Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và chủ yếu trong nông nghiệp, giữ vai trò quyết định đến năng suất, chất lượng nông sản cũng như thu nhập của người nông dân. Mặc dù Việt Nam là quốc gia có thế mạnh về nông nghiệp, song năng suất lao động trong ngành nông nghiệp vẫn ở mức thấp so với khu vực và thế giới. Một trong những nguyên nhân căn bản dẫn đến tình trạng này là sự manh mún ruộng đất kéo dài qua nhiều thời kỳ. Quá trình giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64/CP và Nghị định 85/1999/NĐ-CP dựa trên nguyên tắc chia đều (“có tốt - có xấu, có cao - có thấp, có gần - có xa”) khiến diện tích đất canh tác bị xé nhỏ thành nhiều ô thửa. Khi nhu cầu sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn vượt qua khuôn khổ diện tích nhỏ lẻ hiện hành, tích tụ đất đai trở thành một xu thế khách quan và tất yếu.

Xã Ngọc Tảo là một xã thuần nông thuộc huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, có diện tích đất canh tác 298,28 ha. Với quỹ đất nông nghiệp tương đối tập trung, địa phương có nhiều thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa quy mô lớn. Thực tế những năm qua tại xã Ngọc Tảo, hoạt động tích tụ đất nông nghiệp đã và đang diễn ra dưới nhiều hình thức như thuê đất công ích của xã, thuê đất nông nghiệp của hộ dân và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Quá trình này giúp mở rộng quy mô, tạo điều kiện đưa máy móc, cơ giới hóa vào đồng ruộng, tăng thu nhập cho nông dân. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Kim Thị Hoài Trang đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: "Nghiên cứu thực trạng tích tụ đất nông nghiệp tại xã Ngọc Tảo, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội".

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu thực trạng tích tụ đất nông nghiệp tại xã Ngọc Tảo, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội; qua đó nhận diện những thuận lợi và khó khăn trong quá trình tích tụ đất đai của người dân và đề xuất các giải pháp khắc phục khó khăn, nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất đai trên địa bàn.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Đánh giá thực trạng tích tụ đất nông nghiệp tại xã Ngọc Tảo, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội;
    • Đánh giá thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện tích tụ đất nông nghiệp của người dân tại xã Ngọc Tảo, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội;
    • Đề xuất giải pháp nhằm khắc phục khó khăn và nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất đai tại xã Ngọc Tảo, huyện Phúc Thọ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng tích tụ đất nông nghiệp phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp tại xã Ngọc Tảo.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Ngọc Tảo, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội; trong đó đi sâu khảo sát một doanh nghiệp nông nghiệp (Công ty Cổ phần Nông trại Chia sẻ Sharefarm) và 18 hộ dân đại diện cho các mô hình tích tụ điển hình.
  • Phạm vi thời gian: Các chuỗi số liệu thống kê thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2010 – 2018; thời gian tác giả thực hiện nghiên cứu đề tài diễn ra từ ngày 20/01/2019 đến ngày 05/05/2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các quy định pháp luật và công trình nghiên cứu chuyên ngành quản lý đất đai:

  • Căn cứ pháp lý: Điều 10 Luật Đất đai năm 2013 về phân loại đất đai (nhóm đất nông nghiệp bao gồm: đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác); Nghị định 64/CP năm 1993; Nghị định 85/1999/NĐ-CP; Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại (tiêu chí diện tích trên 2,1 ha).
  • Khung lý luận: Khái niệm tích tụ đất nông nghiệp theo Đặng Xuân Phương (2008), Xuân Thị Thu Thảo (2016), Nguyễn Đình Bồng (2013). Bản chất tích tụ đất nông nghiệp là phương thức làm tăng quy mô diện tích của chủ thể sử dụng đất thông qua nhận chuyển quyền sử dụng đất (nhận chuyển nhượng, thuê, nhận tặng cho, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, đấu thầu...).
  • Dữ liệu so sánh: Tình trạng manh mún tại Việt Nam với diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người là 0,25 ha (thế giới là 0,52 ha, khu vực là 0,36 ha); cả nước có khoảng 75 triệu thửa đất, bình quân mỗi hộ có từ 6 đến 8 thửa với diện tích từ 0,3 đến 0,5 ha/hộ (Nguyễn Đức, 2008). Tổng quan kinh nghiệm quốc tế tại Mỹ (tập trung giảm từ 6 triệu trang trại năm 1940 xuống 2,1 triệu năm 1990, quy mô bình quân tăng từ 67 ha lên 185 ha), Nhật Bản (bình quân 1,14 ha/trang trại), Trung Quốc (bãi bỏ cấm chuyển nhượng ruộng đất từ năm 1980, quy mô hộ mở rộng 5-6 ha); và thực tiễn các địa phương trong nước như Thái Bình (11.123 ha tích tụ đến năm 2017), Phú Thọ (Thanh Hà - Thanh Ba), Hải Dương (34 mô hình với 527,4 ha), Hà Nội (154 cánh đồng mẫu lớn, 101 vùng rau an toàn tập trung).

Hệ thống phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm:

  1. Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp: Thu thập báo cáo thống kê đất đai giai đoạn 2010 – 2018 từ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phúc Thọ; số liệu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội từ UBND xã Ngọc Tảo; các văn bản chính sách và tài liệu khoa học liên quan.
  2. Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp: Khảo sát thực địa và phỏng vấn cán bộ địa phương (Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND, cán bộ địa chính, cán bộ nông nghiệp, trưởng thôn). Điều tra chọn mẫu chuyên sâu đối với 1 doanh nghiệp (Công ty Cổ phần Nông trại Chia sẻ Sharefarm) và 18 hộ nông dân tích tụ đất điển hình thông qua phiếu điều tra cấu trúc về diện tích, hình thức, chi phí, doanh thu, lao động, thị trường và rào cản thực hiện.
  3. Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất:
    • Hiệu quả kinh tế:
      • Giá trị sản xuất ($GO$): Tổng giá trị sản lượng trên một đơn vị diện tích ($GO = \text{Sản lượng sản phẩm} \times \text{Giá bán sản phẩm}$).
      • Chi phí trung gian ($IC$): Toàn bộ chi phí vật chất sử dụng trong quá trình sản xuất trên 1 ha.
      • Giá trị gia tăng hay thu nhập thuần ($VA$): Hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian ($VA = GO - IC$).
      • Hiệu quả đồng vốn ($HQĐV$): Chỉ tiêu đánh giá chất lượng đầu tư, thể hiện một đồng chi phí trung gian tạo ra bao nhiêu đồng giá trị gia tăng ($HQĐV = VA / IC$).
    • Hiệu quả xã hội: Đánh giá thông qua mức biến động thu nhập của người dân sau tích tụ, khả năng giải quyết việc làm, phân công lao động, thị trường tiêu thụ và các khó khăn vướng mắc.
    • Hiệu quả môi trường: Đánh giá qua khả năng bảo vệ, tái tạo độ phì của đất, hạn chế thoái hóa và mức độ an toàn sinh thái trong sản xuất.
  4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel và Microsoft Word 2010 để tổng hợp, tính toán, lập bảng đối chiếu.
  5. Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến cán bộ chuyên trách và chuyên gia trong lĩnh vực quản lý đất đai để hoàn thiện nhận định và đề xuất giải pháp.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ bài toán chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, khắc phục tình trạng phân tán ô thửa để thúc đẩy cơ giới hóa. Xác lập hệ thống mục tiêu nghiên cứu (1 mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể), phạm vi nghiên cứu tại xã Ngọc Tảo trong chuỗi thời gian số liệu 2010 – 2018 và thời gian nghiên cứu thực địa đầu năm 2019.

