Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG HÌNH DẠNG CHO TRẺ 4 – 5 TUỔI 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG HÌNH DẠNG CHO TRẺ 4 – 5 TUỔI 1. Khái niệm biểu tượng Có nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu về biểu tượng, biểu tượng được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau Theo từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê cho rằng: Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng. Biểu tượng là hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt.
Theo bách khoa toàn thư: Biểu tượng hay ký hiệu là một hình ảnh, ký tự hay bất cứ cái gì đó đại diện cho một ý tưởng, thực thể vật chất hoặc một quá trình. Mục đích của một biểu tượng là để truyền thông điệp ý nghĩa một cách nhanh chóng dễ dàng và ngắn gọn, đơn giản. Dựa vào cơ sở sinh lý học cho ta thấy: Biểu tượng được hình thành khi sự vật hiện tượng trước đây tác động vào giác quan tạo ra những đường liên hệ thần kinh tạm thời để lại dấu vết trong vỏ não. Do đó, biểu tượng được xây dựng trên cơ sở tri giác.
Nếu không có tri giác biểu tượng không thể hình thành được. Tác giả Nguyễn Khắc Viện đề cập trong cuốn “Từ điển tâm lý học” thì biểu tượng được định nghĩa rằng: “Lúc một sự vật không được nhìn nhận qua những cảm giác và hành động mà vẫn gợi lên được sự tồn tại của nó, tức là đã hình thành một biểu tượng của sự vật ấy. Hoạt động của con người không hoàn toàn lệ thuộc vào sự có mặt cụ thể của sự vật nữa, mà có thể vận dụng 7 những hình tượng của sự vật sắp đi sắp lại trong “đầu óc” của mình, trước và sau hành động cụ thể”[24]. Giữa biểu tượng và khái niệm có sự khác biệt nhau.
Biểu tượng phản ánh nhứng dấu hiệu bên ngoài, đặc điểm đặc trưng, cụ thể, trưc quan của sự vật hiện tượng. Còn khái niệm phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của các sự vật hiện tượng cùng loại. Các khái niệm kết hợp chặt chẽ với nhau cho phép từ tri thức này suy ra tri thức kia. Khi trẻ đã tích lũy được vốn biểu tượng phong phú, chính xác thì khi đó khái niệm được hình thành.
Nếu hình ảnh của tri giác phản ánh nhiều lần trong những điều kiện khác nhau, ở những thời điểm khác nhau sẽ hình thành biểu tượng. Như vậy, giữa hình ảnh của tri giác và biểu tượng có điểm giống nhau và là cơ sở, là tiền đề cho biểu tượng.8] Tóm lại, biểu tượng là những hình ảnh cụ thể về sự vật, hiện tượng mà con người đã tri giác trước đây, là hình thức cao nhất của sự phản ánh trực quan, cảm tính. Khái niệm hình dạng Hình dạng là một trong những dấu hiệu bên ngoài của vật cụ thể, đồng thời là một khái niệm khái quát, dựa vào chúng mà con người có thể tiến hành so sánh và tạo nhóm các vật khác nhau theo dấu hiệu hình dạng [10, tr. Hình dạng là một trong các dấu hiệu để xác định và phânh biệt các đối tượng trong không gian so với nhau [12, tr.
Hình dạng trong không gian gồm có 2 loại: Hình dạng của các hình hình học, ví dụ: hình tròn, hình vuông, hình tam giác, hình chữ nhật, khối cầu, khối trụ, khối vuông, khối chữ nhật. Hình dạng của các vật: cái bát, cái ca, cái cốc, cái ghế, cái bàn. Hình dạng của các hình hình học là tiêu chuẩn để so sánh với hình dạng của các vật thể trong thực tế 8 Theo bách khoa toàn thư: Một hình là dạng thức của một vật thể hoặc bản phác thảo, đường biên, mặt phẳng ngoài của nó, đối lập với những thuộc tính khác như màu sắc, chất liệu hay thành phần vật liệu của vật thể đó. Như vậy, hình dạng là một trong những dấu hiệu bề ngoài của vật cụ thể, đồng thời là khái niệm khái quát, dựa vào nó mà con người phân biệt vật này với vật khác.
Khái niệm biểu tượng hình dạng Biểu tượng hình dạng là những hình ảnh cụ thể, bên ngoài với những dấu hiệu đặc trưng về các hình hình học, sự vật, hiện tượng mà con người đã tri giác trước đây 1. Đặc điểm phát triển biểu tượng hình dạng của trẻ 4 – 5 tuổi Mỗi vật trong môi trường xung quanh đều có hình dạng nhất định, hình dạng là một trong những dấu hiệu bên ngoài của vật cụ thể. Hình dạng của các vật trong môi trường xung quanh rất đa dạng. Tuy nhiên, hình dạng của vật bất kì đều được phản ánh khái quát bằng dạng của hình hình học nào đó hay bằng sự kết hợp của một số hình hình học theo một kiểu nhất định trong không gian.
