Giáo trình chăn nuôi gia cầm phần 2: Nghiên cứu sức sản xuất trứng

Giáo trình về chăn nuôi gia cầm phần 2 pgs ts nguyễn đức hưng, biên soạn theo chương trình đào tạo chuẩn, hệ thống hóa kiến thức từ cơ bản đến nâng cao.

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Nghiệp

Chuyên ngành

Chăn Nuôi Gia Cầm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình

2023

139
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

4. CHƯƠNG 4: SỨC SẢN XUẤT Ở GIA CẦM

4.1. Sức sản xuất trứng (Sức đẻ trứng)

4.2. Sản lượng trứng

4.3. Khối lượng trứng

4.4. Phẩm chất trứng (chất lượng trứng)

4.5. Thành phần cấu tạo trứng gia cầm

4.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng

4.6.1. Tuổi của gà mái khi đẻ quả trứng đầu tiên

4.6.2. Cường độ đẻ trứng

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình chăn nuôi gia cầm Sức sản xuất trứng

Giáo trình chăn nuôi gia cầm là tài liệu quan trọng giúp người chăn nuôi hiểu rõ về sức sản xuất trứng của gia cầm. Sức sản xuất trứng không chỉ thể hiện số lượng trứng mà còn liên quan đến chất lượng trứng. Việc nắm vững kiến thức này sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm trứng, từ đó tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.

1.1. Khái niệm về sức sản xuất trứng ở gia cầm

Sức sản xuất trứng, hay còn gọi là sức đẻ trứng, là khả năng của gia cầm mái trong việc sản xuất trứng. Nó được xác định qua các chỉ tiêu như sản lượng trứng, khối lượng trứng và chất lượng trứng. Sức sản xuất trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm di truyền, chế độ dinh dưỡng và điều kiện nuôi dưỡng.

1.2. Tầm quan trọng của sức sản xuất trứng

Nghiên cứu về sức sản xuất trứng có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Sức sản xuất trứng không chỉ ảnh hưởng đến lợi nhuận mà còn quyết định sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi gia cầm.

II. Các vấn đề và thách thức trong sản xuất trứng gia cầm

Mặc dù có nhiều tiềm năng, ngành sản xuất trứng gia cầm vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Các vấn đề như bệnh tật, điều kiện môi trường và chế độ dinh dưỡng không hợp lý có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức sản xuất trứng.

2.1. Bệnh tật thường gặp ở gia cầm

Bệnh tật là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng. Các bệnh như cúm gia cầm, bệnh Newcastle có thể làm giảm sản lượng và chất lượng trứng. Việc chẩn đoán và điều trị kịp thời là rất cần thiết để bảo vệ đàn gia cầm.

2.2. Ảnh hưởng của điều kiện môi trường

Điều kiện môi trường như nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng có ảnh hưởng lớn đến sức sản xuất trứng. Gia cầm cần được nuôi trong môi trường thoải mái để đạt được năng suất tối ưu. Việc kiểm soát các yếu tố này là rất quan trọng trong chăn nuôi.

III. Phương pháp nâng cao sức sản xuất trứng ở gia cầm

Để nâng cao sức sản xuất trứng, người chăn nuôi cần áp dụng các phương pháp khoa học và công nghệ hiện đại. Các biện pháp như cải thiện chế độ dinh dưỡng, chọn giống và quản lý sức khỏe đàn gia cầm là rất quan trọng.

3.1. Cải thiện chế độ dinh dưỡng cho gia cầm

Chế độ dinh dưỡng hợp lý là yếu tố quyết định đến sức sản xuất trứng. Cần cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết như protein, vitamin và khoáng chất để gia cầm phát triển khỏe mạnh và sản xuất trứng chất lượng cao.

