đề tại các trường mầm non.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong công trình: Hệ thống nguyên tắc, quy trình 7 bước thiết kế TCHT và bản mô tả luật chơi, hành động chơi của các trò chơi khám phá cát, nước trong Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Nhiệm vụ nhận thức của trò chơi học tập về tự nhiên vô sinh khác gì so với trò chơi tự do của trẻ mầm non?
Nhiệm vụ nhận thức trong TCHT là nội dung học tập mang tính định hướng do giáo viên thiết lập (được ẩn dưới dạng bài toán nhận thức mà trẻ phải giải quyết bằng luật chơi và hành động chơi), hướng đến việc cung cấp, củng cố và chính xác hóa các biểu tượng khoa học về thuộc tính của sự vật; trong khi trò chơi tự do chủ yếu thỏa mãn nhu cầu giải trí và bắt chước không bắt buộc tuân theo mục tiêu giáo dục cụ thể.

2. Cấu trúc của một trò chơi học tập theo đề tài gồm những thành tố nào?
Cấu trúc TCHT gồm 3 thành tố gắn bó chặt chẽ: Nhiệm vụ nhận thức (mục đích học tập của trò chơi), Hành động chơi (các thao tác trực tiếp của trẻ như giấu - tìm, ghép nối, so sánh, đố đoán) và Luật chơi (quy tắc quy định hành vi và cách thức thực hiện nhiệm vụ).

3. Tại sao giáo viên mầm non còn ít tổ chức trò chơi khám phá tự nhiên vô sinh trong sinh hoạt hằng ngày?
Theo kết quả khảo sát thực tế, có tới 82,39% giáo viên hiếm khi sử dụng TCHT khám phá TNVS trong sinh hoạt hằng ngày do nguồn tài liệu trò chơi về chủ đề này còn hạn chế, giáo viên gặp khó khăn trong khâu tự thiết kế và tâm lý ngại công tác vệ sinh, dọn dẹp sau khi cho trẻ thao tác với cát, nước, bùn.

4. Khóa luận đề xuất bao nhiêu bước trong quy trình thiết kế trò chơi học tập cho trẻ 4 - 5 tuổi?
Khóa luận xây dựng quy trình thiết kế gồm 7 bước: (1) Xác định mục tiêu giáo dục; (2) Xác định nhiệm vụ nhận thức; (3) Xác định cách chơi, luật chơi; (4) Xác định hành động chơi; (5) Đặt tên cho trò chơi; (6) Lựa chọn đồ chơi, vật liệu chơi phù hợp; (7) Hướng dẫn cách chơi.

5. Các dạng hành động chơi chủ yếu nào được tác giả ứng dụng trong nhóm trò chơi về cát và nước?
Bốn dạng hành động chơi nòng cốt được xây dựng gồm: Hành động giấu - tìm (tìm vật thể chìm trong cát/nước); Hành động chắp ghép (lắp ráp mô hình, tranh cắt rời trong môi trường nước); Hành động so sánh (đối chiếu màu sắc, nhiệt độ, dung tích, tính thấm); và Hành động đố và đoán (nhận diện đặc tính qua câu đố).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Hải Yến đã giải quyết một cách có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về việc ứng dụng trò chơi học tập nhằm phát triển nhận thức về tự nhiên vô sinh cho trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi. Thông qua các phương pháp nghiên cứu sư phạm chuẩn mực, đề tài đã chỉ rõ thực trạng tổ chức tại Trường Mầm non Nông Trang và Trường Mầm non Hòa Phong (TP. Việt Trì), đồng thời xây dựng quy trình 7 bước thiết kế trò chơi cùng hệ thống bài tập thực hành trực quan, giàu tính khả thi. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cao cho giáo viên mầm non và sinh viên chuyên ngành sư phạm.