ĐẶT VẤN ĐỀ Những năm vừa qua là những năm khó khăn chung của cả nƣớc về phát triển kinh tế trong đó có Lạng Sơn. Tuy nhiên, nhờ có những chính sách khuyến khích và thu hút đầu tƣ phù hợp cùng một số những mặt lợi thế khác của t nh mà thành phố Lạng Sơn vẫn là một trong những địa phƣơng có tốc độ tăng trƣởng kinh tế cao so với cả nƣớc. Đi cùng với quá trình tăng trƣởng kinh tế và sự phát triển đời sống xã hội, thành phố Lạng Sơn đang phải đối mặt với sự suy giảm của chất lƣợng môi trƣờng làm cho môi trƣờng có chiều hƣớng bị suy thoái. Hệ sinh thái, đa dạng sinh học bị suy giảm, sự gia tăng, biến đổi của các hiện tƣợng thời tiết cực đoan nguyên nhân một phần cũng do từ các hoạt động của con ngƣời.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong công tác bảo vệ môi trƣờng nhằm giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực từ quá trình phát triển kinh tế - xã hội đến môi trƣờng và cũng đã đạt đƣợc một số thành quả đáng khích lệ, tuy nhiên công tác Bảo vệ môi trƣờng của thành phố Lạng Sơn cũng gặp không ít những khó khăn, bất cập. Đặc biệt là trong việc theo d i, giám sát, phân nhóm chất thải nguy hại của các doanh nghiệp nằm trên địa bàn thành phố Lạng Sơn. Nhiệm vụ quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại đã đƣợc Chính phủ và Nhà nƣớc quan tâm đặc biệt và đã ban hành nhiều ch thị và đặc biệt trong Luật bảo vệ môi trƣờng 2014 đã ban hành các điều khoản về quản lý và thu gom xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại rất chặt chẽ nhằm bảo vệ môi trƣờng. Từ năm 1997, Chính phủ đã quan tâm tới hoạt động quản lý chất thải nguy hại, cụ thể, ngày 03/4/1997, đã ban hành Ch thị số 199/TTg về các biện pháp khẩn cấp để quản lý chất thải rắn ở vùng đô thị và khu công nghiệp.
2 Năm 1999, Chính phủ đã xây dựng thành công Chiến lƣợc quốc gia về quản lý chất thải rắn ở và đô thị đến năm 2020 và đƣợc phê duyệt theo Quyết định số 152/1999/QĐ-TTg ngày 10/7/1999. Tiếp đó, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trƣờng đã ban hành Quyết định số 60/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 7/8/2002 về ban hành Hƣớng dẫn kỹ thuật chôn lấp chất thải nguy hại. Trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2014, hàng loạt văn bản trong lĩnh vực này đƣợc ban hành trên cơ sở Luật Bảo vệ môi trƣờng năm 2005 nhƣ: Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 về quản lý chất thải rắn; quyết định số 2149/2009/ QĐ-TTg ngày 17/12/2009 phê duyệt Chiến lƣợc quốc gia về quản lý chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn tới năm 2050; thông tƣ số 12/2006/TT-BTNMT; thông tƣ số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 quy định về quản lý chất thải nguy hại. Thông tƣ số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 quy định về quản lý chất thải nguy hại.
Nhằm thực hiện nâng cao công tác quản lý nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng đối với các nguồn thải đặc biệt chất thải nguy hại, chất thải rắn đồng thời đánh giá thống kê công tác bảo vệ môi trƣờng của các cơ sở sản xuất trên địa bàn thành phố và giám sát việc thực hiện tuân thủ của pháp luật về bảo vệ môi trƣờng đối với chất thải nguy hại phát sinh từ các cơ sở sản xuất trên toàn thành phố. Sở Tài nguyên Môi trƣờng đã triển khai thực hiện kế hoạch: Thực hiện mạng lƣới quan trắc môi trƣờng định kỳ trên địa bàn t nh hằng năm, thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ môi trƣờng. Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn thành phố Lạng Sơn” là rất cần thiết. Đề tài nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn thành phố Lạng Sơn là tài liệu tổng hợp một cách hệ thống các thông tin, số liệu, hiện trạng và tình hình chất thải nguy hại của các cơ sở, đơn vị và doanh nghiệp là các chủ nguồn thải chất thải nguy hại có khả năng gây tác động xấu đến môi trƣờng.
Báo cáo cũng nhận xét khá đầy đủ về thực trạng 3 thải và công tác xử lý của các chủ nguồn thải, trên cơ sở đó đƣa ra đƣợc những tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trƣờng nhằm cải thiện chất lƣợng môi trƣờng, nâng cao hiệu quả của công tác Bảo vệ môi trƣờng trên địa bàn thành phố trong những năm tới. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI 1. Khái niệm chất thải nguy hại: Khái niệm chất thải nguy hại lần đầu tiên xuất hiện vào thập niên 70 thế k 20 tại các nƣớc Âu - Mỹ, sau đó mở rộng ra nhiều quốc gia khác. Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về chất thải nguy hại nhƣ: Theo định nghĩa của PHILIPPINE: chất thải nguy hại là những chất có độc tính, ăn mòn, gây kích thích, hoạt tính, có thể cháy, nổ mà gây nguy hiểm cho con ngƣời và động vật.