Vì vậy, hình hình học là những hình mẫu, chuẩn mà con người sử dụng chúng để xác định hình dạng của các vật xung quanh. Như vậy, việc nhận biết hình dạng của vật với việc nhận biết các hình hình học có mối quan hệ tương hỗ với nhau.126] Dựa vào hình dạng của vật mà con người nhận ra vật, phân biệt vật này với vật khác, so sánh và tạo nhóm các vật khác nhau theo dấu hiệu hình dạng. Trẻ càng lớn thì tri giác càng hoàn thiện, hoạt động của các giác quan càng phát triển, mức độ khảo sát hình dạng của trẻ càng cao, vì vậy, biểu tượng về hình dạng vật thể và các hình hình học của trẻ càng chính xác và phong phú hơn. Trẻ 4-5 tuổi không còn đồng nhất các hình hình học với các đồ vật giống chúng, mà đã biết sử dụng các hình hình học như những hình chuẩn để so sánh, lựa chọn, xác định hình dạng của mọi vật xung quanh.
Ví dụ: cái vòng giống hình tròn, ô gạch như hình vuông. 9 Nhờ tác động của người lớn, trẻ đã có khả năng nhận biết, phân biệt, gọi đúng tên một số hình hình học, trẻ ít nhầm lẫn hình tròn với hình ô van, hình vuông với hình chữ nhật. ; nhận biết, gọi tên được một số hình khối, như: khối cầu, khối vuông, khối chữ nhật. Trẻ đã có khả năng nhận biết, gọi đúng tên, phân biệt được hình dạng của các vật.
Đa số trẻ thực hiện đúng nhiệm vụ tìm những vật dạng hình tròn hay hình vuông, hoặc tìm ra dấu hiệu chung về hình dạng của các vật. Việc thực hiện các nhiệm vụ này đòi hỏi trẻ em phải thực hiện các thao tác tư duy phức tạp như: so sánh, phân tích, tách dấu hiệu chung của các vật ra khỏi những dấu hiệu khác. Hoạt động của các giác quan trong quá trình khảo sát hình dạng đồ vật của trẻ đã phát triển. Trẻ 4-5 tuổi đã tích cực sờ nắn vật bằng các ngón tay, mắt trẻ đã chú ý quan sát những dấu hiệu đặc trưng của hình.
Tuy nhiên, trẻ vẫn chưa biết nhìn lần lượt theo đường bao quanh vật, vì vậy, trẻ vẫn chưa nhận biết chính xác hình dạng của vật. Vì vậy, giáo viên cần : - Tiếp tục phát triển biểu tượng về hình dạng và các hình hình học cho trẻ. - Dạy trẻ nhận biết , phân biệt được các hình hình học và sử dụng chúng để xác định hình dạng của các vật - Dạy trẻ biện pháp khảo sát hình dạng các vật. Nội dung hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ 4 – 5 tuổi - Trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi đã nhận biết được các hình hình học như: hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác và bước đầu đã biết sử dụng chúng như những hình chuẩn để trẻ dựa vào đó mà so sánh và xác định hình dạng của các vật có xung quanh trẻ.
Vì vậy giáo viên cần tiếp tục mở rộng và làm phong phú hơn những biểu tượng về các hình cho trẻ bằng việc cho trẻ được tiếp xúc với các mẫu hình hình học đa dạng hơn với các dấu hiệu màu sắc, kích thước, sự tương ứng góc cạnh. - Trẻ 4-5 tuổi không chỉ nhận biết mà còn cần phân biệt được các hình hình học phẳng này một cách kỹ càng trên cơ sở nắm được những dấu hiệu 10 đặc trưng hơn của các hình như: cấu tạo đường bao quanh hình, số lượng các cạnh góc, độ dài các cạnh của hình… Vì vậy, trong quá trình cho trẻ làm quen với các hình, giáo viên cần dạy trẻ nắm được những dấu hiệu đặc trưng này của các hình. - Để trẻ nắm được những dấu hiệu đặc trưng của các hình giáo viên cần dạy trẻ biện pháp khảo sát các hình bằng các đầu ngón tay của bàn tay phải cùng với chuyển động của mắt lần lượt theo đường bao quanh của hình và thực hiện các thao tác khảo sát hình như: đo, so sánh độ dài của cạnh, đếm số lượng góc, cạnh… - Trên cơ sở những kiến thức về các hình của trẻ, giáo viên dạy trẻ phân biệt được sự giống nhau và khác nhau giữa các hình, như: giữa hình tròn và các hình tam giác, hình vuông, hình chữ nhật, giữa hình vuông và hình chữ nhật, giữ hình tam giác và một trong hai hình: hình vuông hoặc hình chữ nhật. - Ở lớp mẫu giáo nhỡ cần làm quen trẻ với các hình khối, như: khối cầu, khối vuông, khối chữ nhật và khối trụ, đó là những khối mà nhiều vật xung quanh trẻ có hình dạng tương ứng với chúng.
Với các khối này giáo viên cần dạy trẻ nhận biết chúng theo hình khối mẫu và tên gọi của khối, và bước đầu làm quen với trẻ với đặc điểm bề mặt của các khối. - Trên cơ sở những kiến thức của trẻ về các hình hình học phẳng và hình khối, giáo viên luyện tập cho trẻ xác định hình dạng của các đồ vật và đồ chơi có xung quanh trẻ trên cơ sở so sánh hình dạng của chúng với các hình đã biết và diễn đạt hình dạng của chúng bằng lời nói: “Mặt bàn có dạng hình chữ nhật”.