Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây Vầu đắng (Indosasa amabilis McClure, một số tài liệu định danh là Indosasa sinica C. Chao hoặc Indosasa angustata McClure) thuộc phân họ Tre (Bambusoideae), họ Hòa thảo (Poaceae). Đây là loài tre mọc tản không gai có kích thước thân lớn tại Việt Nam, chiều cao vút ngọn trung bình đạt 17–20 m, đường kính thân 10–12 cm (cây lớn có thể đạt 20 cm), lóng dài 30–50 cm (dài nhất đến 80 cm), vách thân dày khoảng 1 cm. Rừng Vầu đắng phần lớn là rừng thứ sinh hình thành sau quá trình canh tác nương rẫy hoặc sau khi rừng gỗ tự nhiên nguyên sinh bị tác động, khai thác. Tùy thuộc vào trạng thái rừng thuần loài hay hỗn giao với cây gỗ, rừng mới phục hồi hay rừng ổn định mà mật độ biến động từ 1.300 đến 6.000 cây/ha. Vầu đắng có đặc tính chịu bóng, ưa ẩm, phân bố chủ yếu ở sườn âm, chân đồi, khe núi; chu kỳ ra hoa dài (ước tính trên 50 năm) và sau khi ra hoa kết hạt thì cây mẹ chết hàng loạt.

Huyện Bạch Thông nằm ở trung tâm tỉnh Bắc Kạn, có tổng diện tích tự nhiên là 545,62 km² với hơn 90% diện tích là đồi núi thuộc cánh cung Ngân Sơn. Rừng Vầu đắng toàn huyện có khoảng 560,9 ha, phân bố tập trung chủ yếu tại hai xã Đôn Phong và Cẩm Giàng. Đây là loài lâm sản ngoài gỗ đa tác dụng, vừa có chức năng phòng hộ đầu nguồn, chống xói mòn đất dốc, vừa cung cấp nguyên liệu thân khí sinh cho xây dựng, công nghiệp chế biến giấy, tăm, đũa, đồng thời cung cấp măng làm thực phẩm có giá trị kinh tế. Tuy nhiên, việc khai thác tự phát, kỹ thuật lâm sinh chưa đồng bộ và thị trường tiêu thụ thiếu ổn định đã đặt ra yêu cầu cần đánh giá toàn diện để quản lý và kinh doanh bền vững.

Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá thực trạng phân bố, sinh trưởng phát triển và giá trị kinh tế của cây Vầu đắng tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
  2. Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật, chính sách và tổ chức nhằm phát triển và nâng cao giá trị kinh tế tài nguyên Vầu đắng tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.

Đối tượng nghiên cứu:

  • Rừng Vầu đắng thuần loài tại 2 xã Đôn Phong và Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
  • Các hộ gia đình có rừng Vầu đắng tại 2 xã Đôn Phong và Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Toàn bộ diện tích rừng Vầu đắng tại xã Đôn Phong và xã Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
  • Nội dung: Tình hình phân bố diện tích, đặc điểm sinh trưởng thân khí sinh, thảm thực vật tái sinh, thực trạng khai thác, các kênh thị trường tiêu thụ và giá trị kinh tế mang lại từ thân khí sinh và măng Vầu đắng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên khung lý thuyết về phân loại thực vật họ Tre trúc (Bambusoideae), đặc điểm sinh thái học cá thể, quần thể và diễn thế rừng thứ sinh; kế thừa các công trình nghiên cứu trong nước của Camus (1923), Vũ Văn Dũng (1980, 2005), Phạm Hoàng Hộ (1999), Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005), Ngô Quang Đê (1994, 2003), Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn (2007). Nghiên cứu kết hợp điều tra lâm sinh thực địa với phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA).