3.2. Lựa chọn giống gia cầm năng suất cao

Việc chọn giống gia cầm có năng suất cao là một trong những phương pháp hiệu quả để nâng cao sức sản xuất trứng. Các giống gà đẻ trứng như Leghorn, Rhode Island Red được biết đến với khả năng sản xuất trứng vượt trội.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về sức sản xuất trứng

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các phương pháp khoa học trong chăn nuôi gia cầm có thể nâng cao sức sản xuất trứng. Các kết quả nghiên cứu cho thấy sự cải thiện rõ rệt về sản lượng và chất lượng trứng khi áp dụng các biện pháp này.

4.1. Kết quả nghiên cứu về sức sản xuất trứng

Nghiên cứu cho thấy rằng gia cầm được nuôi trong điều kiện tốt và có chế độ dinh dưỡng hợp lý có thể đạt sản lượng trứng cao hơn 20-30% so với gia cầm nuôi trong điều kiện kém. Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của việc áp dụng khoa học trong chăn nuôi.

4.2. Ứng dụng công nghệ trong sản xuất trứng

Công nghệ hiện đại như hệ thống chăn nuôi tự động, quản lý dinh dưỡng thông minh đã được áp dụng thành công trong nhiều trang trại. Những công nghệ này không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn giảm thiểu chi phí sản xuất.

V. Kết luận và tương lai của sức sản xuất trứng gia cầm

Sức sản xuất trứng gia cầm là một lĩnh vực quan trọng trong ngành chăn nuôi. Việc nâng cao sức sản xuất trứng không chỉ giúp tăng năng suất mà còn đảm bảo chất lượng sản phẩm. Tương lai của ngành chăn nuôi gia cầm sẽ phụ thuộc vào việc áp dụng các công nghệ mới và cải thiện quy trình sản xuất.

5.1. Tương lai của ngành chăn nuôi gia cầm

Ngành chăn nuôi gia cầm đang hướng tới việc phát triển bền vững, với mục tiêu nâng cao sức sản xuất trứng và giảm thiểu tác động đến môi trường. Các nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới sẽ là chìa khóa cho sự phát triển này.

5.2. Định hướng phát triển sức sản xuất trứng

Định hướng phát triển sức sản xuất trứng trong tương lai sẽ tập trung vào việc cải thiện giống, nâng cao chế độ dinh dưỡng và áp dụng công nghệ hiện đại. Điều này sẽ giúp gia cầm đạt được năng suất tối ưu và chất lượng sản phẩm tốt nhất.

19/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 4 SỨC SẢN XUẤT Ở GIA CẦM Sức sản xuất là khả năng cho thịt, trứng, gan, lông ở gia cầm. Sức sản xuất là t ính trạng số lượng được quy định bởi số lượng lớn các gen (alen) và chịu ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh. N ghiên cứu về sức sản xuất và các nhân tố ảnh hưởng đến sức sản xuất ở gia cầm có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phN m. Sức sản xuất trứng (Sức đẻ trứng) Sức sản xuất trứng còn gọi là sức đẻ trứng ở gia cầm thể hiện ở các chỉ tiêu: sản lượng trứng, khối lượng trứng, phN m chất (chất lượng) trứng.

Sản lượng trứng Sản lượng trứng là số trứng đẻ ra từ một gia cầm mái trong một khoảng thời gian nhất định- thường là một năm đẻ trứng (sản lượng trứng/năm/gia cầm mái). Sản lượng trứng được xác định theo cá thể (các cơ sở giống bắt buộc phải theo dõi cá thể) hoặc theo nhóm. Sản lượng trứng cá thể phải theo dõi thông qua đánh số gia cầm và sử dụng ổ đẻ tự động (ổ sập). Sản lượng trứng theo nhóm, chính là sản lượng trứng trung bình bằng tổng số trứng thu được trong thời gian nhất định chia cho số lượng gia cầm mái bình quân trong thời gian đó.

