CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. NHŨNG HIẾU BIẾT VỀ SUY DINH DƯỠNG PROTEIN - NĂNG LưỢNG: 1. L Định nghĩa: Thiếu dinh dưỡng protein - năng lượng là loại thiếu dinh dưỡng quan trọng nhát ở trẻ em. Thường biểu hiện bằng tình trạng chậm lán hay đi kèm các bệnh nhiêm khuẩn.
Thiếu dinh dưỡng protein - năng lượng ở trẻ em thường xảy ra do: - Chế độ ãn thiếu vé chít lượng và số krựng. - Tinh trạng nhiễm khuẩn, đặc biệt là các bệnh đường ruột, sởi và viêm dường hô hấp cặp. SDD bầt đầu lừ biểu hiện chậm lớn cho dến các the nặng là Marasmus và Kwashiorkor. - Marasmus là thể thiếu dinh dưỡng nặng hay gặp nhất.
Đó là hậu quả của một chế dỏ ân thiếu cả nhiệt lượng Ian protein. - Kwashiorkor ít gập hơn Marasmus thường là do chế độ ãn quá nghèo về protein mà gluxit tạm đủ. - Ngoài ra còn có thể phối hợp giữa Marasmus - Kwashiorkor [30]. Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em trên thế giới và Việt Nam: 1.
Thế giới: Suy dinh dưỡng là một bệnh khá phổ biến ở trẻ em dưói 5 tuổi, đặc biệt ở các nước dang phát triẻn. Theo ước lính của Tổ chức Y tếThếgiới năm 1990, trÊn thế giới có tới 150 triệu (26,5%) trẻ em dưới 5 tuổi bị thiếu cân và 20 triệu trẻ em bị suy dinh dưỡng nặng. Trong đó, ờ các nước đang phát triển ti lẹ trẻ em dưới 5 tuói bị suy dinh dưỡng là 30,2%; châu Ả: 35,1% [86]. Tại hội nghị quốc tè'vể dinh dưỡng họp tại Rữma tháng 12 năm 1992 cho ihấy khoáng 20% dân số các nước dang phát triển làm vào cảnh thiếu đói, 192 ưiẽu trẻ em thiếu dinh dưỡng do thiêu protein - nằng lượng.
Phần lớn người dân ở các nước đang phát triển bị thiếu các vi chất dinh dưỡng, khoảng 40 triệu người thiếu vitamin A, 200 triệu người bị thiếu máu thiếu sắt, 19% trè sơ sinh cân nặng dưới 2500gr [84,85]. 11 Thống kê tv lệ SDD qua các cuộc diều tra quốc gia từ Hãm 1980 -1992 của 72 nước đang phát triển cho thấy li lệ trẻ bị SDD thẻ nhẹ càn là 35,8%- tỉ lệ trê còi cọc 42,7% và tí lệ trê gầy còm là 9,2%. Trong đó châu Á có li lệ cao nhất, 42% tré ém dưới 5 tuổi bị SDD thể nhẹ cản, 47,1% trẻ bị SDD thể còi cọc và 10,8% trẻ gổy còm. Châu úc có 29,1% trẻ SDD nhẹ cân, 41,9% trê còi cọc và 5,6% tic gáy còm.
Châu Phi có 27,4% trê SDD nhẹ cân, 38,6%| tre còi cọc và 7,2% trẻ gầy cùm. Mỹ La tĩnh có 11,9% trẻ SDD nhẹ cân, 22,2% trẻ còi cọc và 2. Những nghiên cứu cúa Fernando ở Tiling Mỳ cho thấy nhiều nước có tỉ lệ SDD trên 50%, đặc biệt là ti lệ tre em SDD ờ Guatemala lẽn đến 73,4%, ờ E.Lsalvado là 68,5%, Honduras [à 63. ơ các nước như Ai Cập, Brazil, Ân Độ, Senegan đều cho thấy tỉ lệ SDD lởn hơn 30% [66,67,70,73].
