Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình dinh dưỡng của trẻ em trên thế giới và ỏ’ Việt Nam Suy dinh dưỡng protein - Năng lượng (Protein - Energy Malnutrition: PEM) là thể loại thiếu dinh dưỡng quan trọng, có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng đối với trẻ dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triền trong đó có Việt Nam. Thuật từ SDD Protein - Năng lượng ở trẻ em do Jelliffe nêu ra lần đầu vào năm 1959. Mặc dù gọi là SDD Protein - Năng lượng nhưng đây không chỉ là tình trạng thiếu hụt protein và năng lượng mà thường thiếu kết hợp nhiều chất dinh dưỡng khác, đặc biệt là các vi chất dinh dưỡng.
Bệnh phổ biến ở trẻ nhỏ, nhưng cũng có thể thấy ở trẻ lớn hơn như tuổi vị thành niên và cả người lớn, nhất là ở phụ nữ tuổi sinh đẻ [3], [14]. Tình hình suy dinh dưỡng ở các nước trên thế giới Tại Hội nghị thượng đỉnh về dinh dưỡng họp tại Roma tháng 12 năm 1992, cho thấy khoảng 20% dân số các nước đang phát triển lâm vào cảnh thiếu đói, 192 triệu trẻ em thiếu dinh dưỡng do thiếu protein - Năng lượng. Đại diện của 159 nước đã tuyên bố quyết tâm thanh toán nạn đói và đẩy lùi các bệnh suy dinh dưỡng. Hội nghị cũng khắng định: "Nạn đỏi và suy dinh dưỡng không thể nào chấp nhận được trong một thế giới mà ở đó có đầy đủ kiến thức và của cải vật chất để thanh toán thảm họa này của loài người" [29].
Suy dinh dưỡng là một vấn đề y tế công cộng quan trọng của nhiều nước trên thế giới. Theo UNICEF (2002), do đói nghèo và thiếu sự tiếp cận với những dịch vụ xã hội cơ bản, hàng năm khoảng 150 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng (Chiếm 26,7% trẻ em trên thế giới), 20 triệu trẻ em bị SDD nặng với hơn 10 triệu trẻ em dưới 5 tuổi đã chết vì suy dinh dưỡng và các bệnh có thể phòng chống được. Hậu quả của SDD gây ảnh hưởng đen nguồn nhân lực cũng như sự phát triển giống nòi cho tương lai [26], [30]. Theo kết quả điều tra toàn quốc giai đoạn 1980 - 1992 của 79 nước đang phát triển cho thấy tỷ lệ SDD nhẹ cân là 35,8%; tỷ lệ trẻ em SDD thể thấp còi 5 là 42,7% và tỷ lệ trẻ em SDD gầy còm là 9,2%.
Trong đó Châu Á có tỷ lệ SDDTE cao nhất so với các châu lục khác: 42% trẻ SDD thể nhẹ cân; 41,7% trẻ em còi cọc và 10,8% trẻ em gầy còm [29]. “Báo cáo lần thứ tư về tình hình dinh dưỡng toàn cầu” năm 2000 cùa ACC/SCN/IFPRI cho thấy: Hàng năm có khoảng 30 triệu trẻ em được sinh ra ở các nước đang phát triển có độ lệch lạc về tăng trưởng vì hậu quả của SDD bào thai. Trẻ đẻ đủ tháng có cân nặng sơ sinh rất thấp phổ biến và trầm trọng ở Miền Nam Trung Á (Khoảng 21%), Trung Phi (15%), Tây Phi (11%). Khoảng 182 triệu trẻ em trước tuổi đi học hoặc 33% trẻ dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị SDD thể thấp còi [24].