Theo định nghĩa của CANADA: chất thải nguy hại là những chất mà do bản chất và tính chất có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con ngƣời và/hoặc môi trƣờng, và những chất này yêu cầu các kĩ thuật xử lý đặc biệt để loại bỏ hoặc giảm đặc tính nguy hại của nó. Theo UNEP: Ngoài chất thải phóng xạ và chất thải y tế, chất thải nguy hại là chất thải (dạng rắn, lỏng, bán rắn, và các bình chứa khí) do hoạt tính hóa học, độc tính, nổ, ăn mòn hoặc các đặc tính khác, gây nguy hại có khả năng gây nguy hại đến sức khỏe con ngƣời hoặc môi trƣờng bởi chính bản thân chúng hay khi đƣợc cho tiếp xúc với chất thải khác. Tại Việt Nam: chất thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính nguy hại khác), hoặc tƣơng tác với chất khác gây nguy hại đến môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời. Chất thải nguy hại là: những chất thải có những đặc tính sau: Độc hại, dễ cháy, dễ ăn mòn, dễ nổ, dễ lây nhiễm.
Với tốc độ phát triển liên tục của công nghiệp hoá, những vấn đề về môi trƣờng, trong đó có quản lý chất thải nguy hại đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt để 5 đối phó ngay một cách nghiêm túc, kịp thời trƣớc khi vấn đề trở nên trầm trọng. Bài viết nêu kinh nghiệm của một số nƣớc trong lĩnh vực này, điểm lại thực trạng ở Việt Nam và đƣa ra cơ chế quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam, theo đó cần kết hợp chặt chẽ giữa việc xây dựng một hệ thống pháp luật “cứng” với các chính sách “mềm” nhằm bảo đảm sự cân bằng hai lợi ích - thúc đẩy sự phát triển kinh tế và ngăn ngừa, giảm thiểu tác hại đến môi trƣờng. Hiện nay, trên phạm vi toàn quốc, tổng lƣợng chất thải nguy hại trên địa bàn toàn quốc vào khoảng 150. Tỷ lệ phát sinh chất thải rắn nguy hại của các ngành, các lĩnh vực kinh tế, xã hội đƣợc sắp xếp theo thứ tự nhƣ sau: Ngành công nghiệp nhẹ: 61.543 tấn/năm; Ngành hoá chất: 32.296 tấn/năm, Ngành cơ khí luyện kim: 26.331 tấn/năm, chất thải bệnh viện: 10.460 tấn/năm, Ngành nông nghiệp: 8.600 tấn/năm, chất thải sinh hoạt: 5.037 tấn/năm, nguy hại đến sức khỏe con ngƣời hoặc môi trƣờng bởi chính bản thân chúng hay khi đƣợc cho tiếp xúc với chất thải khác.
- Chất thải nguy hại luôn là một trong những vấn đề môi trƣờng trầm trọng nhất mà con ngƣời dù ở bất cứ đâu phải tìm cách để đối phó. Phải hiểu chất thải nguy hại là gì và tác hại của nó nhƣ thế nào mới giúp chúng ta có cơ sở đặt ra các quy định để quản lý nó. Hiện nay ở Việt Nam có hai văn bản pháp luật nêu định nghĩa về chất thải nguy hại: + Theo Quy chế quản lý chất thải nguy hại năm 1999: “Chất thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác), hoặc tƣơng tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trƣờng và sức khoẻ con ngƣời” Luật bảo vệ môi trƣờng ban hành sau này nêu định nghĩa ngắn gọn hơn, r ràng hơn và gần nhƣ là sự khái quát của định nghĩa trong Quy chế quản lý chất thải nguy hại 6 + Theo Luật bảo vệ môi trƣờng 2014: “Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phúng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác” Tuy có sự khác nhau về từ ngữ nhƣng cả hai định nghĩa đều có nội dung tƣơng tự nhau, giống với định nghĩa của các nƣớc và các tổ chức trên thế giới, đó là nêu lên đặc tính gây huy hại cho môi trƣờng và sức khỏe cộng đồng của chất thải nguy hại. Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại Dựa trên các quy định của Quy chế quản lý chất thải nguy hại và Luật bảo vệ môi trƣờng 2014, khái niệm pháp luật về quản lý chất thải nguy hại có thể đƣợc hiểu nhƣ sau: Đó là một hệ thống các quy phạm pháp luật điều ch nh mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan đến chất thải nguy hại đối với cơ quan quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng và với nhau trong quy trình quản lý chất thải nguy hại nhằm bảo vệ môi trƣờng và sức khỏe cộng đồng.
Với tƣ cách là phƣơng tiện hàng đầu của quản lý nhà nƣớc đối với chất thải nguy hại, pháp luật xác định địa vị pháp lý của các cá nhân, các tổ chức sản xuất kinh doanh có liên quan đến lĩnh vực chất thải nguy hại, tạo hành lang pháp lý để các chủ thể này tham gia vào các quan hệ khai thác, sử dụng các thành phần môi trƣờng. Cũng thông qua pháp luật, Nhà nƣớc với vai trò là chủ thể quản lý tạo ra môi trƣờng thuận lợi, tin cậy và chính thức cho các hoạt động quản lý chất thải nguy hại trong phạm vi cả nƣớc, cần kiểm soát tốt chất thải nguy hại ngay từ nguồn thải đồng thời thực hiện tốt các bƣớc trong quy trình quản lý chất thải nguy hại nhƣ thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lƣu trữ, xử lý và tiêu hủy chất thải nguy hại.