ĐẶT VẤN ĐỀ BHYT dược áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sửc khóe nhằm đảm bào chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnh cho người tham gia BHYT khi họ ốm đau. Thủ tướng Bismarck đã thiết lập báo hiếm y tế đầu tiên trên thế giới dành cho công nhân trong khu vực có lương thấp hơn một mức nhất định [19], Từ đó đến nay BHYT đã được triên khai ở nhiều nước trên thế giới với những mô hình khác nhau. BHYT toàn dân là mục đích mà nhiều quốc gia hướng tới trong đó Việt Nam đang thực hiện lộ trình này vào năm 2014. tại Việt Nam có 37,4 triệu người tham gia BIỈYT chiếm 43,38% dân số.
Số tham gia BHYTTN là 10.5 triệu người chiếm tỳ' lệ 28% [45]. Tỳ lệ người tham gia B11YTTN so với tổng số người tham gia BHYT chung không tăng qua các năm. Năm 2005 tỷ lệ này là 39.1% và đạt tỷ lệ 25.7% vào năm 2007 [14], Trong khi đó, dối tượng của BHYTTN có số lượng rất lớn. đa dạng về thành phần và nhận thức xã hội.
có điều kiện kinh tể và nhu cầu chăm sóc sức khỏe khác nhau. Mặc dù quyền lợi cùa người tham gia BHYTTN ngày càng dược mở rộng, các diều kiện, thú tục tham gia ngày càng đơn gian tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân tiếp cận với BHYTTN, nhưng BHYTTN còn tồn tại nhiều hạn chế như đối tượng tham gia ít chú yếu tập trung vào học sinh, sinh viên, có sự "lựa chọn ngược’' trong các đối tượng. Bên cạnh dó, việc đàm bảo quyền lợi được chăm sóc sức khỏe cho người có thẻ BHYT nói chung và BHYTTN nói riêng còn nhiều bất cập. Hiện tượng quá tải ờ các bệnh viện tuyến trên thường xuyên xáy ra trong khi một số bệnh có thê giải quyết ngay ở tuyển cơ sở.
Nhằm giám bớt tình trạng trên, BHYT Việt Nam đã có chủ trương triển khai KCB BHYT tại tuyến xã phường.600 cơ sở KCB BHYT có 9.CB tuyến xã, chiếm 87% so với tống số xã trên cả nước [45]. Tuy nhiên dịch vụ KCB BHYT tại TYT phần lớn chưa đáp ứng được nhu cầu K.CB của người bệnh. Trang thiết bị y tế nghèo nàn. chung loại thuốc cũng như số lượng hạn chế.
tinh -2 - trạng thiếu bác sỹ, thái độ chưa nhiệt tinh.đã ảnh hưởng đến chất lượng và sự hài lòng của người bệnh có BHYT. Theo kết quả điều tra y tế quốc gia 2001-2002, phần lớn người có BHYT không sử dụng the khi KCB ngoại trú. Chỉ có khoảng 36% người có BHYT sử dụng thè đi KCB ngoại trú, nguyên nhân không sử dụng thẻ vì thủ tục phiền hà chiếm gần 60% [20], Kết quá đánh giá thực trạng sử dụng thẻ BHYTTN tại Tiên Du, Bắc Ninh 2008 của NAHRIA KASUM cho thấy chi có 17,7% đến KCB tại TYT xã; 47,9% đến bệnh viện huyện; 31% đến bệnh viện tinh [32]. Nghiên cứu của Trần Thúy Hà về nhận thức và yếu tố liên quan đến mua và sử dụng thẻ BHYTTN của người dân xã Trung Hòa, Chương Mỹ.
2006 cho kết quả tỷ lệ lựa chọn nơi K.CB là TYT xã chi có 36%. Tỷ lệ chọn TYT do đây là nơi đàng ký KCB là 43%. tuy nhiên chi có 3% tin tương vào chất lượng điều trị [30], Tại Vĩnh Phúc, năm 2008 trong số 491.039 người tham gia BHYT có 18.687 người tham gia BHYTTN chiếm tỷ lệ 3. Đối tượng tham gia BHYTTN phần lớn là những người có nguy cơ về sức khóe.
