ĐẶT VẤN ĐỀ Nƣớc ta đang hội nhập và phát triển kinh tế hƣớng tới phát triển bền vững thực hiện mục tiêu phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nƣớc. Song song với quá trình phát triển để nâng cao chất lƣợng cuộc sống thì nhu cầu sử dụng của con ngƣời ngày một tăng dẫn đến lƣợng chất thải sinh hoạt của các hộ gia đình ngày càng nhiều và kéo theo đó là các vấn đề ô nhiễm môi trƣờng từ thành phố đến nông thôn ngày một nghiêm trọng hơn. Việt Nam đang gặp những sức ép rất lớn về môi trƣờng nói chung và quản lý chất thải rắn (CTR) nói riêng. Trên phạm vi toàn quốc, CTR phát sinh ngày càng tăng với tốc độ gia tăng khoảng 10% mỗi năm (theo sở TNMT, 2016) và còn tiếp tục gia tăng mạnh trong thời gian tới cả về lƣợng và mức độ độc hại.
Việc thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy CTR đã và đang trở thành một bài toán khó đối với các nhà quản lý. Thế giới mỗi ngày sản sinh ra 3,5 triệu tấn chất thải rắn nhƣng con số này đang không ngừng tăng vọt (12). Các chuyên gia của ngân hàng thế giới ƣớc tính đến năm 2025, con số này sẽ tăng gần gấp đôi, khoảng 6 triệu tấn mỗi ngày (12). Để vận chuyển khối rác thải hàng ngày, cần số xe ô tô chở rác xếp hàng dài khoảng 5000 km.
Theo tính toán của các nhà khoa học, nếu xu hƣớng này không thay đổi, đến năm 2100, mỗi ngày thế giới lại có thêm 11 triệu tấn rác thải rắn (Theo Báo đài truyền hình Việt nam, 2017), đây của là những con số đáng báo động. Ở nhiều nƣớc đang phát triển, quản lý chất thải rắn có thể tiêu tốn 20-50% ngân sách. Các quốc gia đang trên đà chuyển đổi từ tình trạng thu nhập thấp đến trung bình cũng sẽ bị ảnh hƣởng nặng nề, không có cấu trúc thuế hoặc phí nào để duy trì các chƣơng trình chất thải rắn và ngƣời dân thƣờng sử dụng các bãi đất trống tự do để xả rác Trới là một thị trấn thuộc huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh đƣợc thành lập vào tháng 3/1957. Thị trấn Trới có tổng số diện tích theo km2 12,29 km².
Năm 2014, dân số toàn huyện có 50.438 ngƣời, mật độ gần 1139 ngƣời/km2.Thị trấn Trới hiện là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa - xã hội của huyện Hoành Bồ. Trƣớc đây, làng Trới nằm gần cửa Vạn Yên, dọc bờ suối Váo. Ban đầu chỉ có phần đất của phố Trới và làng Trới, dân cƣ có vài trăm hộ chủ yếu là ngƣời Hoa và ngƣời Kinh. 1 Tuy nhiên vấn đề về môi trƣờng của thị trấn chƣa đƣợc chú trọng, chất thải rắn từ các hoạt động sinh hoạt của ngƣời dân chỉ đƣợc thu gom tập kết tại các bãi rác lộ thiên mà chƣa có các biện pháp xử lý cụ thể.
Ngoài ra các chất thải rắn sinh hoạt vẫn còn bị vứt bừa bãi ra các kênh mƣơng và bãi bên đƣờng gây ra mùi khó chịu khi giao thông ô nhiễm môi trƣờng đất, nƣớc, không khí và tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh gây hại cho sức khỏe con ngƣời cũng nhƣ cảnh quan môi trƣờng xung quanh của thị trấn. Trƣớc tình hình thực tế trên đề tài thực hiện: Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Trới- Huyện Hoành Bồ- tỉnh Quảng Ninh.” Từ đó đƣa ra các giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng và nâng cao chất lƣợng đời sống của ngƣời dân trong khu vực. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về chất thải và chất thải sinh hoạt Khái niệm chất thải Tại khoản 12 Điều 3 của Luật bảo vệ môi trƣờng 2014 thì: “chất thải là vật chất đƣợc thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”.