Hiện tồn tại nhiều cách tính sản lượng trứng khác nhau, đó là tính trên số mái đầu kỳ, tính trên số mái cuối kỳ hay tính trên số mái bình quân có mặt. Mỗi cách tính đưa ra những sai số nhất định so với sản lượng trứng thực tế của gia cầm mái. Sản lượng trứng/năm cũng có nhiều cách xác định khác nhau. N ăm đẻ trứng sinh học tính từ khi gia cầm mái đẻ quả trứng đầu tiên đến ngày đó của năm tiếp theo.

N ăm đẻ trứng cũng có thể tính từ 1/10 cho đến 31/9 năm tiếp theo. Một số 100 nước tính sản lượng trứng cho đến khi gia cầm mái đạt 500 ngày tuổi. Vì vậy trước khi phân tích, so sánh cần xem cách tính cụ thể như thế nào, trong trường hợp cụ thể mà số liệu được đưa ra. Khối lượng trứng Khối lượng trứng của gia cầm mái được xác định bằng khối lượng trứng trung bình/năm (g/quả) hoặc khối lượng trứng sản xuất ra từ một gia cầm mái/năm (kg trứng).

Khối lượng trứng thường được xác định ở các thời điểm: Khối lượng quả trứng đẻ đầu tiên; Khối lượng quả trứng đẻ lúc 32 tuần tuổi; Khối lượng quả trứng đẻ lúc 52 tuần tuổi. Lúc 32 tuần là lúc sức sản xuất biểu hiện cao nhất, lúc 52 tuần tuổi là lúc gia cầm hoàn toàn trưởng thành. Để tính khối lượng trứng trung bình/năm, người ta tính khối lượng trứng trung bình của 10 tháng đẻ trứng. Ở mỗi tháng đẻ, cân 3 quả trứng rồi lấy khối lượng trung bình.

Ba quả trứng được cân từ một gia cầm mái hoặc khối lượng trứng trung bình toàn đàn gia cầm mái vào 3 ngày liên tiếp trong tháng, hoặc 3 ngày với khoảng cách cố định (ví dụ ngày 4, 5, 6 hàng tháng hoặc ngày 10, 20, 30 hàng tháng). Cân bằng cân kỹ thuật có độ chính xác 0,1g. Khối lượng trứng trung bình của gà 55-65g, trứng vịt70-80g, trứng ngỗng 140-200g, trứng gà tây 100-110g, trứng bồ câu 25g, trứng chim cút 16-18g, trứng đà điểu 1000-1200g/quả. Phm chất trứng (chất lượng trứng) PhN m chất trứng thể hiện ở nhiều chỉ tiêu: phN m chất bên ngoài và phN m chất bên trong.

Các chỉ tiêu bên ngoài của trứng đó là chỉ số hình dạng, màu sắc vỏ trứng, độ dày vỏ và độ bền vỏ trứng. Chỉ số bên trong đó là tỷ lệ các thành phần cấu tạo trứng, chỉ số lòng trắng trứng, chỉ số lòng đỏ trứng, độ đậm của lòng đỏ, tổng hợp chỉ quan hệ giữa khối lượng và chất lượng lòng trắng trứng là chỉ số Haugh. - Hình dạng trứng có ý nghĩa quan trọng trong việc ấp trứng cũng như trong vận chuyển bảo quản trứng thương phN m. Hình dạng trứng được đánh giá qua chỉ số hình dạng trứng.

Chỉ số hình dạng trứng (I) là tỷ lệ giữa đường kính lớn D (chiều dài) và đường kính nhỏ d (chiều rộng) của trứng. Đo đường kính lớn (D) và đường kính nhỏ (d) của trứng bằng thước kẹp. 101 I = D/d hoặc I = d/D I: Chỉ số hình dạng D D: Đường kính lớn d d: Đường kính nhỏ Trứng gà có chỉ số 1,3-1,4 (hoặc 0,73-0,74) là thích hợp, có tỉ lệ dập vỏ thấp nhất trong quá trình bảo quản, vận chuyển, và cho tỷ lệ ấp nở cao. - Độ dày vỏ trứng thu hút sự chú ý lớn của các nhà chăn nuôi vì nó liên quan đến tỉ lệ dập vỡ và tỉ lệ ấp nở.