Nhiều năm gần dãy, SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi trân phạm vi toàn thê giới cố xu hướng giảm. Theo sớ liệu điểu tra cúa 61 quốc gĩa năm 1998 cho thấy ti lệ SDD trong 15 nám qua giảm trung bình 0,54%/ năm, trong đó các nuức Đông Nam Á có tí lệ giảm nhanh nhất khoáng 0,9%/ năm [86]. Tai khu vực Đỏng Nam Á, theo thống kẽ của Unicef năm 1994 cho thấy một số nước có tỉ lệ SDD còn ở mức rất cao như Campuchia 52%, Lào 40%, Mianma 39% và Indonesia 34% [83], Viện Nghiẻn cứu Chiên lược và Chính sách Dinh dưỡng Quốc tế (IFPRI) trên Cữ sở phân tích các yếu lố cùa các khu vực đà đưa ra dự bấo về tình hình SDD đến nãm 2020 ở các nước đang phát triển như sau: Bàng Ỉ.Ỉ, Dự báo ti lệ (%) SDD (W/A) đến nãm 2020 à các nước đang phái triển [74]: Nam 2020 2020 2020 Khu vực 1995 Trung bình Bi quan Lạc quan Nam Á 49.5 Cận sa mạc Châu Phi 31.6 Đòng và Nam Phi 14.7 Mỷ La tinh/ Caribe 9.0 * Chung các nước đang phái triển 31.8 15,1 12 Tỷ lệ SDD cao ở khu vực Nam Ẩ, Cận sa mạc Châu Phi, Đông Á. Tỷ lệ này tuy có xu hướng giảm dần nhưng mức giảm của những năm gần dây có chậm hon thời kỳ trước.
Lý do của tình trạng này chưa hoàn toàn sáng tỏ, có thể do chậm tẫng trường kinh tê', thiên tai hoặc cũng có thể do lác dụng hỗ trự của các chương trình sức khoé đổi với dinh dường như tiêm chừng có lẽ đã đạt mức cao rổì cho nên hơn bao giờ hết các can thiệp khác cấn dược hỗ trợ hơn nữa [74], L 1. Tình hình SDD trẻ em dưới 5 tuổi ờ Việt Nam: Cũng như ở các nước dang phát triển khác trẽn thế giới, tỉ lệ SDD ở nước ta vần còn ở mức cao so với mội số nước trong khu vực [88]. Nguyên nhân chính là do kháu phẩn ăn chưa đáp ứng được nhu cẩu dinh dưỡng cùa trẻ, do thiếu kiến thức nuôi dưỡng trẻ và còn do bệnh lật gây liên. Tình hình SDD ỜViệl Nam [35,62]: Tỉ lệ suy dinh dường (%) Chỉ sô' Độ SDD 1985 1990 (n-7044) 2000 2003 (n=91797) (n= 11809) (n=94469) Nhẹ cân Chung 51.2 Qua bảng trên ta thấy, ti lệ suy dinh dưởng thể nhẹ cân so với luổi ở trê dưới 5 tuổi nước ta giảm trưng bình 2%/nãm và Việt Nam Irở thành một trong những nước có mức giảm SDD nhanh nhất trên thê' giới [35], Sở dĩ có kết quả như vây là do chúng ta đã không ngừng triển khai Chương trình phòng chống SDD trẻ em một cách sâu rộng trên phạm vi toàn quốc trong nhiều nâm qua.
Bên cạnh đó, những tiến bộ trong công cuộc đỏi mới và táng trưởng kinh tế cũng góp phần lạo nên nhiều cài thiện về tình hình cung cấp thực phẩm trên bình diện vĩ mô. Khẩu phần ản của người 13 Việc Nam đã cú những thay đũi rỡ rệl, cán đối hơn về mật chái lượng. nhieư thức ăn dộng vặt, dầu mở, quả chín hơn trước đây [36]. Kết quả nghiên cứu năm 1990 cùa Đào Ngọc Diễịi và cộng sự cho thây có sự khác biệt về tý lệ SDD giũa vùng đống hàng (32,1%) và miền niii (43,4%), giữa thành thị (32,4%) và nông thôn (40,9%) [ 13].
Tỷ lệ này củng khác nhau giữa các vùng sinh thái. ĐÍỂU tra của Viện Dính dường Quốc gia năm 2003 chơ thây những vùng có tỉ lệ SDD cao là Tây Nguyên, Vung núi phía Rác, Bắc Trung Bọ. Nhìn chung ờ vùng đổng bang Nain Bộ tỉ lệ SDD trê em tháp hơn ở các vùng khác i 35]. Trong suót thộp kỷ qua, mặc dù tốc độ giảm suy dinh dưỡng cứa nước La là khá nhanh và liên tục, song hiện nay SDD trẻ em vãn còn ớ mức cao, sở' lượng Irẻ dưới 5 tuổi bị SDD van còn nhiễu (khoảng trển 2 triệu trẻ), trong dó chủ yếu ỉà SDD thể nhẹ và ở lứa tuổi dưới 2 tuổi [35,58], Chính vì vậy.
cho tới thời điểm này, SDD trc cm vần còn là một thách thức lớn dối với nước ta. Tỳ lệ ị%) suy dinh dưởng ưẽ em dưới 5 tuổi íiỉỉh Hà Tây i 999-2004 [5J: Năm 1999 3000 2001 2002 2003 2004 SDD cân nặng Iheơ tuổi (%) 34.2 SDD chiêu cao theo tuổi (%) 38. Một sò nguyên nhàn gày SDD ở trẻ dưới 5 tuổi: 1. Trẻ bì SĐD là do saỉ lẩm về phương pháp nuôi dưỡng: - Dơ mẹ khòng có sữa hoặc thiếu sữa phải nuôi nhãn tạo nhtmg không đúng cách: Cho đốn nay, mọi người đỂu thĩta nhạn sửa mẹ là thức ãn tứt nhất cho trè dưới ỉ tuổi.
