CHƯƠNG I:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ I, Sức ép về phát triển kinh tế xã hội đã tác động nhiều tới môi trường tự nhiên. Nước ta là nước đang trên đà phát triển mạnh mẽ, nhiều mặt hàng đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao như : nông sản, thực phẩm … Nhưng song song với sự phát triển kinh tế, nhiều bất cập đã xảy ra đặc biệt là vấn đề môi trường. Chúng ta đang phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường hết sức nghiêm trọng. Sức ép phát triển kinh tế –xã hội –dân số đã tác động nhiều mặt tới môi trường tự nhiên.
Sự phát triển này tạo ra lượng chất thải vượt quá khả năng chịu đưng cảu môi trường tạo ra sự thay đổi chất lượng môi trường, gây ra những tác động xấu tới sức khoẻ con người và gây ra nhiều tai biến, làm giảm nhanh chóng những loài động thực vật quí hiếm.Tăng trưởng kinh tế và vấn đề chất thải ở Việt Nam: 1. Chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế làm gia tăng lượng chất thải vào môi trường. Nhằm mục tiêu chiến lược mà đảng đã xác định “Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp ”, và rút ngắn khoảng cách tụt hậu về kinh tế của đất nước, của các ngành, địa phương đều định hướng vào tăng gấp đôi GDP và hơn nữa trong mỗi thập kỷ (10 năm) phát triển. Điều có nghĩa là phải duy trì một tốc độ tăng trưởng GDP hang năm trong một khoảng thời gian dài ở mức độ cao khoảng 7-8%(Tài liệu tham khảo : Kinh tế chẩt thải trong phát triển bền vững –NXB Chính trị quốc gia) Nếu như trình độ công nghệ của sản xuất và cơ cấu sản xuất của nền kinh 6 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp tế không được cải thiện nhiều thì sự tăng trưởng GDP của đất nước cũng có nghiã là gia tăng khối lượng tài nguyên khai thác cho sản xuất và tăng lượng chất thải vào môi trường.Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế làm ảnh hưởng đến môi trường : Các phương án phát triển được đề xuất cả tầm vĩ mô(cả nứơc), tầm trung mô ( ngành, địa phương), và vi mô ( công ty doanh nghiệp ) đều có nét chung nổi bật là tốc độ tăng trưởng cao của sản xuất công nghiệp, xây dựng và dịch vụ ( thường được xác định khoảng 12-15 % /năm ) so với sản xuất nông nghiệp ( thường được xác định khoảng 4-6% /năm ).
Sự tăng trưởng cao như vậy của các ngành công nghiệp và xây dựng nhất định sẽ dẫn đến các vấn đề môi trường cần quan tâm đặc biệt bởi lẽ đằng sau mức tăng trưởng của sản xuất công nghiệp tiềm ẩn sự gia tăng của lượng chất thải. Nếu như để ý rằng, ít ra trước thềm của thế kỉ 21, định hướng phát triển của công nghiệp Việt Nam sẽ nhằm vào các ngành mà đất nước hiện có lợi thế so sánh như : công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí, điện năng, chế biến nông lâm hải sản, dệt may, thì sẽ càng thấy tiềm ẩn nguy cơ lớn về ô nhiễm môi trường do chất thải. Bởi lẽ các ngành công nghiệp nói trên đều thuộc danh mục các nguồn chất thải lớn nhất gây ô nhiễm môi trường.Vấn đề đô thị hoá, công nghiệp hoá và môi trường. Hiện nay dân số đô thị nước ta khoảng trên 15 triệu người, chiếm hơn 20 % dân số cả nước.
Dự boả tỉ kện dân số đô thị ở nước ta đến năm 2010 lên tới 35-48 triệu người, trong đó khoảng 55-65 % thuộc ba thành phố lớn : Hà Nội, Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh (Tài liệu tham khảo : Giáo trình Dân số môi trường - Đại học Kinh tế quốc dân ). Sự tăng trưởng dân số đô thị nhanh cùng với quá trình đô thị hoá như : xây dựng các khu dân cư, đường xá …kèm theo là nguồn thải gây ô nhiễm môi trường ngày càng phức tạp, lượng 7 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp chất htải gia tăng, nếu không có quy hoạch và các giải pháp bảo vệ môi trường tích cực thì đó sẽ là một nguy cơ gây ô nhiễm lớn. Tốc độ công nghiệp hoá của cả nước ta đang ở mức độ cao chưa từng thấy và có nơi đạt đến con số 35-40 % / năm. Nhiều khu chế xuất và khu công nghiệp tập trung đã và đang hình thành.
Theo định hướng quy hoạch đến năm 2010 trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam sẽ hình thành khoảng 50 khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất trên diện tích đất khoảng 23 nghìn ha. Cho đến nay cả nước đã có 33 khu công nghiệp tập trung được hình thành, hàng trăm nhà máy mới nằm trong các khu công nghiệp trên đã đi vào hoạt động. Công nghiệp cần phát triển thì nguồn thải độc hại gây ô nhiễm môi trường càng lớn, tài nguyên thiên nhiên cang bị khai thác triệt để, môi trường gây ảnh hưởng xấu đối với sức khoẻ người lao động. Trong những năm gần đây, nhà nước đã ra nhiều chỉ thị và văn bản về những vấn đề cấp bách trong công tác quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp.
Có thể kể đến như: +Nghị định 26/CP của Chính phủ về việc xử phạt hành chính về vi phạm môi trường -26/04/1996. +Chỉ thị số 36 –CT/TW của bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. +Thông tư 490 –BKHCNMT về việc hướng dẫn ĐTM. Song tình hình quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp vẫn đang còn là vấn đề nan giải.
