1 O Ụ V OT O Y TẾ Ọ T NUYN TRƢỜN ỌYƢỢ N ÔT ỊP ƢỢN T Ự TR N ƢƠN TRÌN P ÒN ỐN SUY N ƢỠN TRẺ EM T TỈN ÒA ÌN A O N 2011-2014 huyên ngành: Y tế ông cộng Mã số: 62 72 76 01 LUẬN VĂN UY N K OA ẤP NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. Đàm Khải Hoàn THÁI NGUYÊN - NĂM 2015 2 ẶT VẤN Ề Suy dinh dưỡng đã và đang là vấn đề sức khoẻ cộng đồng đáng được quan tâm ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Năm 2014, toàn thế giới có khoảng 795 triệu người bị suy dinh dưỡng [68]. Theo Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (Unicef) thì suy dinh dưỡng ở trẻ em thực sự đang trong tình trạng khẩn cấp đồng thời kêu gọi các Chính phủ và tổ chức toàn cầu hỗ trợ cung cấp sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ em [59].
Suy dinh dưỡng cấp tính vẫn đang là “kẻ giết người” chính của trẻ em dưới 5 tuổi. Suy dinh dưỡng có liên quan mật thiết tới tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở trẻ em. Suy dinh dưỡng còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển về thể chất, trí tuệ của trẻ và rơi vào vòng luẩn quẩn của đói nghèo [65],[66]. Theo số liệu thống kê năn 2013, trên thế giới có tới 165 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thể nhẹ cân, trong đó 10% bị SDD nặng và có khoảng 195 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi.
Bên cạnh đó, trên thế giới mỗi năm có gần 2,6 triệu trẻ sơ sinh và 8,1 triệu trẻ dưới 1 tuổi tử vong, phần lớn do không được nuôi dưỡng đủ chất. Có tới 80% số trẻ suy dinh dưỡng toàn cầu tập trung chủ yếu ở 24 nước đang phát triển trên thế giới [59]. Ở Việt Nam, với những thành tựu trong công tác phòng chống SDD trẻ em vài thập kỷ qua, tỷ lệ SDD trẻ em ở thể nhẹ cân (cân nặng/ tuổi) đã giảm từ 51,5% (1985) xuống còn 33,8% (2000) và 14,5% (2014) [31], [55], [56], [58]. Đây là kết quả đạt được rất đáng kể, là thành quả của sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị.
Là sự thể hiện sinh động việc thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam đối với công ước Quốc tế về bảo vệ quyền trẻ em và cũng là kết quả của việc thực hiện mục tiêu Thiên niên kỷ về bảo vệ sức khỏe Bà mẹ trẻ em [11]. Tuy nhiên, việc giảm tỷ lệ SDD trẻ em ở nước ta còn có 3 sự khác biệt đáng kể giữa các vùng sinh thái. Suy dinh dưỡng trẻ em ở thể thấp còi (chiều cao/ tuổi) vẫn còn đang ở mức cao 24,9% (2014) [55], [56], việc giảm tỷ lệ SDD trẻ em ở thể thấp còi là vấn đề rất khó khăn và cần được quan tâm đúng mức hơn trong nhiều năm tới nhằm nâng cao tầm vóc người Việt Nam. Tại tỉnh Hoà Bình, chương trình phòng chống SDD trẻ em đã được triển khai từ nhiều năm và đạt được những kết quả đáng kể: Tỷ lệ SDD trẻ em ở thể nhẹ cân đã giảm từ 43,3% (1999) xuống còn 17,7% (2014).
Trong quá trình triển khai chương trình phòng chống SDD trẻ em đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và sự tham gia của cộng đồng. Tuy nhiên, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại Hòa Bình cũng còn bộc lộ nhiều điểm cần quan tâm, đó là: Tỷ lệ SDD trẻ em thể nhẹ cân giảm không đồng đều giữa các địa bàn, đặc biệt là ở các xã vùng sâu, vùng cao tỷ lệ SDD trẻ em vẫn còn cao. Suy dinh dưỡng trẻ em ở thể thấp còi hiện nay vẫn còn ở mức cao (25,6% năm 2014). Việc đầu tư các nguồn lực phục vụ triển khai chương trình còn nhiều khó khăn.
Năng lực đội ngũ cán bộ tham gia mạng lưới triển khai chương trình còn hạn chế,. Để tìm hiểu thực trạng chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại tỉnh Hòa Bình trong thời gian qua ra sao? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chương trình? chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011-2014" với các mục tiêu nghiên cứu như sau: 1- Đánh giá kết quả thực hiện chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011-2014. 2- Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại tỉnh Hòa Bình. 4 hƣơng 1 TỔN QUAN 1.
Thực trạng suy dinh dƣỡng trẻ em 1. Một số khái niệm 1. Dinh dưỡng: Là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối các thành phần dinh dưỡng, đảm bảo cho sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cơ thể để đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội [28], [33]. Tình trạng dinh dưỡng: Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm về chức phận, cấu trúc và hoá sinh, phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể.