Phần 2: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Phần này hệ thống hóa các vấn đề lý luận về đất nông nghiệp, vai trò của đất đai đối với sản xuất, bản chất và sự cần thiết của tích tụ đất đai trong bối cảnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp. Trình bày 5 hình thức tích tụ chính: chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất, tặng cho quyền sử dụng đất, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. Phân tích các nhóm nhân tố ảnh hưởng: điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng), kinh tế - xã hội (lao động, vốn, hạ tầng kỹ thuật, thị trường, hợp tác sản xuất), khoa học kỹ thuật - công nghệ và nhóm chính sách của Nhà nước. Đồng thời, tổng hợp kinh nghiệm tích tụ đất nông nghiệp tại Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và một số địa phương tại Việt Nam (Thái Bình, Phú Thọ, Hải Dương, Hà Nội).

Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể địa điểm nghiên cứu tại xã Ngọc Tảo, huyện Phúc Thọ (cách trung tâm huyện 6 km). Chi tiết hóa quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp tại các cơ quan quản lý và phương pháp điều tra sơ cấp đối với 1 doanh nghiệp và 18 hộ nông dân. Thiết lập bộ công thức tính toán chỉ tiêu kinh tế ($GO, IC, VA, HQĐV$), hệ thống chỉ tiêu xã hội, môi trường, cùng quy trình xử lý số liệu bằng công cụ văn phòng và phương pháp tham vấn chuyên gia.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Đây là chương nội dung thực nghiệm trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện các số liệu điều tra thực tế tại xã Ngọc Tảo:

  1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Ngọc Tảo: Xã nằm ở phía Đông Nam huyện Phúc Thọ, tiếp giáp các xã Tam Thuấn, Thanh Đa, Phụng Thượng, Long Xuyên, Tam Hiệp, Canh Nậu (huyện Thạch Thất), Hát Môn và Thượng Cốc. Tổng diện tích tự nhiên là 658,48 ha, địa hình tương đối bằng phẳng xen kẽ vùng đồng trũng (khoảng 100 ha thường ngập úng thuận lợi cấy lúa, thả cá) và đồng màu chân cao. Cơ cấu kinh tế năm 2018 có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ:
STT Chỉ tiêu kinh tế Giá trị (tỷ đồng) Cơ cấu (%)
1 Nông nghiệp 147,93 28,00
2 Công nghiệp - Xây dựng 156,60 30,00
3 Thương mại - Dịch vụ 222,96 42,00
Tổng Toàn xã 527,49 100,00
  1. Hiện trạng và biến động đất nông nghiệp (2010 – 2018): Năm 2018, đất nông nghiệp của xã chiếm 402,74 ha (tương đương 61,16% diện tích tự nhiên), trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 305,13 ha (đất trồng lúa 295,47 ha, cây hàng năm khác 2,81 ha, cây lâu năm 6,85 ha), đất nuôi trồng thủy sản 20,11 ha và đất nông nghiệp khác 77,50 ha. Giai đoạn 2010 – 2015, diện tích tự nhiên của xã tăng 19,54 ha (từ 638,94 ha lên 658,48 ha) do sai số công nghệ đo đạc cũ từ năm 1990 – 1991 được đo đạc lại chính xác theo phê duyệt của UBND TP Hà Nội năm 2015. Giai đoạn 2015 – 2018, diện tích đất nông nghiệp giảm 4,92 ha (từ 407,66 ha xuống 402,74 ha) do chuyển mục đích sang đất phi nông nghiệp phục vụ xây dựng hạ tầng, công trình công cộng.

  2. Thực trạng tích tụ đất nông nghiệp: Toàn xã có 104 mô hình trang trại, gia trại (trong đó chỉ có 7 trang trại đạt chuẩn diện tích trên 2,1 ha theo Thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT, còn lại 97 mô hình là gia trại). Mẫu điều tra 18 hộ dân và 1 doanh nghiệp cho thấy diện tích tích tụ biến thiên từ 0,24 ha đến 15 ha:

STT Quy mô tích tụ Doanh nghiệp (đơn vị) Hộ dân (hộ) Tỷ lệ hộ (%)
1 Dưới 0,5 ha 0 3 16,66
2 Từ 0,5 đến dưới 1 ha 0 5 27,77
3 Từ 1 đến dưới 2 ha 0 6 33,33
4 Từ 2 ha trở lên 1 (15 ha) 4 (lớn nhất 9 ha) 22,24

