Chương 4 SỨC SẢN XUẤT Ở GIA CẦM Sức sản xuất là khả năng cho thịt, trứng, gan, lông ở gia cầm. Sức sản xuất là t ính trạng số lượng được quy định bởi số lượng lớn các gen (alen) và chịu ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh. N ghiên cứu về sức sản xuất và các nhân tố ảnh hưởng đến sức sản xuất ở gia cầm có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phN m. Sức sản xuất trứng (Sức đẻ trứng) Sức sản xuất trứng còn gọi là sức đẻ trứng ở gia cầm thể hiện ở các chỉ tiêu: sản lượng trứng, khối lượng trứng, phN m chất (chất lượng) trứng.
Sản lượng trứng Sản lượng trứng là số trứng đẻ ra từ một gia cầm mái trong một khoảng thời gian nhất định- thường là một năm đẻ trứng (sản lượng trứng/năm/gia cầm mái). Sản lượng trứng được xác định theo cá thể (các cơ sở giống bắt buộc phải theo dõi cá thể) hoặc theo nhóm. Sản lượng trứng cá thể phải theo dõi thông qua đánh số gia cầm và sử dụng ổ đẻ tự động (ổ sập). Sản lượng trứng theo nhóm, chính là sản lượng trứng trung bình bằng tổng số trứng thu được trong thời gian nhất định chia cho số lượng gia cầm mái bình quân trong thời gian đó.
Hiện tồn tại nhiều cách tính sản lượng trứng khác nhau, đó là tính trên số mái đầu kỳ, tính trên số mái cuối kỳ hay tính trên số mái bình quân có mặt. Mỗi cách tính đưa ra những sai số nhất định so với sản lượng trứng thực tế của gia cầm mái. Sản lượng trứng/năm cũng có nhiều cách xác định khác nhau. N ăm đẻ trứng sinh học tính từ khi gia cầm mái đẻ quả trứng đầu tiên đến ngày đó của năm tiếp theo.
N ăm đẻ trứng cũng có thể tính từ 1/10 cho đến 31/9 năm tiếp theo. Một số 100 nước tính sản lượng trứng cho đến khi gia cầm mái đạt 500 ngày tuổi. Vì vậy trước khi phân tích, so sánh cần xem cách tính cụ thể như thế nào, trong trường hợp cụ thể mà số liệu được đưa ra. Khối lượng trứng Khối lượng trứng của gia cầm mái được xác định bằng khối lượng trứng trung bình/năm (g/quả) hoặc khối lượng trứng sản xuất ra từ một gia cầm mái/năm (kg trứng).
Khối lượng trứng thường được xác định ở các thời điểm: Khối lượng quả trứng đẻ đầu tiên; Khối lượng quả trứng đẻ lúc 32 tuần tuổi; Khối lượng quả trứng đẻ lúc 52 tuần tuổi. Lúc 32 tuần là lúc sức sản xuất biểu hiện cao nhất, lúc 52 tuần tuổi là lúc gia cầm hoàn toàn trưởng thành. Để tính khối lượng trứng trung bình/năm, người ta tính khối lượng trứng trung bình của 10 tháng đẻ trứng. Ở mỗi tháng đẻ, cân 3 quả trứng rồi lấy khối lượng trung bình.
Ba quả trứng được cân từ một gia cầm mái hoặc khối lượng trứng trung bình toàn đàn gia cầm mái vào 3 ngày liên tiếp trong tháng, hoặc 3 ngày với khoảng cách cố định (ví dụ ngày 4, 5, 6 hàng tháng hoặc ngày 10, 20, 30 hàng tháng). Cân bằng cân kỹ thuật có độ chính xác 0,1g. Khối lượng trứng trung bình của gà 55-65g, trứng vịt70-80g, trứng ngỗng 140-200g, trứng gà tây 100-110g, trứng bồ câu 25g, trứng chim cút 16-18g, trứng đà điểu 1000-1200g/quả. Phm chất trứng (chất lượng trứng) PhN m chất trứng thể hiện ở nhiều chỉ tiêu: phN m chất bên ngoài và phN m chất bên trong.
