ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Trong những thập kỷ gần đây, người ta đã chú trọng nhiều đến việc phát triển hệ thống sản xuất nông nghiệp bền vững, trong đó ngành chăn nuôi là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổng thể. Tuy nhiên sản xuất chăn nuôi đang phải đối đầu với những khó khăn không chỉ về mặt kỹ thuật như việc cung cấp thức ăn, sức khỏe gia súc, tạo giống và quản lý mà cả những yếu tố môi trường, kinh tế và xã hội. Ở nhiều nước trên thế giới, nông dân ngày càng mở rộng mô hình chăn nuôi theo hướng chuyên môn hóa. Năng suất cá thể gia súc và năng suất vật nuôi trên một đơn vị ha đất cũng như quy mô trang trại đang tăng lên một cách đáng kể.
Tuy nhiên sự thâm canh với mật độ ngày càng cao như hiện nay cũng đã và đang làm phát sinh những vấn đề gây sự quan tâm từ xã hội đó là ô nhiễm môi trường. Việc thu trữ và xử lý các chất thải chăn nuôi gặp nhiều khó khăn khi tăng cường thâm canh. Tác động do các chất thải chăn nuôi lên chất lượng môi trường không khí, đất và nước đã làm ảnh hưởng trực tiếp tới hệ sinh thái, đến chuỗi thức ăn và sức khỏe con người. Ô nhiễm mùi và nước thải từ các chất thải chăn nuôi trong chuồng trại, các hệ thống lưu trữ hoặc từ quá trình sử dụng phân bón trên đồng ruộng đang là vấn đề quan tâm của các nhà quản lý môi trường và của nhân dân trong các khu vực chăn nuôi nhất là ở nơi có mật độ gia súc gia cầm cao.
Việc thể chế hóa thành luận pháp và xây dựng các biện pháp nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của các hệ thống chăn nuôi đến môi trường và tái sử dụng kinh tế chất thải đang là vấn đề cấp thiết. Nước ta là một nước nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế - xã hội nước ta. Những năm qua, ngành chăn nuôi phát triển khá mạnh về cả số lượng lẫn quy mô. Tuy nhiên, việc chăn nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ, thiếu quy hoạch, nhất là các vùng dân cư đông đúc 1 đã gây ra ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng.
Ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây nên chủ yếu từ các nguồn chất thải rắn, chất thải lỏng, bụi, tiếng ồn, xác gia súc, gia cầm chết chôn lấp, tiêu hủy không đúng kỹ thuật. Một kết quả kiểm tra mức độ nhiễm khuẩn trong chuồng nuôi gia súc cho thấy, tổng số vi khuẩn trong không khí ở chuồng nuôi cao gấp 30-40 lần so với không khí bên ngoài. Đối với các cơ sở chăn nuôi, các chất thải gây ô nhiễm môi trường có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người, làm giảm sức đề kháng vật nuôi, tăng tỷ lệ mắc bệnh, các chi phí phòng trị bệnh, giảm năng suất và hiệu quả kinh tế. Sức đề kháng của gia súc, gia cầm giảm sút sẽ là nguy cơ gây nên bùng phát dịch bệnh.
Vì vậy, WHO [2005] khuyến cáo phải có các giải pháp tăng cường việc làm trong sạch môi trường chăn nuôi, kiểm soát, xử lý chất thải, giữ vững được an toàn sinh học, tăng cường sức khỏe các đàn giống. Các chất thải chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường do vi sinh vật (các mầm bệnh truyền nhiễm) là đặc biệt nguy hiểm, vì nó sẽ làm phát sinh các loại dịch bệnh như ỉa chảy, lở mồm long móng, tai xanh, cúm gia cầm H5N1. Một trong những tỉnh có điển hình về chăn nuôi theo quy mô trang trại của vùng đồng bằng sông Hồng đó là tỉnh Hưng Yên trong đó có xãLiên Nghĩa. Là một xã thuộc huyện Văn Giang nằm cách Hà Nội khoảng 17km về phía Đông dọc theo Quốc Lộ 5 hướng đi Hà Nội- Hải Phòng.