Sữa mẹ là thúc ăn dẻ tiỂu hoá, dẻ hấp thu và có tác dụng kháng khuẩn. Chính vì thể mả trẻ được 14 nuôi nhân tạo thường đẻ bị mắc các bệnh nhiêm khuẩn - là một trong những nguyên nhân quan trọng gây SDD [14]. - Do tré được ản bổ sung không đúng cách: Trong những năm đẩu đời, cơ thể trẻ phát triển nhanh, đòi hỏi nhu cẩu dinh dưỡng cao, sữa mẹ là rhức ăn đâu liên vả tốt nhâì dối với trỏ nhưng không đủ thoả mãn nhu cầu cho cơ thể ngày càng lớn cua trẻ. Vì vậy từ tháng thứ 7 trở đi cần phải cho trẻ ăn bổ sung.
Thời kỳ đầu ãn bổ sung là thời kỳ đe doạ SDD nhất dối với trỏ. Cho (rè ăn bổ sưng quá sớm, trẻ khùng hâ'p thu được, dễ bị rối loạn liêu hoá. Ngược lại. cho trẻ ăn bổ sung quá muộn, tré thường hay bị thiếu vi chất dinh dưỡng và năng lượng.
Bẽn cạnh đó, cách cho ăn bổ sung không đúng về số lượng và chất lượng, thiếu vệ sinh cũng dẫn tới SĐD và bẻnh tật [14]. - Do Irẻ bị cai sữa sớm: Cai sữa sớm làm mất đi nguồn dinh dưỡng quý giá đối với tre, nhất là khi mà nguồn dinh dưỡng từ thức ăn bổ sung khống dược đầy đủ, Hiện nay, WHO khuyến cáo các bà mẹ nén cho trẻ bú kéo dài 18-24 tháng, không nên cai sữa cho trẻ trước 12 tháng tuổi. Nghiên cứu cùa Đinh Vãn ì hức và cộng sự cho thấy tỉ lệ SDD ở nhóm trẻ được cai sữa trước 12 (háng (45,8%) cao hơn nhóm trẻ được cai sữa sau 12 (háng (32,2%) [48]. Trẻ bị SDD là do nhiễm khuẩn: - SDD còn gặp ờ những trẻ sau kỉũ bị mác các bệnh nhiêm khuẩn nhu viêm phổi, ỉa chảy, lao.
người la đã biết rõ có mối liên quan giữa SDD và nhiễm khuẩn. SDD làm tãng tính cảm thụ đối với nhiễm khuân và nhiễm khuẩn có thể làm cho SDD nặng hơn. Một SỐ nguyên nhân khác: - Trẻ đẻ thấp cân: Những tre sơ sinh có cân nặng khi đẻ thấp (<2500g) thường ỉà do đẻ non hoặc suy dinh dưỡng hào thai, Chức nííng của các bộ máy chưa hoàn thiện, khả năng tiêu hoá và hấp thu thức ăn kém, hệ thõng miễn dịch suy giảm, do đố tré dề bị mác các bệnh nhiễm khuẩn và SDD, nguy cơ tử vong cao [13]. Tré bị tật bẩm sinh (sứt mỏi, hờ hàm ếch, tìm bẩm sinh.): Di tật bẩm sinh ảnh hường rất nhiêu đến lình trạng dinh dưỡng cửa trẻ.
Tỷ lệ SĐD năng ở những trê có dị tật bẩm sinh (34,6%) cao hơn so với nhóm trẻ không có dị tật bẩm sinh (10,2%) [2], - Gia đình dõng con, kmh tế khó khăn: Gĩa dinh đông con thường đi kèm vói kinh tế khó khăn, cha mẹ không có đủ điều kiện và thời gian để chãm sóc và nuôi dưỡng trẻ. Nghtẻn cứu của Đinh Vãn Thức và cộng sự về tý lệ SDD và một số yếu tố liên quan cho thấy tỳ lệ SĐD của nhóm trẻ thuộc các gia dinh có 1-2 con thấp hơn ở nhóm trẻ thuộc các gia đình có 3 con trở lèn [48].