Đây là một trong những nguyên nhân làm âm quỹ BHYTTN nhân dân tới 9.121 triệu đồng năm 2008 [5], Tại Bình Xuyên, năm 2008 có 13.374 người tham gia BHYTTN trong đó phần lởn là học sinh, sinh viên, chỉ có 2513 đối tượng nhân dân tham gia [2], Dịch vụ K.CB BIIYTTN đã được triền khai đến tuyến xã tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia BHYT dược chăm sóc sức khỏe khi ốm đau. Tuy nhiên tại bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh tình trạng quá tải vẫn thường xuyên xảy ra. Với tổng số dân là 13.570 người trong đó hơn 80% dân số sống bằng nghề nông, Thanh Lãng là một trong 3 xã, thị trấn có sổ dân đông nhất trong huyện, số đối tượng nhân dân tham gia BHYTTN không tăng qua các năm, năm 2006 sổ tham gia là 497 người, năm 2007 giảm xuống còn 338 người và năm 2008 số tham gia cũng chỉ dừng lại ở 473 người chiếm tỷ lệ 3,49% so với dân số [3], [4], [2]. Đây cũng là xã có tỷ lệ sử dụng thè BHYTTN tại TYT năm 2008 thấp nhất trong huyện (2,4 lần/năm) trong khi xã Tam Hợp lên tới 3,1 lần/ năm [42], Việc mở rộng đối -3- lượng nhân dân thain gia BHYTTN cũng như tăng cường chất lượng KCB BHYT tại TYT là một trong những mục tiêu của Bào hiểm xã hội (BHXH) huyện Bình Xuyên.
Với đặc điểm “tự nguyện”, đây là nhóm đổi tượng nhạy cảm với việc KCB khi ốm daư và cũng là nhóm mang nguy cơ ốm đau nhiều hơn. Câu hỏi đặt ra là thực trạng sứ dụng thẻ BHYTTN tại TYT của nhóm đối tượng này như thế nào? Những yếu tố nào ánh hưởng đến việc sư dụng thẻ khi đi KCB? Cho đến nay trên địa bàn huyện Bình Xuyên nói chung và Thanh Lãng nói riêng chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến sử dụng thẻ BHYTTN của người dân tại Trạm Y tế Thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc, năm 2009” với mong muốn tìm ra được những khuyến nghị phù hợp góp phần cải thiện việc CSSK cho người tham gia BHYTTN tiến tới bao phủ BHYT toàn dân vào năm 2014. -4- MỤC TIÊU NGHIÊN cúu Mục tiêu chung Mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến sử dụng thè bảo hiểm y tế tự nguyện cùa người dân tại Trạm Y tế Thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, năm 2009.
Mục tiêu cụ thê 1. Mô tả thực trạng sử dụng thè Bảo hiểm Y tế tự nguyện cùa người dân tại TYT Thị trấn Thanh Lãng, huyện Binh Xuyên, tinh Vĩnh Phúc, năm 2009. Xác định một số yếu tố liên quan đến sư dụng the Báo hiểm Y tế tự nguyện cứa người dân tại TYT Thị trấn Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tinh Vĩnh Phúc, năm 2009. -5- Chtroìig 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm BHYT xã hội là chương trình BHYT trong đó mức phí bào hiểm thường được tính theo tỷ lệ thu nhập của người lao động, trong khi quyền lợi KCB dược hưởng không theo mức đóng góp mà theo nhu cầu khám, chừa bệnh. Quỹ BHYT xã hội được hình thành lừ nguồn đóng góp của người lao động, chú sử dụng lao dộng và Chính phũ. Chương trình BHYT xã hội được thực hiện bắt buộc theo luật định, nên còn gọi là BHYT bắt buộc (BHYTBB). BHYT toàn dãn là chương trình BHYT xã hội bao phù dược toàn bộ dân số.Trong một số trường hợp.