Trứng có độ dày từ 0,25- 0,58mm; phụ thuộc vào loài, giống, cá thể, điều kiện nuôi dưỡng, bệnh tật. Hệ số di truyền về độ dày vỏ trứng ở mức thấp 0,15-0,3. Phương pháp xác định thông qua đo độ dày vỏ bằng thước kẹp hoặc thước chuyên dùng đo độ dày vỏ trứng. Đo trên 3 vị trí: đầu nhọn, giữa, đầu tù của trứng rồi lấy giá trị trung bình.

Độ dày vỏ tỉ lệ thuận với khối lượng trứng. Xác định độ bền vỏ trứng bằng dụng cụ chuyên dùng đo độ chịu lực của trứng (kg/cm2 ); trung bình từ 3-5 kg/cm2. - Tỉ lệ trứng dập vỡ (%) có ý nghĩa quan trọng quyết định hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà đẻ trứng. Hàng ngày thống kê ghi chép trứng dập vỡ và tính tỉ lệ %.

Trứng dập vỡ Tỉ lệ dập vỡ (%) = × 100 Tổng số trứng - Màu sắc vỏ trứng được quyết định bởi yếu tố di truyền mạnh hơn là dinh dưỡng. N gược lại độ đậm nhạt của lòng đỏ là do sắc tố trong thức ăn quyết định. Để thay đổi màu vỏ trứng phải thông qua việc tạo ra các tổ hợp gen mới, còn để thay đổi màu lòng đỏ trứng chỉ cần thay đổi thành phần khN u phần ăn. Xu hướng chung hiện nay là tạo ra gia cầm lai đẻ trứng có vỏ màu (nâu, hồng, nâu sẫm.) thay cho trứng vỏ trắng.

Ở Anh 100% gà đẻ trứng thương phN m là vỏ màu, ở Pháp 85%, Đức 80%. Vỏ trứng màu thường gắn với bộ lông màu và thường di truyền liên kết với giới t ính. 102 - Chỉ số lòng đỏ trứng: Chỉ số lòng đỏ trứng là mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính lòng đỏ. h I= I: Chỉ số lòng đỏ D h: Chiều cao lòng đỏ D: Đường kính lòng đỏ Chỉ số này càng cao thì trứng có phN m chất càng tốt.

Phương pháp xác định: đập trứng ra đĩa petri đo đường kính và chiều cao. Chỉ số này thay đổi theo thời gian bảo quản trứng và độ bền của màng lòng đỏ. - Chỉ số lòng trắng trứng: Chỉ số lòng trắng trứng là mối quan hệ giữa chiều cao lòng trắng đặc và trung bình giữa đường kính lớn và đường kính nhỏ của lòng trắng đặc. 2H H: Cchiều cao lòng trắng đặc I= D+d d: Đường kính nhỏ lòng trắng đặc D: Đường kính lớn lòng trắng đặc Chỉ số này càng cao thì trứng có phN m chất càng tốt.