Về hình thức tích tụ, 72,22% số hộ lựa chọn thuê quyền sử dụng đất (13 hộ), 16,67% nhận chuyển nhượng (3 hộ), 11,11% kết hợp cả hai hình thức (2 hộ). Doanh nghiệp áp dụng 100% hình thức thuê quyền sử dụng đất. Về thời gian thực hiện, 42,10% số đối tượng tích tụ trước năm 2010, 36,84% tích tụ trong giai đoạn dồn điền đổi thửa 2010 – 2015, và 21,06% tích tụ từ 2015 – 2018. Cách thức thực hiện phân hóa rõ: hình thức chuyển nhượng đều lập hợp đồng có xác nhận của UBND xã; hình thức thuê đất công ích lập thủ tục tại cơ quan quản lý đất đai; trong khi thuê đất giữa các hộ dân vẫn tồn tại thỏa thuận miệng có người làm chứng (16,67%) hoặc hợp đồng trao tay (11,11%).

  1. Khảo sát chi tiết các mô hình tích tụ điển hình:
  • Mô hình doanh nghiệp (Công ty Cổ phần Nông trại Chia sẻ Sharefarm): Thành lập tháng 9/2017 với số vốn đầu tư 25 tỷ đồng, tích tụ 15 ha thông qua thuê đất của 154 hộ nông dân. Giá thuê thỏa thuận đạt 200 kg thóc/sào/năm (tương đương 1,2 triệu đồng/sào/năm), cao hơn mặt bằng chung của xã (chỉ từ 60 – 120 kg thóc/sào/năm), thời hạn thuê tối thiểu 20 năm thông qua hợp đồng 3 bên (Doanh nghiệp, UBND xã, Hộ dân). Cơ cấu mặt bằng gồm: 3 ha ao cá, 3 ha rau hữu cơ, 7 ha cỏ và ngô sinh khối, 1 ha chuồng trại và 1 ha cảnh quan. Mô hình vận hành theo chu trình sinh thái khép kín: chất thải chăn nuôi đưa vào bể biogas, bã thải ủ phân trùn quế và phân vi sinh bón cho cây trồng, nước thải sau xử lý dùng tưới đồng cỏ ngô, sản phẩm rau thịt đạt chuẩn hữu cơ thảo mộc. Doanh nghiệp ký hợp đồng cung cấp thực phẩm cố định cho 360 hộ gia đình cổ đông (1.440 người), đồng thời tạo việc làm cho 20 lao động thường xuyên tại địa phương với mức lương bình quân 6 triệu đồng/tháng.
  • Mô hình hộ nông dân: Khảo sát 18 chủ hộ (tuổi bình quân 47, 72,22% có trình độ văn hóa cấp III, 27,78% cấp II; quy mô đất bình quân 1,64 ha/trang trại). Gồm 3 loại hình:
    • Trang trại tổng hợp (16 hộ, chiếm 88,88%, bình quân 1,35 ha/hộ): Kết hợp mô hình VAC (Vườn - Ao - Chuồng), áp dụng cơ giới hóa với máy bơm, máy sục khí, máy nghiền thức ăn.
    • Trang trại chuyên cây ăn quả (1 hộ, chiếm 5,56%, diện tích 0,29 ha): Độc canh cây đu đủ, thuê đất bằng thỏa thuận có người làm chứng, trả tiền hàng năm khoảng 150 nghìn đồng/sào.
    • Trang trại chuyên nuôi trồng thủy sản (1 hộ, chiếm 5,56%, diện tích 0,72 ha): Thuê đất thông qua hợp đồng trao tay, chuyên thả cá thịt và cá giống.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận lượng hóa chi tiết hiệu quả kinh tế trên 1 ha canh tác của từng loại sản phẩm giữa các mô hình tích tụ tại xã Ngọc Tảo qua hệ thống số liệu thực nghiệm:

Mô hình Loại sản phẩm Giá trị sản xuất (GO) (triệu đồng) Chi phí trung gian (IC) (triệu đồng) Giá trị gia tăng (VA) (triệu đồng) Hiệu quả đồng vốn (HQĐV) (lần)
Doanh nghiệp Sharefarm Rau hữu cơ 467,00 71,50 395,50 5,53
Lợn thịt 3.240,00 2.022,00 1.218,00 0,60
Bò thịt 3.750,00 2.944,66 805,34 0,27
Bò sữa 2.750,00 1.095,60 1.654,40 1,51
Gà trứng 4.800,00 3.828,90 971,10 0,25
Gà thịt 5.468,00 1.924,15 3.543,85 1,84
Cá trắm cỏ 1.440,00 717,18 722,82 1,01
Cá chép 1.560,00 647,89 912,11 1,41
Trang trại tổng hợp (Hộ dân) Bưởi 354,98 121,22 233,76 1,93
Mít 270,01 90,00 180,01 2,00
Xoài 124,00 19,00 105,00 5,53
Nhãn 288,44 39,10 249,34 6,38
Đu đủ 336,00 48,24 287,76 5,97
Chuối 340,26 42,33 297,93 7,04
Ổi 585,37 224,00 361,37 1,61
Lúa cốm 33,96 8,50 25,46 3,00
Lợn 442,00 377,00 65,00 0,17
Vịt 1.203,09 1.145,45 57,64 0,05
Gà 445,00 390,35 55,00 0,14
Bò 858,00 657,36 200,64 0,31
Dê 875,00 392,50 482,50 1,23
Ngan 309,40 292,60 16,80 0,06
Cá 241,00 143,00 98,00 0,68
Trang trại chuyên cây ăn quả Đu đủ 363,85 62,21 301,64 4,84
Trang trại chuyên thủy sản Cá 305,12 108,51 196,61 1,81

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng:

  • Trong nhóm cây trồng, chuối ($HQĐV = 7,04$), nhãn ($HQĐV = 6,38$), đu đủ ($HQĐV = 5,97$) và rau hữu cơ ($HQĐV = 5,53$) mang lại hiệu quả đồng vốn rất cao do tận dụng tốt phân ủ hữu cơ, bùn phù sa, giảm thiểu chi phí phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật.
  • Trong nhóm chăn nuôi, năm 2018 chứng kiến sự sụt giảm hiệu quả nghiêm trọng của lợn ($HQĐV = 0,17$) và vịt ($HQĐV = 0,05$). Nguyên nhân trực tiếp là do giá thịt lợn giảm mạnh xuống 35.000 – 40.000 đồng/kg, giá trứng vịt giảm sâu kỷ lục xuống 11.000 – 13.000 đồng/chục, trong khi giá thức ăn chăn nuôi công nghiệp tăng cao (khoảng 265.000 đồng/bao cám vịt) và nguy cơ dịch tả lợn châu Phi đe dọa. Ngược lại, nuôi dê ($HQĐV = 1,23$) và bò sữa ($HQĐV = 1,51$) giữ được mức lợi nhuận ổn định.

Về mặt giải pháp, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Giải pháp về tổ chức thực hiện: Tăng cường vai trò cầu nối của UBND xã trong việc đứng ra bảo lãnh, chứng thực hợp đồng thuê đất; hoàn thiện thủ tục pháp lý để hạn chế rủi ro cho cả bên thuê và bên cho thuê; chuẩn hóa quy trình dồn đổi, chuyển nhượng đất nông nghiệp.
  2. Giải pháp về huy động vốn: Đẩy mạnh các chính sách cho vay ưu đãi phục vụ phát triển kinh tế trang trại, tạo điều kiện thế chấp tài sản hình thành trên đất thuê dài hạn.
  3. Giải pháp về thị trường tiêu thụ: Hỗ trợ xây dựng chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm an toàn, xúc tiến thương mại điện tử, nhân rộng mô hình kinh tế chia sẻ (kết nối trực tiếp từ nông trại tới hộ tiêu dùng không qua trung gian như Sharefarm).
  4. Giải pháp hỗ trợ, khuyến khích: Miễn giảm thuế, hỗ trợ tập huấn khoa học kỹ thuật, phòng chống dịch bệnh gia súc gia cầm, đầu tư đồng bộ hệ thống kênh mương thủy lợi nội đồng và đường giao thông phục vụ cơ giới hóa.