Diện tích của xã đa phần chạy dọc ven bờ đê sông Hồng, từ lâu đã nổi tiếng với nghề trồng cây cảnh và chăn nuôi theo mô hình trang trại. Do phải đáp ứng với nhu cầu phát triển không ngừng của nền kinh tế thị trường đòi hỏi cung cấp một lượng lớn các sản phẩm từ chăn nuôi, vì thế quy mô các trang trại chăn nuôi của các hộ trongxã ngày càng được mở rộng, kéo theo là những hệ lụy không thể tránh khỏi đến môi trường khi công tác quản lý chất thải sinh ra chưa được quan tâm đúng mức. Đây là lý cũng là lý do đề tài “Đánh giá hiện trạng 2 quản lý chất thải trang trại chăn nuôi lợn tại xã Liên Nghĩa – huyện Văn Giang – tỉnh Hưng Yên và đề xuất một số phương pháp quản lý”được thực hiện nghiên cứu.2 Mục đích và nội dung nghiên cứu. - Đánh giá hiện trạng chăn nuôi lợn tại xã Liên Nghĩa và những áp lực của nó đối với môi trường xung quanh.
- Đánh giá sơ bộ chất lượng môi trường xung quanh trang trại và tính toán lượng chất thải của trang trại. - Hiện trạng các biện pháp xử lý đã và đang được sử dụng tại trang trại. - Đề suất một số giải pháp quản lý môi trường trong quản lý rác thải chăn nuôi tại trang trại nghiên cứu.3 Yêu cầu của nghiên cứu - Các số liệu điều tra phải chính xác, khách quan và đáng tin cậy. - Nội dung nghiên cứu phải thực hiện được các mục tiêu đề ra.
- Gỉai pháp phải khả thi, đáp ứng các yêu cầu về xử lý ô nhiễm môi trường của khu vực. 3 PHẦN II: TỔNG QUAN 2.1 Hiện trạng phát triển chăn nuôi trên thế giới và Việt Nam 2.1 Hiện trạng chăn nuôi trên thế giới 2.1 Tình hình dân số thế giới Theo số liệu thống kê năm 2010 dân số của toàn cầu hiện nay trên 6,7 tỷ người, dự báo mỗi năm dân số thế giới tăng 0,7-0,8 triệu. Châu lục có cư dân lớn nhât đó là Châu Á với số lượng 4.166,0 triệu người tiếp đến là Châu Phi có 1.033,7 triệu dân, Châu Âu 732,7 triệu, Mỹ La Tinh 588,6 triệu, Bắc Mỹ 351,6 triệu và Châu Đại Dương 35,8 triệu người. Tính riêng Châu Á đã chiếm trên 60% dân số thế giới, nếu cả Châu Á và Châu Phi chiếm trên 70% dân số toàn cầu.
Năm cường quốc về dân số trên thế giới số một là Trung Quốc 1.332,0 triệu người, tiếp theo là Ấn Độ 1.177,8 triệu người, thứ ba là Hoa Kỳ 311,1 triệu, bốn Indonesia 243,7 triệu và thứ năm Brazin 201,7 triệu người. Theo số liệu thống kê thế giới dự kiến đến năm 2050 dân số toàn cầu có số lượng trên 9,5 tỷ người. Các vấn đề liên quan đến con người đến nông nghiệp, lương thực, thực phẩm, môi trường sống và đói nghèo là những vấn đề luôn được cả loài người quan tâm. Khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới từ năm 2007 đã ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế của nhân loại và có nguy cơ làm gia tăng tỷ lệ đói nghèo trên toàn cầu (FAO).2 Hiện trạng chăn nuôi Thế giới Lương thực, thực phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề sống còn của nhân loại.