Phương pháp nghiên cứu = Kế thừa tài liệu + Điều tra PRA hộ gia đình (n=30) + Điều tra thực địa 18 ô tiêu chuẩn (OTC) + Thống kê sinh trắc lâm nghiệp (SPSS, Excel)

Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp

  • Điều tra xã hội học lâm nghiệp (PRA): Phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình bằng phiếu điều tra bán cấu trúc với dung lượng mẫu $n = 30$ phiếu (mỗi xã 15 hộ), kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ quản lý lâm nghiệp cấp huyện và xã (3 người/đơn vị).
  • Điều tra thực địa ô tiêu chuẩn (OTC): Lập 18 ô tiêu chuẩn mang tính đại diện, diện tích mỗi OTC là 1.000 m² (kích thước $20 \times 50$ m hoặc $25 \times 40$ m, tổng diện tích điều tra 1,8 ha). Tại mỗi xã (Đôn Phong và Cẩm Giàng) lập 9 OTC phân đều trên 3 cấp mật độ rừng:
    • Cấp mật độ thấp: $< 3.000$ cây/ha (3 OTC/xã);
    • Cấp mật độ trung bình: $3.000 - 5.000$ cây/ha (3 OTC/xã);
    • Cấp mật độ cao: $> 5.000$ cây/ha (3 OTC/xã).

Các chỉ tiêu đo đếm trên OTC

  • Đo đường kính thân tại vị trí 1,3 m ($D_{1.3}$) bằng thước dây quy đổi từ chu vi ($C$).
  • Đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) bằng thước sào lâm nghiệp.
  • Xác định cấp tuổi thân cây khí sinh, mật độ cây/ha, mật độ khóm/ha.
  • Đếm số lượng mầm măng nhú, tỷ lệ măng sống thành cây ($70%$) và tỷ lệ măng cho phép khai thác ($70%$).
  • Điều tra thành phần loài cây gỗ tái sinh và cây bụi thảm tươi dưới tán rừng Vầu.

Phương pháp xử lý và tính toán số liệu

  • Thống kê sinh trắc lâm nghiệp: Sử dụng công thức tính số trung bình ($\bar{x}$), sai tiêu chuẩn ($S$), hệ số biến động ($S%$), kiểm định Levene kiểm tra phương sai mẫu và phương pháp hệ số đường ảnh hưởng (HSĐAH) để phân tích tác động của các nhân tố sinh thái.
  • Tính toán kinh tế lâm nghiệp: Quy đổi toàn bộ sản lượng khai thác và doanh thu về đơn vị 01 ha/năm theo các công thức:
    • Doanh thu tự dùng: $S_{gđ} = Q_{gđ} \times P_{TL}$
    • Doanh thu bán chợ: $S_{Chợ} = Q_{Chợ} \times P_{Chợ}$
    • Doanh thu bán thương lái: $S_{TL} = Q_{TL} \times P_{TL}$
    • Tổng giá trị sản phẩm: $S = S_{gđ} + S_{Chợ} + S_{TL}$
    • Xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm chuyên dụng Microsoft Excel và SPSS.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tiềm năng lâm sản ngoài gỗ của cây Vầu đắng tại huyện Bạch Thông, vai trò xóa đói giảm nghèo cho người dân miền núi, xác lập mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Tổng hợp các công trình nghiên cứu tre trúc trên thế giới (diện tích 36,77 triệu ha, các mô hình chế biến ván sợi, ván dăm tại Trung Quốc, Ấn Độ) và tại Việt Nam (thống kê 194–216 loài tre nứa thuộc 25–26 chi). Phân tích đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của chi Indosasa, kỹ thuật nhân giống (hom thân ngầm, hom gốc thân khí sinh tuổi 2), kỹ thuật khai thác luân kỳ 2–3 năm chỉ chặt cây tuổi 5–6. Trình bày tổng quan điều kiện tự nhiên (địa hình cánh cung Ngân Sơn, đất phong hóa từ đá phiến sét, lượng mưa 1.500–2.000 mm/năm) và tình hình kinh tế - xã hội của huyện Bạch Thông.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chi tiết hóa phương pháp kế thừa tài liệu; quy trình lập 18 ô tiêu chuẩn (1.000 m²/OTC) tại xã Cẩm Giàng và Đôn Phong; phương pháp phỏng vấn 30 hộ dân; các công thức toán học thống kê lâm nghiệp và mô hình tính toán giá trị kinh tế theo đơn vị 1 ha/năm.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương tập trung công bố và phân tích các số liệu thực chứng qua ba nội dung lớn:

  • Hiện trạng phân bố và đất đai: Diện tích rừng Vầu đắng thuần loài tại Đôn Phong là 76,65 ha (chiếm 88,52% diện tích đất rừng sản xuất của xã là đất lâm nghiệp), tại Cẩm Giàng là 21,42 ha. Mức giao đất bình quân tại Cẩm Giàng đạt 0,98 ha/hộ (tổng 520 hộ quản lý 95% diện tích rừng), cao hơn Đôn Phong (0,59 ha/hộ do mật độ dân cư tập trung đông hơn).
  • Đặc điểm lâm sinh và sinh trưởng:
    • Ghi nhận 27 loài cây gỗ tái sinh dưới tán Vầu (mật độ bình quân 10.500 cây/ha, xuất hiện các loài tiên phong như Màng tang, Thôi ba) và 25 loài cây bụi thảm tươi (Lá dong, Bòng bong, Lông culi, Sa nhân, Cỏ lá tre, Râu hùm với độ che phủ 20–30%).
    • Khả năng sinh trưởng thân khí sinh biến động rõ rệt theo trạng thái rừng: trạng thái Vầu xen gỗ đạt kích thước lớn nhất ($D_{1.3} = 8,63\text{ cm}$, $H_{vn} = 11,35\text{ m}$; cá biệt đạt $D_{00} = 9,27\text{ cm}$, $H_{vn} = 12,02\text{ m}$), cao hơn trạng thái Vầu xen Nứa ($D_{1.3} = 8,78\text{ cm}$, $H_{vn} = 11,62\text{ m}$) và Gỗ xen Vầu ($D_{1.3} = 6,46\text{ cm}$, $H_{vn} = 9,88\text{ m}$).
    • Điều kiện sinh thái xã Đôn Phong (lượng mưa 1.860 mm/năm, nhiệt độ 20,4°C, độ ẩm 86–90%) giúp Vầu đắng sinh trưởng tốt hơn xã Cẩm Giàng (lượng mưa 1.586 mm/năm, nhiệt độ 21,5°C, độ ẩm 85–87%).
  • Thực trạng khai thác, thị trường và hiệu quả kinh tế:
    • Sản lượng khai thác thân khí sinh bình quân đạt 1.287,2 cây/ha/năm (Đôn Phong đạt 1.576,4 cây/ha/năm; Cẩm Giàng đạt 997,96 cây/ha/năm). Tỷ lệ bán cho thương lái chiếm ưu thế tuyệt đối (83,28% tương đương 1.072 cây/ha/năm), tự dùng 9,16% (117,95 cây/ha/năm), bán chợ 7,56% (97,25 cây/ha/năm).
    • Sản lượng măng khai thác bình quân đạt 698,0–700,25 kg/ha/năm (Đôn Phong đạt 814,6–819,2 kg/ha/năm; Cẩm Giàng đạt 581,3 kg/ha/năm). Kênh tiêu thụ măng chủ yếu qua chợ tự do (48,43% tương đương 339,11 kg/ha/năm) và thương lái thu mua chính vụ (37,27% tương đương 261,0 kg/ha/năm), gia đình sử dụng 12,16% (85,14 kg/ha/năm).
    • Doanh thu từ măng chiếm tỷ trọng quyết định (trên 75% tổng thu nhập). Tổng giá trị kinh tế bình quân đạt 13.048.000 đồng/ha/năm (Đôn Phong đạt 14.470.000 đồng/ha/năm, Cẩm Giàng đạt 10.567.000 đồng/ha/năm).