Đóng góp của khóa luận: Tác giả đã cung cấp một bức tranh toàn diện, có số liệu đối chiếu thực nghiệm rõ ràng về các mô hình tích tụ đất nông nghiệp ở một xã ngoại thành Hà Nội sau giai đoạn dồn điền đổi thửa. Đề tài chứng minh được tính ưu việt của cơ chế thuê đất thông qua hợp đồng 3 bên có sự tham gia của chính quyền địa phương, làm sáng tỏ tính khả thi của mô hình nông nghiệp sinh thái tuần hoàn kết hợp giáo dục, du lịch trải nghiệm, đồng thời cảnh báo rủi ro đứt gãy chuỗi giá trị đối với các hộ tích tụ chăn nuôi phụ thuộc hoàn toàn vào thức ăn công nghiệp và thị trường tự do.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa ngắn (từ 20/01/2019 đến 05/05/2019) nên chưa theo dõi được trọn vẹn chu kỳ sinh trưởng nhiều năm của một số loại cây ăn quả lâu năm và vật nuôi lấy thịt dài ngày (như bò thịt có thời gian nuôi từ 21 tháng trở lên).
  • Cỡ mẫu điều tra tập trung vào 1 doanh nghiệp và 18 hộ nông dân điển hình, chưa bao quát toàn bộ 104 mô hình trang trại, gia trại hiện có trên địa bàn xã.
  • Các phân tích về biến động thị trường chăn nuôi mới chỉ phản ánh tình trạng khủng hoảng giá và nguy cơ dịch tả lợn châu Phi tại thời điểm cuối năm 2018 - đầu năm 2019, chưa có dữ liệu dài hạn về khả năng phục hồi của các hộ sau dịch bệnh.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát điều tra trên toàn bộ các xã thuộc huyện Phúc Thọ nhằm so sánh hiệu quả giữa các vùng sinh thái đất bãi ven sông và đất đồng trũng nội đồng.
  • Đi sâu nghiên cứu cơ chế pháp lý về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất nông nghiệp tích tụ phục vụ thế chấp ngân hàng.
  • Đánh giá tác động môi trường dài hạn của mô hình nông nghiệp sinh thái tuần hoàn đối với chất lượng thổ nhưỡng và nguồn nước ngầm tại khu vực.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Quản lý đất đai, Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn và Khuyến nông: Tham khảo phương pháp tiếp cận điều tra thực tế, bộ chỉ tiêu và công thức lượng hóa hiệu quả sử dụng đất ($GO, IC, VA, HQĐV$).
  • Cán bộ quản lý địa chính, nông nghiệp cấp xã, phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện: Tham khảo mô hình hợp đồng 3 bên (chính quyền - doanh nghiệp - hộ dân) để quản lý hoạt động cho thuê đất nông nghiệp, hạn chế các tranh chấp phát sinh từ giao dịch trao tay tự phát.
  • Các chủ trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp: Tham khảo phương án bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cách thức hạch toán chi phí trung gian và quy trình sản xuất khép kín tuần hoàn để giảm thiểu rủi ro thị trường và tối ưu hóa đồng vốn đầu tư.

Câu hỏi thường gặp

1. Mức giá thuê đất nông nghiệp tại xã Ngọc Tảo giữa người dân với nhau và giữa doanh nghiệp Sharefarm với người dân có sự chênh lệch như thế nào?
Trả lời: Mức giá thuê đất giữa các hộ dân trong địa phương dao động từ 60 đến 120 kg thóc/sào/năm tùy thuộc vào vị trí ô thửa. Trong khi đó, Công ty Sharefarm ký hợp đồng thuê đất của 154 hộ nông dân với mức giá cố định là 200 kg thóc/sào/năm (quy đổi ra tiền mặt là 1,2 triệu đồng/sào/năm theo giá thóc 6.000 đồng/kg tại thời điểm nghiên cứu).