Xu hướng về tỷ lệ SDD trẻ em Việt Nam trong những thập kỷ qua Việt Nam là nước có tỷ lệ trẻ em SDD vào loại cao trong khu vực cũng như các nước đang phát triển tuy rằng suy dinh dưỡng trẻ em (SDDTE) nước ta đang giảm nhanh, năm 1985, tỷ lệ SDDTE thể nhẹ cân là 51,5%, năm 2007 tỉ lệ SDDTE thể nhẹ cân là: 21,2% [5]. Nhưng vì tỷ lệ SDDTE ở nước ta trước đây quá cao cho nên mặc dù đã giảm đi nhiều nhưng vẫn bị xếp vào mức cao theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Tỷ lệ SDD trẻ em giảm bền vững qua các năm: Biểu đồ 1.1: Tỷ ỉệ suy dinh dưõng trẻ em Việt Nam các thể từ năm 1985 - 2007 6 Theo điều tra đánh giá hoạt động và hiệu quả của chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em (PCSDDTE) giai đoạn 1999-2004 do Viện Dinh Dưỡng và Tổng cục Thống kê tiến hành trong năm 2004 cho thấy: Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 05 tuổi theo chỉ số cân nặng/tuổi năm 2004 là 26,6%, trong đó SDD nhẹ (độ I) là 22,8%, SDD vừa (độ II) là 3,6% và SDD nặng (độ III) là 0,2%. Tỷ lệ SDDTE theo chỉ số chiều cao/tuổi (SDD thể thấp còi) là 30,7%. Tỷ lệ SDD cân nặng/chiều cao (thể gầy còm) năm 2004 là 7,7%.
Tỷ lệ trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn đến 6 tháng là 12,4%. Tỷ lệ trẻ ăn bổ sung quá sớm trước 4 tháng tuổi là 23,1%. Tỷ lệ trẻ em được uống Vitamin A là 89,4%. Tỷ lệ bà mẹ sau khi sinh con được uổng Vitamin A là 61,0%.
Các yếu tố nguy cơ chính của SDD bao gồm: Trẻ em ở những hộ gia đình làm nông nghiệp thì có nguy cơ SDD cao hơn; Điều kiện vệ sinh ở hộ gia đình ảnh hưởng rõ rệt tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ em; Tình trạng thiếu ăn ở hộ gia đình làm tăng nguy cơ SDDTE; Tỷ lệ SDDTE ở những hộ gia đình có nhiều con (>03 con) thường cao hơn hẳn những hộ có số con ít hơn 3 con; Chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ; Cân nặng sơ sinh: Ảnh hưởng rõ rệt tới tình trạng dinh dưỡng trẻ em; Trẻ bị ốm, chữa bệnh trong năm đầu: Có nguy cơ SDD cao [23]. Một sổ nghiên cứu về tình trạng SDD của trẻ em dưới 5 tuổi: Nghiên cứu tại xã Long Châu, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh năm 2003: Tỉ lệ SDD thể nhẹ cân là: 35,8%; kiến thức của bà mẹ về chăm sóc dinh dưỡng đạt 48% và thực hành của bà mẹ đạt 35%. Tỉ lệ trẻ ăn bổ sung sớm cao 73,35%, số trẻ thường xuyên được ăn đủ 4 nhóm thực phẩm đạt 55% [8]. Một nghiên cứu khác tại xã Đông Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh năm 2005: Tỷ lệ kiến thức của bà mẹ về chăm sóc dinh dưỡng đạt 38%, Tỷ lệ trẻ được gia đình cho ăn kiêng ở nhóm SDD là 41,1%, ở nhóm không SDD là 26,7% [17] Tỷ lệ SDD thể thấp còi của trẻ em dưới 5 tuổi theo nghiên cứu của Lê Danh Tuyên năm 2005 là 29,6%, thấp nhất ở vùng Đông Nam Bộ là 22%, tiếp theo là đồng bằng sông Hồng 26,4%, đồng bằng sông Cửu Long 28,2%, Nam Trung Bộ 7 32%, Đông Bắc Bộ 36,4%, Bắc Trung Bộ 37,5%, Tây Bắc 37,2% và cao nhất là Tây Nguyên 39,2%.
Sự khác nhau về mức độ suy dinh dưỡng thấp còi liên quan rõ rệt tới điều kiện và mức sống thể hiện qua mức chi tiêu và phân loại giàu nghèo. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở nhóm hộ giàu nhất là 13,1%, nhóm khá là 24,1%, nhóm trung bình là 30,2%, nhóm cận nghèo là 38% và nhóm nghèo là 44,2%. Các yếu tố phản ánh chất lượng mức sống như nhà ở, tài sản lâu bền, nguồn nước, điện, loại hố xí có giá trị đánh giá và tiên lượng khả năng trẻ không bị SDD thể thấp còi [16]. Nghiên cứu đánh giá kết quả hoạt động PCSDD tại huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh năm 2005: Các hoạt động PCSDD có sự phối hợp liên ngành, nhà trẻ mẫu giáo cô nuôi được tập huấn về PCSDD, cán bộ hội phụ nữ được tập huấn và tham gia tuyên truyền PCSDD.