Các chỉ tiêu bên ngoài của trứng đó là chỉ số hình dạng, màu sắc vỏ trứng, độ dày vỏ và độ bền vỏ trứng. Chỉ số bên trong đó là tỷ lệ các thành phần cấu tạo trứng, chỉ số lòng trắng trứng, chỉ số lòng đỏ trứng, độ đậm của lòng đỏ, tổng hợp chỉ quan hệ giữa khối lượng và chất lượng lòng trắng trứng là chỉ số Haugh. - Hình dạng trứng có ý nghĩa quan trọng trong việc ấp trứng cũng như trong vận chuyển bảo quản trứng thương phN m. Hình dạng trứng được đánh giá qua chỉ số hình dạng trứng.
Chỉ số hình dạng trứng (I) là tỷ lệ giữa đường kính lớn D (chiều dài) và đường kính nhỏ d (chiều rộng) của trứng. Đo đường kính lớn (D) và đường kính nhỏ (d) của trứng bằng thước kẹp. 101 I = D/d hoặc I = d/D I: Chỉ số hình dạng D D: Đường kính lớn d d: Đường kính nhỏ Trứng gà có chỉ số 1,3-1,4 (hoặc 0,73-0,74) là thích hợp, có tỉ lệ dập vỏ thấp nhất trong quá trình bảo quản, vận chuyển, và cho tỷ lệ ấp nở cao. - Độ dày vỏ trứng thu hút sự chú ý lớn của các nhà chăn nuôi vì nó liên quan đến tỉ lệ dập vỡ và tỉ lệ ấp nở.
Trứng có độ dày từ 0,25- 0,58mm; phụ thuộc vào loài, giống, cá thể, điều kiện nuôi dưỡng, bệnh tật. Hệ số di truyền về độ dày vỏ trứng ở mức thấp 0,15-0,3. Phương pháp xác định thông qua đo độ dày vỏ bằng thước kẹp hoặc thước chuyên dùng đo độ dày vỏ trứng. Đo trên 3 vị trí: đầu nhọn, giữa, đầu tù của trứng rồi lấy giá trị trung bình.
Độ dày vỏ tỉ lệ thuận với khối lượng trứng. Xác định độ bền vỏ trứng bằng dụng cụ chuyên dùng đo độ chịu lực của trứng (kg/cm2 ); trung bình từ 3-5 kg/cm2. - Tỉ lệ trứng dập vỡ (%) có ý nghĩa quan trọng quyết định hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà đẻ trứng. Hàng ngày thống kê ghi chép trứng dập vỡ và tính tỉ lệ %.
Trứng dập vỡ Tỉ lệ dập vỡ (%) = × 100 Tổng số trứng - Màu sắc vỏ trứng được quyết định bởi yếu tố di truyền mạnh hơn là dinh dưỡng. N gược lại độ đậm nhạt của lòng đỏ là do sắc tố trong thức ăn quyết định. Để thay đổi màu vỏ trứng phải thông qua việc tạo ra các tổ hợp gen mới, còn để thay đổi màu lòng đỏ trứng chỉ cần thay đổi thành phần khN u phần ăn. Xu hướng chung hiện nay là tạo ra gia cầm lai đẻ trứng có vỏ màu (nâu, hồng, nâu sẫm.) thay cho trứng vỏ trắng.
Ở Anh 100% gà đẻ trứng thương phN m là vỏ màu, ở Pháp 85%, Đức 80%. Vỏ trứng màu thường gắn với bộ lông màu và thường di truyền liên kết với giới t ính. 102 - Chỉ số lòng đỏ trứng: Chỉ số lòng đỏ trứng là mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính lòng đỏ. h I= I: Chỉ số lòng đỏ D h: Chiều cao lòng đỏ D: Đường kính lòng đỏ Chỉ số này càng cao thì trứng có phN m chất càng tốt.
Phương pháp xác định: đập trứng ra đĩa petri đo đường kính và chiều cao. Chỉ số này thay đổi theo thời gian bảo quản trứng và độ bền của màng lòng đỏ. - Chỉ số lòng trắng trứng: Chỉ số lòng trắng trứng là mối quan hệ giữa chiều cao lòng trắng đặc và trung bình giữa đường kính lớn và đường kính nhỏ của lòng trắng đặc. 2H H: Cchiều cao lòng trắng đặc I= D+d d: Đường kính nhỏ lòng trắng đặc D: Đường kính lớn lòng trắng đặc Chỉ số này càng cao thì trứng có phN m chất càng tốt.