2. Vì sao mô hình trồng rau hữu cơ tại Sharefarm và mô hình trồng chuối, nhãn tại các hộ dân lại đạt hiệu quả đồng vốn ($HQĐV$) vượt trội so với chăn nuôi lợn, vịt trong năm 2018?
Trả lời: Mô hình rau hữu cơ của Sharefarm đạt $HQĐV = 5,53$ do canh tác hoàn toàn tự nhiên, không sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật nên chi phí trung gian ($IC$) rất thấp (chỉ 71,5 triệu đồng/ha so với $GO$ đạt 467 triệu đồng/ha). Cây chuối ($HQĐV = 7,04$) và cây nhãn ($HQĐV = 6,38$) tận dụng được phân ủ từ chuồng trại và phù sa nạo vét từ ao cá nên giảm tối đa chi phí mua phân bón. Ngược lại, chăn nuôi lợn ($HQĐV = 0,17$) và vịt ($HQĐV = 0,05$) bị khủng hoảng kép: chi phí cám công nghiệp cao (vịt tốn 1,14 tỷ đồng chi phí trên 1,2 tỷ đồng doanh thu) trong khi giá bán thịt lợn và trứng vịt sụt giảm chạm đáy trong năm 2018.

3. Cơ cấu hình thức tích tụ đất đai của 18 hộ nông dân được điều tra tại xã Ngọc Tảo được ghi nhận với tỷ lệ cụ thể là bao nhiêu?
Trả lời: Có 13 hộ lựa chọn hình thức thuê quyền sử dụng đất (chiếm 72,22%); 3 hộ lựa chọn hình thức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (chiếm 16,67%); và 2 hộ thực hiện kết hợp cả hai hình thức vừa thuê vừa nhận chuyển nhượng (chiếm 11,11%).

4. Nguyên nhân nào dẫn đến sự biến động tăng 19,54 ha đất tự nhiên của xã Ngọc Tảo trong giai đoạn 2010 – 2015?
Trả lời: Do số liệu đất đai năm 2010 được lập căn cứ theo các quyết định cũ từ giai đoạn 1990 – 1991 với công nghệ đo đạc còn lạc hậu, độ chính xác thấp dẫn đến sai lệch số liệu. Đến kỳ kiểm kê năm 2015, UBND thành phố Hà Nội phê duyệt thuê đơn vị đo đạc lại bằng công nghệ hiện đại, kết quả xác định diện tích tự nhiên thực tế của xã tăng thêm 19,54 ha (từ 638,94 ha lên 658,48 ha).

5. Cơ chế kiểm soát rủi ro pháp lý trong hoạt động tích tụ 15 ha đất của Công ty Sharefarm được thực hiện như thế nào?
Trả lời: Để phòng ngừa các rủi ro phát sinh từ nông dân (như đòi lại đất trước hạn, yêu cầu tăng giá thuê bất thường), Sharefarm phối hợp với chính quyền địa phương thiết lập hợp đồng thuê đất 3 bên: Công ty Sharefarm, UBND xã Ngọc Tảo và từng hộ gia đình có đất cho thuê, với thời hạn cam kết tối thiểu 20 năm và có điều khoản gia hạn cụ thể.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Kim Thị Hoài Trang đã phản ánh chi tiết và khách quan thực trạng tích tụ đất nông nghiệp tại xã Ngọc Tảo, huyện Phúc Thọ thông qua việc so sánh các mô hình doanh nghiệp và kinh tế hộ. Kết quả nghiên cứu chứng minh tích tụ đất đai gắn với kinh tế trang trại tổng hợp và mô hình sinh thái tuần hoàn mang lại giá trị gia tăng cùng hiệu quả đồng vốn cao hơn rõ rệt so với phương thức canh tác manh mún truyền thống. Mặc dù còn gặp khó khăn về biến động giá cả thị trường chăn nuôi và thói quen thỏa thuận đất đai tự phát bằng giấy viết tay, công trình đã đề xuất được hệ thống giải pháp đồng bộ về cơ chế bảo lãnh hợp đồng, chính sách tín dụng và liên kết chuỗi giá trị nhằm thúc đẩy công tác quản lý đất đai và phát triển nông nghiệp hàng hóa bền vững tại địa phương.