Phần 5: Kết luận, tồn tại và kiến nghị

Tóm lược các kết quả định lượng về diện tích, sinh trưởng, chuỗi tiêu thụ; chỉ ra các tồn tại trong quản lý kỹ thuật và đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh, chính sách giao đất, vốn vay và liên kết thị trường.


Kết quả và đóng góp

Dữ liệu tổng hợp từ kết quả nghiên cứu thực địa

Chỉ tiêu nghiên cứu Xã Cẩm Giàng Xã Đôn Phong Trung bình khu vực
1. Diện tích đất và rừng
Tổng diện tích tự nhiên (ha) 949,03 12.687,00 -
Diện tích đất lâm nghiệp (ha) 621,59 11.230,00 -
Diện tích rừng Vầu đắng thuần loài (ha) 21,42 76,65 Tổng: 98,07
Diện tích Vầu đắng bình quân/hộ (ha/hộ) 0,98 0,59 0,79
2. Điều kiện khí thái & Sinh trưởng
Nhiệt độ không khí trung bình năm (°C) 21,5 20,4 20,95
Lượng mưa trung bình năm (mm) 1.586 1.860 1.723
Độ ẩm không khí trung bình (%) 85–87 86–90 85–90
Đường kính thân khí sinh bình quân $D_{1.3}$ (cm) 8,52 8,74 8,63
Chiều cao vút ngọn bình quân $H_{vn}$ (m) 11,14 11,56 11,35
3. Sản lượng khai thác (1 ha/năm)
Sản lượng thân khí sinh (cây/ha/năm) 997,96 1.576,40 1.287,20
Sản lượng măng khai thác (kg/ha/năm) 581,30 814,60 698,00
4. Cơ cấu thị trường tiêu thụ
Thân khí sinh: Tự dùng / Bán chợ / Bán thương lái (cây/ha) 96,6 / 132,7 / 768,7 139,3 / 61,8 / 1.375,3 117,95 / 97,25 / 1.072,0
Măng: Tự dùng / Bán chợ / Bán thương lái (kg/ha) 66,33 / 274,83 / 240,14 103,95 / 403,39 / 311,86 85,14 / 339,11 / 261,00
5. Giá bán sản phẩm
Thân khí sinh bán thương lái (đồng/cây) 2.500 2.500 2.500
Thân khí sinh bán ngoài chợ (đồng/cây) 3.000 3.000 3.000
Măng bán cho thương lái (đồng/kg) 12.000 12.000 12.000
Măng bán lẻ tại chợ (đồng/kg) 15.000 15.000 15.000
6. Giá trị kinh tế (đồng/ha/năm)
Doanh thu từ thân khí sinh (đồng/ha/năm) 2.684.000 4.180.000 3.432.000
Doanh thu từ măng (đồng/ha/năm) 7.883.000 10.290.000 9.086.500
Tổng giá trị thu được (đồng/ha/năm) 10.567.000 14.470.000 13.048.000

Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất

  1. Nhóm giải pháp kỹ thuật lâm sinh:

    • Tập huấn kỹ thuật nuôi dưỡng rừng tự nhiên; áp dụng phương pháp nhân giống bằng hom cành hoặc thân khí sinh mang đoạn thân ngầm (tuổi 2) thay thế việc đào phá hom gốc làm tổn hại thảm rừng.
    • Điều tiết chế độ khai thác măng hợp lý: chỉ thu hoạch tối đa $70%$ lượng măng mọc nhú, giữ lại tối thiểu $30%$ lượng măng khỏe mạnh phát triển thành cây thành thục. Khai thác thân khí sinh theo chu kỳ 2–3 năm/lần, chỉ chọn cây tuổi 5–6, giữ tỷ lệ cấu trúc tuổi rừng hợp lý.
    • Hạn chế phát triển rừng Vầu thuần loài do nguy cơ bùng phát bệnh chổi sể và sâu hại măng; đẩy mạnh mô hình trồng hỗn giao Vầu đắng với các loài cây gỗ bản địa thuộc họ Đậu (Fabaceae) hoặc cây Mỡ (Manglietia conifera) trên diện tích đất dốc, đất trống để tăng tính chống chịu sinh thái.
  2. Nhóm giải pháp chính sách:

    • Hoàn thiện công tác cắm mốc ranh giới giao đất, giao rừng đến từng hộ gia đình nhằm giải quyết tranh chấp.
    • Triển khai các gói tín dụng ưu đãi dài hạn phục vụ phát triển lâm sản ngoài gỗ.
  3. Nhóm giải pháp tổ chức - liên kết thị trường:

    • Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội tại địa phương (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên) trong công tác tuyên truyền bảo vệ rừng.
    • Xây dựng chuỗi liên kết trực tiếp giữa hộ dân trồng rừng với các cơ sở, nhà máy chế biến nguyên liệu tre nứa, cắt giảm các khâu trung gian thương lái ép giá.

Đóng góp của đề tài

  • Cung cấp bộ số liệu thực chứng về định lượng sinh trưởng ($D_{1.3}$, $H_{vn}$, mật độ), trữ lượng và năng suất khai thác măng/thân khí sinh của loài Vầu đắng tại huyện Bạch Thông.
  • Làm rõ cấu trúc chuỗi giá trị và cơ chế phân phối sản phẩm lâm sản ngoài gỗ tại địa bàn cấp xã, tạo cơ sở thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch vùng nguyên liệu tre nứa tại tỉnh Bắc Kạn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Khóa luận chỉ mới tiến hành điều tra trên phạm vi 2 xã (Đôn Phong và Cẩm Giàng) trên tổng số 17 đơn vị hành chính cấp xã/thị trấn của huyện Bạch Thông; chưa theo dõi liên tục được toàn bộ chu kỳ sinh trưởng - ra hoa kéo dài nhiều thập kỷ của loài Vầu đắng; chưa tiến hành thí nghiệm thực nghiệm các biện pháp xử lý phòng trừ sinh học đối với bệnh chổi sể trên thân cây.
  • Hướng mở nghiên cứu:
    • Mở rộng phạm vi điều tra sinh thái và trữ lượng Vầu đắng trên toàn bộ các tiểu vùng sinh thái của tỉnh Bắc Kạn.
    • Nghiên cứu sâu về hoàn thiện công nghệ nhân giống sinh dưỡng quy mô công nghiệp (hom cành, nuôi cấy mô) và kỹ thuật bảo quản sau thu hoạch đối với măng Vầu đắng thương phẩm.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Lâm sinh, Quản lý Tài nguyên rừng, Kinh tế Nông lâm nghiệp tham khảo phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn cho lâm sản ngoài gỗ dạng tre trúc và kỹ thuật phân tích hiệu quả kinh tế hộ.
    • Cán bộ trạm kiểm lâm địa bàn, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các huyện miền núi phía Bắc trong công tác lập kế hoạch quản lý rừng bền vững và thiết kế chính sách hỗ trợ phát triển sinh kế dưới tán rừng.
  • Phần nội dung đáng chú ý:
    • Quy trình phân chia 3 cấp mật độ lập ô tiêu chuẩn $1.000\text{ m}^2$ (Phần 3).
    • Hệ thống số liệu điều tra sinh thái, cây gỗ tái sinh và ma trận phân phối sản lượng thân - măng theo thị trường (Phần 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận sự khác biệt về sinh trưởng của Vầu đắng giữa xã Đôn Phong và xã Cẩm Giàng như thế nào?

Tại xã Đôn Phong, nhờ điều kiện lập địa thuận lợi hơn (lượng mưa trung bình $1.860\text{ mm/năm}$, độ ẩm $86–90%$, nhiệt độ trung bình $20,4^\circ\text{C}$), cây Vầu đắng có sinh trưởng vượt trội với đường kính thân $D_{1.3}$ trung bình đạt $8,74\text{ cm}$ và chiều cao vút ngọn $H_{vn}$ đạt $11,56\text{ m}$. Trong khi đó, tại xã Cẩm Giàng (lượng mưa $1.586\text{ mm/năm}$, nhiệt độ $21,5^\circ\text{C}$), đường kính thân chỉ đạt $8,52\text{ cm}$ và chiều cao đạt $11,14\text{ m}$.