Chỉ số Haugh là chỉ mối quan hệ giữa khối lượng trứng với chiều cao lòng trắng đặc của trứng, do Haugh xác định và đưa ra công thức tính đầy đủ: G(30w 0,37 − 100 HU = 100log H- + 19 100 Để dễ tính toán, sử dụng công thức rút gọn: HU = 100log(H − 1,7w 0,37 + 7,57) HU: Đơn vị Haugh H: Chiều cao lòng trắng đặc; G: Hằng số trọng lực = 32,2. W: Khối lượng trứng Phương pháp: cân khối lượng trứng, đập ra đo chiều cao lòng trắng và tra bảng cho sẵn ta có chỉ số Haugh (bảng 4. HU càng cao phN m chất trứng càng tốt. Trứng chênh lệch 1 - 8 đơn vị Haugh thì coi như có chất lượng tương tự.1: Liên quan giữa chỉ số Haugh với chiều cao lòng trắng đặc của trứng Khối lượng trứng (g) Chiều cao 49,9 53,2 56,7 60,2 63,8 lòng trắng đặc (mm) 10 102 101 100 99 98 9 97 96 95 95 94 8 92 91 90 89 88 7 87 86 84 83 82 6 80 79 78 77 75 5 73 71 70 68 67 4 64 62 60 58 56 3 53 50 48 45 42 2 37 34 30 26 22 Chỉ số Haugh Chiều cao lòng trắng đặc (mm) 100 9,6 9,8 10,0 10,2 10,3 90 7,6 7,8 7,9 8,1 8,3 80 5,9 6,1 6,5 6,5 6,7 70 4,6 4,8 5,0 5,2 5,4 60 3,6 3,8 4,0 4,2 4,3 50 2,8 3,0 3,2 3,3 3,5 40 2,2 2,3 2,5 2,7 2,8 30 1,6 1,8 2,0 2,2 2,3 20 1,2 1,4 1,6 1,8 1,9 Chất lượng trứng của một số dòng gà công nghiệp nuôi ở Việt N am những năm qua thể hiện trên bảng 4.
Kết quả cho thấy gà công nghiệp nuôi trong điều kiện nóng, N m nhưng chất lượng trứng đạt tương đương so với nguyên gốc (nuôi ở Cu Ba).2: Chất lượng trứng của một số giống gà nuôi công nghiệ p ở Việt am BVX BVY XR XY Khối lượng trứng (g) 58,7 64,8 58,83 58,0 Chỉ số hình dạng 1,38 1,40 1,39 1,38 2 Độ chịu lực (kg/cm ) 5,19 2,52 2,81 2,75 Độ dày v ỏ (mm) 0,34 0,36 0,35 0,33 Chỉ số lòng đỏ 0,45 0,46 0,43 0,42 Chỉ số lòng trắng 0,09 0,09 0,10 0,09 Đơn vị Haugh 80,5 85,0 83,0 78,0 Trứng dập v ỡ (%) 11,0 6,0 - - XR: Gà lai F1 hướng trứng giữa Leghorn dòng X và Rhode R XY: Gà lai F1 hướng trứng giữa Leghorn dòng X và Rhode Y BVX: Gà Leghorn dòng X BVY: Gà Leghorn dòng Y 104 4. Thành phần cấu tạo trứng gia cầm Trứng gia cầm là tế bào sinh dục phức tạp được biệt hoá rất cao, gồm các phần (tính từ trong ra):lòng đỏ, lòng trắng, màng dưới vỏ, vỏ cứng và có một lớp nhầy (màng mỡ) bao bọc, phủ ngoài vỏ trứng khi được đẻ ra. Mỗi phần của chúng đều có chức năng riêng biệt. Tỉ lệ tương đối (%) và tuyệt đối (g) giữa các thành phần tuỳ thuộc vào loại gia cầm, mùa vụ, tuổi sinh sản.
Lòng đỏ chiếm 32-35%, lòng trắng 54- 58%, vỏ cứng 11-14% so với khối lượng trứng. Sự sai khác phụ thuộc vào loài gia cầm, tuổi đẻ, mùa vụ, chất lượng thức ăn, v. Tỷ lệ các thành phần cấu tạo trứng Khối lượng Lòng trắng Lòng đỏ Vỏ cứng Loại gia cầm trứng (g) (%) (%) (%) Gà 58 55,8 31,9 12,3 Vịt 80 52,6 35,4 12,0 Ngỗng 200 52,5 35,1 12,4 Tỉ lệ thành phần cấu tạo trứng thay đổi tuỳ thuộc giống, tuổi, chế độ dinh dưỡng.