Ngày nay nông nghiệp có vai trò quan trọng cung cấp lương thực và các loại thực phẩm nuôi sống cả nhân loại trên trái đất. Ngành chăn nuôi không chỉ có vai trò cung cấp thịt, trứng, sữa là các thực phẩm cơ bản cho dân số của cả hành tinh mà còn góp phần đa dạng nguồn gen và đa dạng sinh học trên trái đất. Số lượng vật nuôi 4 Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới - FAO năm 2009 số lượng đầu gia súc và gia cầm chính của thế giới như sau: Tổng đàn trâu 182,2 triệu con và trâu phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á, tổng đàn bò 1.164,8 triệu con, dê 591,7 triệu con, cừu 847,7 triệu con, lợn 887,5 triệu con, gà 14.191,1 triệu con và tổng đàn vịt là 1. Tốc độ tăng về số lượng vật nuôi hàng năm của thế giới trong thời gian vừa qua thường chỉ đạt trên dưới 1% năm.
Hiện nay các quốc gia có số lượng vật nuôi lớn của thế giới như sau: Về số lượng đàn bò nhiều nhất là Brazin 204,5 triệu con, nhì Ấn Độ 172,4 triệu, thứ ba Hoa kỳ 94,5 triệu, thứ tư là Trung Quốc 92,1 triệu, thứ năm Ethiopia và thứ sáu Argentina có trên 50 triệu con bò. Chăn nuôi trâu số một là Ấn Độ 106,6 triệu con (chiếm trên 58% tổng số trâu của thế giới), thứ hai Pakistan 29,9 triệu trâu, thứ ba Trung Quốc 23,7 triệu con, bốn Nepan 4,6 triệu con, thứ năm Egypt 3,5 triệu, thứ sáu Philippine 3,3 triệu con và Việt Nam đứng thứ 7 thế giới đạt 2,8 triệu con trâu. Các cường quốc về chăn nuôi lợn của thế giới: số đầu lợn hàng năm số một là Trung Quốc 451,1 triệu con, nhì Hoa Kỳ 67,1 triệu, ba Brazin 37,0 triệu, Việt Nam đứng thứ 4 có 27,6 triệu con và thứ năm Đức 26,8 triệu con lợn. Về chăn nuôi gà số một Trung Quốc 4.702,2 triệu con gà, nhì Indonesia 1.341,7 triệu, ba Brazin 1.205,0 triệu, bốn Ấn Độ 613 triệu và năm Iran 513 triệu con gà.
Việt Nam về chăn nuôi gà có 200 triệu con đứng thứ 13 thế giới. Chăn nuôi Vịt nhất Trung Quốc có 771 triệu con, nhì Việt Nam 84 triệu, ba Indonesia 42,3 triệu, bốn Bangladesh 24 triệu và thứ năm Pháp có 22,5 triệu con Vịt. Về số lượng vật nuôi của thế giới, các nước Trung quốc, Hoa kỳ, Ấn Độ, Brazin, Indonesia, Đức là những cường quốc, trong khi đó Việt Nam 5 cũng là nước có tên tuổi về chăn nuôi: đứng thứ 2 về số lượng vịt, thứ 4 về heo, thứ 6 về số lượng trâu và thứ 13 về số lượng gà. *Sản phẩm chăn nuôi Thịt gia súc, gia cầm : Với số lượng vật nuôi như trên, tổng sản lượng thịt sản xuất năm 2009 của thế giới trên 281 triệu tấn, trong đó thịt trâu chiếm 3,30 triệu tấn, thịt bò 61,8 triệu, thịt dê 4,9 triệu tấn, thịt cừu 8,1 triệu tấn, thịt lợn 106 triệu tấn, thịt gà 79,5 triệu tấn, thịt vịt 3,8 triệu tấn và còn lại là các loại thịt khác như thỏ, ngựa, lạc đà, lừa.Cơ cấu về thịt của thế giới nhiều nhất là thịt lợn chiếm 37,7%, thịt gà 28,5%, thịt bò 22,6% tổng sản lượng thịt, còn lại 12,7% là thịt dê, cừu, ngựa , trâu, vịt và các vật nuôi khác.
Nếu dân số của thê giới hiện nay trên 6,7 tỷ người thì bình quân về số lượng thịt trên đầu người là khoảng 41,9 kg/người/năm, trong đó các nước phát triển đạt trên 80 kg/người/năm và các nước đang phát triển đạt khoảng 30 kg/người/năm.