Lượng chất thải thu gom được chủ yếu đổ vào các bãi rác không đúng kỹ thuật vệ sinh, hầu hết chất thải rắn, kể cả chất thải độc hại không được xử lý hoặc không thích đáng. Các thiết bị thu gom và vận chuyển rác thải ở hầu hết các đô thị còn lạc hậu và không đáp ứng được 8 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp nhu cầu thu gom dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước và môi trường đất, đặc biệt là làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới tình trạng sức khoẻ của người công nhân làm việc trực tiếp. Chính vì vậy, quản lý chất thải rắn đô thị là vô cùng cấn thiết, nhằm khắc phục những tác động tiêu cực, ngăn chặn những ảnh hưởng xấu do rác thải gây ra, tạo điều kiện vừa phát triển kinh tế vừa đảm bảo sức khoẻ cộng đồng, tào đà đưa đất nước phát triển theo sự bền vững.Quản lý chất thải rắn đô thị.Khái quát chung về rác thải. Khái niệm rác thải.
“Trong qua trình sinh hoạt của con người, một bộ phận vật chất không còn hoặc không có giá trị sử dụng nữa gọi là rác thải sinh hoạt” Hay nói cách khác, rác thải sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh từ hoạt động ăn, ở và sinh hoạt khác của con người. Như vậy, thuật ngữ chất thải sinh hoạt được dùng để chỉ tất cả các loại chất thải phát sinh từ hoạt động của con người hàng ngày như thức ăn thừa, rác quét nhà, giấy lộn, đồ gỗ cũ bị thay thế … vì vậy, để phân biệt rác thải và chất thải rắn nói chung thì phải dựa vào nguồn goóc tạo ra chúng - Chất thải phát sinh từ hoạt động công nghiệp gọi là chất thải công nghiệp -Chất thải được thải ra từ hoạt động sản xuất nông nghiệp gọi là chất thải nông nghiệp. -Chất thải rắn được thải ra từ qua trình sinh hoạt của con người gọi là rác thải. 9 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp -Chất thải phát sinh từ hoạt động dịch vụ được gọi là chất thải dịch vụ.
Trong nhiều trường hợp chất thải dịch vụ gọi là rác thải. Ví dụ như chất thải từ các nhà ăn, khách sạn. Tuy nhiên khái niệm trên chỉ đúng trên quan điểm tĩnh và khái quát một cách chung nhất về rác thải. Còn trên quan điểm động có tính lịch sử thì rác thải còn bị giới hạn bởi nhiều yếu tố như công nghệ và yếu tố quản lý … Bởi vì càng ngày khoa học kỹ thuật càng phát triển, nhận thức của con người cũng được nâng cao.
Cho nên, con người không hoàn toàn nhìn nhận chất thải là thứ bỏ đi mà sử dụng lại nó dưới nhiều hình thức khác nhau. Nguồn phát sinh và phân loại rác thải. a, Nguồn phát sinh : Lượng rác thải sinh hoạt ở đô thị của Việt Nam mỗi ngày khoảng 9000 tấn chiếm 47% tổng lượng rác thải ( Tài liệu tham khảo :Kinh tế chất thải đô thị ở Việt Nam –NXB Chính trị quốc gia Hà Nội ) chúng phát sinh từ các nguồn. : -Nguồn phát sinh từ hộ gia đình ( rác thải ) : đây là nguồn phát sinh thường xuyên và lớn nhất, ít có biến động lớn về khố lượng phát sinh -Nguồn phát sinh từ các nơi sinh hoạt công cộng ( rác chợ) : chợ, cửa hàng, nhà hàng … -Rác từ các cơ quan, trường học, bệnh viện, doanh nghiệp … -Rác đường phố : do các hoạt động của con người tạo ra như : đi lại, chuyên chở, xây dựng.
-Từ các hoạt động sinh trưởng và phát triển của các loài thực vật. Nguồn này nhìn chung khối lượng bé và thay đổi theo từng mùa, điều này phụ thuộc vào hoạt động sinh lý của từng loài. Chẳng hạn như về mùa thu cây rụng nhiều hơn làm khối lượng chất thải phát sinh gia tăng. 10 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp b.Phân loại rác thải.
*Phân loại chất thải sinh hoạt theo tính chất hoá học được chia thành 3 loại chính sau : -Chất thải sinh hoạt hữu cơ ,lá cây : hoa quả, rau, và phần lọc ra từ thịt và xương, nhưng thức ăn thừa, cành lá cắt bỏ của vườn và công viên hoặc cây cối trên đường phố. - Chất thải sinh hoạt vô cơ gồm : nilon, đồ nhựa, cao su, kim loại, vỏ đồ hộp, thuỷ tinh, sành sứ. - Chất thải độc hại như : pin, ắcqui, cặp nhiệt độ … *Phân loại theo mục đích sử dụng có thể chia làm 4 loại như sau : - Chất thải làm phân vi sinh : Rau, củ, quả, cơm thừa … - Chất thải tái chế : kim loại, nhựa thuỷ tinh … - Chất thải chôn lấp:xỉ than, đất cát, sành sứ vỡ … - Chất thải nguy hại : Pin, ắcqui, cặp nhiệt độ … Sự phân chia các loại rác thải sinh hoạt mang tính chất tương đối, nó tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu mà người ta có thể chia thành 3 loại, 4 loại, hoặc 5 loại.Ảnh hưởng của rác thải đến môi trường : Khi nền kinh tế càng tăng trưởng thì khối lượng rác thải cũng ngày càng phát sinh nhiều.