Chỉ số Haugh là chỉ mối quan hệ giữa khối lượng trứng với chiều cao lòng trắng đặc của trứng, do Haugh xác định và đưa ra công thức tính đầy đủ:  G(30w 0,37 − 100  HU = 100log  H- + 19   100  Để dễ tính toán, sử dụng công thức rút gọn: HU = 100log(H − 1,7w 0,37 + 7,57) HU: Đơn vị Haugh H: Chiều cao lòng trắng đặc; G: Hằng số trọng lực = 32,2. W: Khối lượng trứng Phương pháp: cân khối lượng trứng, đập ra đo chiều cao lòng trắng và tra bảng cho sẵn ta có chỉ số Haugh (bảng 4. HU càng cao phN m chất trứng càng tốt. Trứng chênh lệch 1 - 8 đơn vị Haugh thì coi như có chất lượng tương tự.1: Liên quan giữa chỉ số Haugh với chiều cao lòng trắng đặc của trứng Khối lượng trứng (g) Chiều cao 49,9 53,2 56,7 60,2 63,8 lòng trắng đặc (mm) 10 102 101 100 99 98 9 97 96 95 95 94 8 92 91 90 89 88 7 87 86 84 83 82 6 80 79 78 77 75 5 73 71 70 68 67 4 64 62 60 58 56 3 53 50 48 45 42 2 37 34 30 26 22 Chỉ số Haugh Chiều cao lòng trắng đặc (mm) 100 9,6 9,8 10,0 10,2 10,3 90 7,6 7,8 7,9 8,1 8,3 80 5,9 6,1 6,5 6,5 6,7 70 4,6 4,8 5,0 5,2 5,4 60 3,6 3,8 4,0 4,2 4,3 50 2,8 3,0 3,2 3,3 3,5 40 2,2 2,3 2,5 2,7 2,8 30 1,6 1,8 2,0 2,2 2,3 20 1,2 1,4 1,6 1,8 1,9 Chất lượng trứng của một số dòng gà công nghiệp nuôi ở Việt N am những năm qua thể hiện trên bảng 4.

Kết quả cho thấy gà công nghiệp nuôi trong điều kiện nóng, N m nhưng chất lượng trứng đạt tương đương so với nguyên gốc (nuôi ở Cu Ba).2: Chất lượng trứng của một số giống gà nuôi công nghiệ p ở Việt am BVX BVY XR XY Khối lượng trứng (g) 58,7 64,8 58,83 58,0 Chỉ số hình dạng 1,38 1,40 1,39 1,38 2 Độ chịu lực (kg/cm ) 5,19 2,52 2,81 2,75 Độ dày v ỏ (mm) 0,34 0,36 0,35 0,33 Chỉ số lòng đỏ 0,45 0,46 0,43 0,42 Chỉ số lòng trắng 0,09 0,09 0,10 0,09 Đơn vị Haugh 80,5 85,0 83,0 78,0 Trứng dập v ỡ (%) 11,0 6,0 - - XR: Gà lai F1 hướng trứng giữa Leghorn dòng X và Rhode R XY: Gà lai F1 hướng trứng giữa Leghorn dòng X và Rhode Y BVX: Gà Leghorn dòng X BVY: Gà Leghorn dòng Y 104 4. Thành phần cấu tạo trứng gia cầm Trứng gia cầm là tế bào sinh dục phức tạp được biệt hoá rất cao, gồm các phần (tính từ trong ra):lòng đỏ, lòng trắng, màng dưới vỏ, vỏ cứng và có một lớp nhầy (màng mỡ) bao bọc, phủ ngoài vỏ trứng khi được đẻ ra. Mỗi phần của chúng đều có chức năng riêng biệt. Tỉ lệ tương đối (%) và tuyệt đối (g) giữa các thành phần tuỳ thuộc vào loại gia cầm, mùa vụ, tuổi sinh sản.

Lòng đỏ chiếm 32-35%, lòng trắng 54- 58%, vỏ cứng 11-14% so với khối lượng trứng. Sự sai khác phụ thuộc vào loài gia cầm, tuổi đẻ, mùa vụ, chất lượng thức ăn, v. Tỷ lệ các thành phần cấu tạo trứng Khối lượng Lòng trắng Lòng đỏ Vỏ cứng Loại gia cầm trứng (g) (%) (%) (%) Gà 58 55,8 31,9 12,3 Vịt 80 52,6 35,4 12,0 Ngỗng 200 52,5 35,1 12,4 Tỉ lệ thành phần cấu tạo trứng thay đổi tuỳ thuộc giống, tuổi, chế độ dinh dưỡng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