Vì vậy, chất thải là tất cả những thứ vật chất từ đồ ăn, đồ dùng, chất thải sản xuất, dịch vụ y tế…mà mọi ngƣời không dùng nữa và thải bỏ đi. Khái niệm chất thải sinh hoạt “Chất thải sinh hoạt là những chất thải có liên quan đến các hoạt động của con ngƣời, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cƣ, các cơ quan, trƣờng học, các trung tâm dịch vụ, thƣơng mại. Chất thải sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dƣ thừa hoặc quá hạn sử dụng, xƣơng động vật, tre, gỗ, lông gà lông vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả vv… Nguồn gốc phát sinh Nguồn gốc phát sinh chất thải sinh hoạt rất đa dạng, chủ yếu từ quá trình sinh hoạt của các hộ gia đình, các chợ, cơ quan trƣờng học, nhà hàng, khách sạn, các khu thƣơng mại, khu vui chơi, nơi công cộng, các cửa hàng… - Từ khu dân cư: Bao gồm các khu dân cƣ tập trung, những hộ dân cƣ tách rời. Nguồn chất thải chủ yếu là: thực phẩm dƣ thừa, thuỷ tinh, gỗ, nhựa, cao su,.
còn có một số chất thải nguy hại - Từ các hoạt động thương mại: Quầy hàng, nhà hàng, chợ, văn phòng cơ quan, khách sạn.Các nguồn thải có thành phần tƣơng tự nhƣ đối với các khu dân cƣ (thực phẩm, giấy, catton…) - Các cơ quan, công sở: Trƣờng học, bệnh viện, các cơ quan hành chính: lƣợng rác thải tƣơng tự nhƣ đối với rác thải dân cƣ và các hoạt động thƣơng mại nhƣng khối lƣợng ít hơn. - Từ xây dựng: Xây dựng mới nhà cửa, cầu cống, sửa chữa đƣờng xá, dỡ bỏ các công trình cũ. Chất thải mang đặc trƣng riêng trong xây dựng: sắt thép vụn, gạch vỡ, các sỏi, bê tông, các vôi vữa, xi măng, các đồ dùng cũ không dùng nữa 3 - Dịch vụ công cộng: Vệ sinh đƣờng xá, phát quan, chỉnh tu các công viên và các hoạt động khác. chất thải bao gồm cỏ rác, rác thải từ việc trang trí đƣờng phố.
- Từ các hoạt động sản xuất công nghiệp: Bao gồm chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công, quá trình đốt nhiên liệu, bao bì đóng gói sản phẩm. Nguồn chất thải bao gồm một phần từ sinh hoạt của nhân viên làm việc. - Từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp: Nguồn chất thải chủ yếu từ các cánh đồng sau mùa vụ, các trang trại, các vƣờn cây. Chất thải chủ yếu thực phẩm dƣ thừa, phân gia súc, rác nông nghiệp, các chất thải ra từ trồng trọt, từ quá trình thu hoạch sản phẩm, chế biến các sản phẩm nông nghiệp.
Phân loại chất thải ( theo TCVN 6705:2009, “Chất thải rắn thông thƣờng, phân loại) Phân loại theo mức độ nguy hại - Chất thải nguy hại: Là rác thải chứa các chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính sau: phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác. - Chất thải không nguy hại: là những loại rác thải không có chứa các chất và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại tới môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời. Phân loại theo nguồn thải - Chất thải sinh hoạt: Là chất thải phát sinh trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng đƣợc gọi chung là rác thải sinh hoạt. - Chất thải công nghiệp: Là chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác đƣợc gọi chung là rác thải công nghiệp.