có thể công bố đạt được mục tiêu bao phù toàn dân khi tỷ lệ bao phủ dưởi 100%. nhưng với điều kiện những người chưa có BHYT phái được bảo vệ trước rủi ro bệnh tật bàng những cơ chế tài chính V tế an toàn khác. BHYT thưong mại, BHYT tư nhân là chương trình kinh doanh BHYT vì lợi nhuận; mức phí BHYT được xác định theo xác suất rủi ro mắc bệnh cùa người hoặc nhóm người tham gia BIIYT. Khác với BHYT xã hội.
quyền lợi của người tham gia BHYT thương mại tùy thuộc vào mức phí BHYT đã đóng. Nhà nước thường không tố chức kinh doanh loại hình BHYT thương mại mà để cho tư nhân kinh doanh, nên còn gọi là BHYT tư nhân. BHYT thương mại là hình thức BHYT tự nguyện, nên ờ một số nước, B11YT thương mại còn được gọi là BHYT tự nguyện. BHYT tự nguyện là chương trình BHYT được thực hiện ở Việt Nam theo nguyên tắc tụ' nguyện và hoàn toàn khác với khái niệm BHYTTN - thương mại ở nước ngoài [14], 1.
BHYT trên Thế giới Mục tiêu của tất cả các Chính phủ trên thế giới đều đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho người dân với chất lượng tốt nhất có thể. Tuy nhiên do nguồn lực có hạn nên mỗi Chính phu tự tìm cho mình một mô hình tài chính BHYT riêng. Đúc: Từ năm 1883, Thu tướng Bismarck đã thiết lập BHYT đầu tiên trên thế giới dành cho công nhân trong khu vực công nghiệp có lương thấp hơn một mức nhất định. Năm 1911 Luật cùa Hoàng đế về BHXH được thông qua [19], Mô hình tài chính dựa vào sự dóng góp của chủ sử dụng lao động và người lao động này đèn nay đã hoạt động dược trên 100 năm.
BHYT Đức thực hiện bắt buộc với người làm công ăn lương, người thât nghiệp, tàn tật, hưu trí, sinh viên. Có khoảng 85% dân sô được bảo hiểm theo chế độ bắt buộc. Hiện tại, nước Đức có 267 quỹ BHYT hoạt động nham đảm bảo nhiều người tham gia [9]. Áo: Gần giống như Đức, các quỹ BHYT đóng vai trò rất quan trọng đối với việc quản lý các hoạt động y tế.
BHXH ở Áo được lập ra từ năm 1889 và mờ rộng dần cho tất cả những người làm công ăn lương và cho người làm nghề tự do. Năm 1920, một chế độ riêng cho viên chức ra đời. Mãi cho đến năm 1965 thì BHYT mới trở thành bắt buộc đối với người làm nghề nông [19]. Nhật Bân: thực hiện luật BHYTBB từ năm 1992, nhưng tới năm 1961 mới bắt đầu triển khai BHYT toàn dân.
Có hai loại quỹ BHYT chính ở Nhật là quỹ BHYT quốc gia với 45 triệu thành viên tham gia bao gồm người lao động tự do, nông dân và người và người không có nghề nghiệp, loại thứ hai là BHYT cho người làm công ăn lương với khoảng 61 triệu thành viên tham gia. Bệnh nhân cùng chi trả chi phí KCB theo các mức khác nhau: Người lao dộng tự do tự trả 30% chi phí, công chức 20% chi phí và người lao động hưởng lương tự trả 10% chi phí. Tuy vậy, sau 40 năm thực hiện BHYT toàn dân. BHYT Nhật Bản đang đứng trước thừ thách khủng hoàng tài chính do mất cân đoi thu chi.
Việc cấp bách của hệ thống BHYT Nhật Bản là giảm thiêu chi phí y tê nhưng vẫn bảo đảm chất lượng các dịch vụ y tế. Ba giải pháp cơ bản đang được triền khai là: sử dụng thuốc hợp lý; thay đổi phương thức thanh toán theo phí dịch vụ bang phương thức thanh toán khác; khám chữa bệnh theo tuyến chuyên môn kỳ thuật [21], Hàn Quốc: Năm 1997, Hàn Quốc ban hành Luật BHYT bắt buộc toàn dân. Đen năm 1989 gần 100% người dân có BHYT.