Tình trạng dinh dưỡng là kết quả (sản phẩm) tác động của một hay nhiều yếu tố như: Tình trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình, thu nhập thấp, điều kiện vệ sinh môi trường, công tác chăm sóc trẻ em, gánh nặng công việc lao động của bà mẹ. Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề sức khoẻ hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai [28], [44]. Suy dinh dưỡng: Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể ngừng phát triển do thiếu dinh dưỡng, gây giảm năng lượng. Tất cả các chất dinh dưỡng đều có thể thiếu nhưng phổ biến nhất là thiếu protein và năng lượng.
Suy dinh dưỡng biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau nhưng đều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ em [28], [44]. 5 SDD bắt đầu từ biểu hiện chậm lớn cho đến các thể nặng là Marasmus và Kwashiorkor. - Marasmus là thể thiếu dinh dưỡng nặng hay gặp nhất. Đó là hậu quả của một chế độ ăn thiếu cả nhiệt lượng lẫn protein.
- Kwashiorkor ít gặp hơn Marasmus thường là do chế độ ăn quá nghèo về protein mà gluxit tạm đủ. - Ngoài ra còn có thể phối hợp giữa Marasmus - Kwashiorkor [26],[33]. * Định nghĩa thiếu dinh dưỡng Protein - năng lượng: Thiếu dinh dưỡng protein - năng lượng là loại thiếu dinh dưỡng quan trọng nhất ở trẻ em. Thường biểu hiện bằng tình trạng chậm lớn hay đi kèm các bệnh nhiễm khuẩn.
Thiếu dinh dưỡng protein - năng lượng ở trẻ em thường xảy ra do: - Chế độ ăn thiếu về chất lượng và số lượng. - Tình trạng nhiễm khuẩn, đặc biệt là các bệnh đường ruột, sởi và viêm đường hô hấp cấp [44]. Một số phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng Để đánh giá tình trạng dinh dưỡng, thời kỳ đầu người ta chỉ dựa vào các nhận xét đơn giản như gầy, béo, tiếp đó là dựa vào một số chỉ tiêu nhân trắc như cân nặng, chiều cao, vòng cánh tay. Ngày nay, người ta thấy tình trạng dinh dưỡng còn là kết quả tác động qua lại phức tạp giữa các yếu tố với nhau như yếu tố môi trường, kinh tế, văn hoá.
cho nên tính chất phổ biến và nghiêm trọng của tình trạng SDD có thể coi như một số chỉ số hữu ích để đánh giá trình độ phát triển kinh tế - xã hội [28], [44]. Trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em hiện nay người ta thường kết hợp sử dụng các phương pháp: 6 - Nhân trắc học; - Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống; - Khám lâm sàng; - Các xét nghiệm chủ yếu là hóa sinh (máu, nước tiểu,.); - Các kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận do thiếu hụt dinh dưỡng; - Điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong để tìm hiểu mối liên quan giữa bệnh tật và tình trạng dinh dưỡng; - Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe. Trong đó hai phương pháp thường được sử dụng nhiều nhất là nhân trắc và điều tra nhân khẩu, mà các số đo nhân trắc là các chỉ số đánh giá trực tiếp tình trạng dinh dưỡng [13], [28]. Sử dụng các số đo nhân trắc trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng là phương pháp làm thông dụng và được áp dụng rộng rãi, các số đo nhân trắc của cơ thể cung cấp sơ lược sự phát triển hay là kích thước có thể đạt được hoặc là sự thay đổi của các kích thước này.
Chúng được dùng để mô tả tình trạng dinh dưỡng của cá thể hay cộng đồng, phản ánh kết quả cuối cùng của việc cung cấp thực phẩm ăn vào, hấp thu, chuyển hoá các chất dinh dưỡng của cơ thể [13], [28]. Sự lựa chọn các số đo nhân trắc tuỳ thuộc vào mục đích của nghiên cứu, cỡ mẫu, lứa tuổi,. mặc dù có nhiều số đo nhân trắc khác nhau nhưng theo đề nghị của WHO để đánh giá tình trạng dinh dưỡng nên dùng các số đo cân nặng, chiều cao [28], [33]. 7 Khi đánh giá các chỉ số nhân trắc, từng số đo riêng lẻ về chiều cao hay cân nặng sẽ không nói lên được điều gì, chúng chỉ có ý nghĩa khi kết hợp với tuổi, giới hoặc kết hợp tiêu nhân trắc để phân loại tình trạng SDD.
- Phân loại theo Gomez (1956): Đây là phương pháp phân loại được dùng sớm nhất và hiện nay vẫn còn được dùng rộng rãi, so sánh giữa các số đo của đứa trẻ với nhau và phải được so sánh với giá trị của quần thể tham chiếu. Hiện nay, WHO đã khuyến cáo nên sử dụng quần thể tham khảo mới của WHO và có 3 chỉ số thường dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi là cân nặng theo tuổi, cân nặng theo chiều cao và chiều cao theo tuổi [28], [33]. + Cân nặng theo tuổi (CN/T): Là chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng được dùng sớm nhất và phổ biến nhất. Chỉ số này được dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của cá thể hay cộng đồng.
Cân nặng theo tuổi thấp là hậu quả của thiếu dinh dưỡng nhưng không biết rõ là hiện tại hay đã từ lâu [28], [33]. + Chiều cao theo tuổi (CC/T): Chiều cao theo tuổi thấp phản ánh ảnh hưởng của thiếu dinh dưỡng kéo dài trong quá khứ.