- Chất thải nông nghiệp: Là lƣợng chất thải phát sinh từ các hoạt động nhƣ: trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, chăn nuôi, các sản phẩm thải ra từ chế biến sữa, các lò giết mổ…đƣợc gọi chung là chất thải nông nghiệp. - Chất thải xây dựng: Là các phế thải nhƣ: đất, cát, gạch, ngói, bê tông vỡ do các hoạt động tháo dỡ, xây dựng công trình…. Đƣợc gọi chung là chất thải xây dựng. - Chất thải y tế: chất thải phát sinh từ các hoạt động y tế nhƣ: khám bệnh, bào chế, sản xuất, đào tạo, nghiên cứu… Sinh ra từ các bệnh viện, các trung tâm điều dƣỡng, cơ sở y tế dự phòng.
4 - Chất thải từ các nguồn khác nhƣ: thƣơng mại, dịch vụ… Để tiện cho việc quản lý còn có cách phân loại khác Cách phân loại khác - Chất thải sinh hoạt hữu cơ: Là chất thải trong sinh hoạt hàng ngày có nguồn gốc từ động vật hoặc thực vật, thƣờng là các gốc rau, quả, thức ăn, rơm rác, xƣơng, ruột gà… - Chất thải sinh hoạt vô cơ: Là các chất nilon, nhựa, da, cao su, vải, sợi… đƣợc thải ra trong sinh hoạt hàng ngày, đây là chất thải có thành phần tái chế đƣợc. Tình hình chất thải sinh hoạt phát sinh trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay 1. Hiện trạng chất thải sinh hoạt trên thế giới 1. Sự phát sinh chất thải sinh hoạt của một số nước trên thế giới Nhìn chung, lƣợng chất thải sinh hoạt ở mỗi nƣớc trên thế giới là khác nhau, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế, dân số và thói quen tiêu dùng của ngƣời dân nƣớc đó.
Tỷ lệ phát sinh rác thải tăng theo tỷ lệ thuận với mức tăng GDP tính theo đầu ngƣời. Tỷ lệ phát sinh rác thải theo đầu ngƣời ở một số thành phố trên thế giới nhƣ sau: Băng Cốc (Thái Lan) là 1,6 kg/ngƣời/ngày; Singapo là 2 kg/ngƣời/ngày; Hồng Kông là 2,2 kg/ngƣời/ngày; NewYork (Mỹ) là 2,65 kg/ngƣời/ngày (Theo báo cáo môi trƣờng toàn cầu, 2017) Tỷ lệ chất thải sinh hoạt trong dòng chất thải rắn đô thị rất khác nhau giữa các nƣớc. Theo ƣớc tính, tỷ lệ này chiếm tới 60-70% ở Trung Quốc (Gao et al.2012); chiếm 78% ở Hồng Kông; 48% ở Philipin và 37% ở Nhật Bản, và chiếm 80% ở Việt Nam. Các nƣớc có thu nhập cao chỉ có khoảng 25-35% chất thải sinh hoạt trong toàn bộ dòng chất thải rắn đô thị (Theo đánh giá của ngân hàng thế giới, 2017) - Các số liệu thống kê gần đây về tổng lƣợng chất thải cho thấy: Tại Anh lƣợng rác thải phát sinh ra khoảng 307 triệu tấn/năm.
Trong đó, 60% số này đƣợc chôn lấp, 34% đƣợc tái chế và 6% đƣợc thiêu đốt. Cũng theo thống kê ở đây lƣợng rác thải thực phẩm của hộ gia đình khoảng khoảng 6,7 triệu tấn/năm, nhƣ vậy trung bình mỗi hộ gia đình thải ra 276 kg/năm hay 5,3 kg/tuần. Trong tổng số chất thải trên, chỉ có khoảng 5% chất thải phải đƣa tới bãi chôn lấp, trên 5 36% đƣợc đƣa đến các nhà máy để tái chế. Số còn lại đƣợc xử lý bằng cách đốt hoặc chôn tại các nhà máy xử lý rác.