Các đợt truyền thông giáo dục sức khoẻ về dinh dưỡng được triển khai nhưng chưa phủ hết các đối tượng, số trẻ được theo dõi cân nặng hàng năm đạt tỷ lệ 90%, cộng tác viên (CTV) hướng dẫn cách sử dụng biểu đồ phát triển và nuôi con bang sữa mẹ cho các bà mẹ. Tỉ lệ SDD thể nhẹ cân là 29% trong đó SDD độ I là 21,8%, SDD độ II là 6,5%; SDD độ III là 0,7%, tỉ lệ SDD thể thấp còi 34,6%, tỉ lệ SDD thể gầy còm là 8,8%. Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân phân theo nhóm tuổi, ở nhóm 0-12 tháng tuổi có tỷ lệ SDD thấp nhất 16,9%, tỷ lệ này tăng dần ở nhóm trẻ 13 - 24 tháng tuổi và cao nhất ở nhóm trẻ 25 - 36 tháng tuổi (44,3%). Ở các nhóm tuổi lớn hon tỷ lệ SDD thể nhẹ cân lại có xu hướng giảm dần nhóm 37 - 48 tháng tuổi (29,6%), nhóm 49 - 60 tháng tuổi (21,5%).
Tỷ lệ SDD thể gầy còm giữa các nhóm tuổi khác nhau, nhóm tuổi từ 0 - 12 tháng cỏ tỷ lệ thấp nhất (20,1%) và tăng dần ở nhóm tuổi lớn hon và tăng cao nhất ở nhóm 49 - 60 tháng tuổi [2]. Các nghiên cứu tại Hà Nội của Lê Bảo Châu, Lê Thị Hợp cho thấy các yếu tố như cai sữa trước 12 tháng, ăn bổ sung (ABS) sớm và không biết tô màu bát bột, mẹ không nhận được thông tin về dinh dưỡng, không đánh giá đúng về TTDD của con có liên quan den SDD của trẻ [7], [10]. Đánh giá tình trạng và một số yếu tố liên quan ở trẻ 25 - 60 tháng tuổi tại 4 trường mầm non, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Nghiên cứu trên 392 trẻ có 121 8 trẻ SDD, tỷ lệ SDD thể nhẹ cân là 30,9%, thể thấp còi 33,7%, còi cọc 7,4%.
Các yếu tố liên quan: Không thường xuyên sử dụng thức ăn giàu đạm làm tăng nguy cơ SDD của trẻ lên 5,17 lần so với trẻ được sử dụng thực phẩm giàu đạm, không tẩy giun định kỳ cho trẻ làm tăng nguy cơ SDD lên 3,4 lần; điều kiện kinh tế hộ nghèo làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng lên gấp 4,86 lần. Thực hành của gia đình về chăm sóc dinh dưỡng trẻ em (DDTE) không đạt yêu cầu làm tăng nguy cơ SDD của trẻ lên gấp 4,24 lần so với trẻ có thực hành chăm sóc trẻ đạt yêu cầu [11], 1. Nguyên nhân của suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em là hậu quả của nhiều yếu tố tác động, trong đó các yếu tố quan trọng nhất là chế độ ăn nghèo về sổ lượng và kém về chất lượng. Nói chung, các chế độ ăn nghèo protein và năng lượng cũng thường thiếu cả sat, vitamin A và các vitamin nhóm B.
Tình trạng SDD nói chung và các thể nặng thường hay gặp ở trẻ em trước tuổi đi học, bởi vì nhu cầu dinh dưỡng tính theo đơn vị the trọng ở lứa tuổi này là rất cao mới phù hợp với tốc độ lớn nhanh của trẻ. Trẻ nhỏ thường ăn không đủ số lượng vì thức ăn không phù hợp, có đậm độ năng lượng thấp, không cân đối, hơn nữa trẻ cũng tiếp xúc nhiều với môi trường nên dễ nhiễm khuẩn.