2. Kênh tiêu thụ thân khí sinh và măng Vầu đắng tại địa bàn nghiên cứu có điểm gì khác nhau?

Thân khí sinh được khai thác chủ yếu để bán cho thương lái thu mua đưa về miền xuôi hoặc xuất khẩu (chiếm $83,28%$, tương đương $1.072\text{ cây/ha/năm}$), tỷ lệ tự dùng làm hàng rào chỉ chiếm $9,16%$ và bán lẻ tại chợ chỉ chiếm $7,56%$. Ngược lại, sản phẩm măng Vầu đắng được tiêu thụ nhiều nhất qua kênh chợ tự do địa phương (chiếm $48,43%$, tương đương $339,11\text{ kg/ha/năm}$), bán cho thương lái vào đợt rộ chính vụ chiếm $37,27%$ ($261,0\text{ kg/ha/năm}$), và để lại cho gia đình sử dụng chiếm $12,16%$ ($85,14\text{ kg/ha/năm}$).

3. Thành phần thực vật dưới tán rừng Vầu đắng tại khu vực nghiên cứu gồm những loài nào?

Khóa luận đã điều tra và phát hiện 27 loài cây gỗ tái sinh dưới tán rừng Vầu với mật độ trung bình $10.500\text{ cây/ha}$ (điển hình gồm Màng tang, Thôi ba và một số loài cây chịu bóng giai đoạn nhỏ). Tầng cây bụi thảm tươi có 25 loài xuất hiện với độ tàn che $20–30%$, tiêu biểu như Lá dong (Phrynium dispermum), Bòng bong lá nhỏ (Lygodium microphyllum), Lông culi (Cibotium barometz), Sa nhân (Amomum lonhiligulare), Cỏ lá tre (Oplismenus compositus) và Râu hùm (Tacca chantrieri).

4. Tổng thu nhập bình quân từ 1 ha rừng Vầu đắng tại huyện Bạch Thông là bao nhiêu và cơ cấu nguồn thu như thế nào?

Tổng giá trị kinh tế bình quân thu được từ 1 ha rừng Vầu đắng thuần loài tại huyện Bạch Thông đạt $13.048.000\text{ đồng/ha/năm}$ (tại xã Đôn Phong đạt $14.470.000\text{ đồng/ha/năm}$, xã Cẩm Giàng đạt $10.567.000\text{ đồng/ha/năm}$). Trong đó, nguồn thu từ khai thác măng giữ vai trò chủ đạo, đạt $9.086.500\text{ đồng/ha/năm}$ (chiếm $69,64%$), còn nguồn thu từ bán thân khí sinh đạt $3.432.000\text{ đồng/ha/năm}$ (chiếm $30,36%$).

5. Tác giả đưa ra khuyến nghị kỹ thuật nào đối với việc khai thác măng và thân khí sinh để bảo vệ rừng?

Tác giả khuyến nghị người dân chỉ được khai thác tối đa $70%$ số măng nhú khỏi mặt đất, giữ lại ít nhất $30%$ chồi măng sinh trưởng thành cây trưởng thành thay thế. Đối với thân khí sinh, chỉ khai thác cây già ở cấp tuổi 5–6 theo chu kỳ chặt luân phiên 2–3 năm/lần nhằm duy trì kết cấu tuổi rừng ổn định, ngăn chặn hiện tượng rừng bị suy thoái thành rừng Vầu đinh.


Kết luận

Khóa luận của sinh viên Ma Văn Duy đã phản ánh toàn diện thực trạng sinh trưởng, trữ lượng phân bố và chuỗi tiêu thụ sản phẩm của loài Vầu đắng tại hai xã trọng điểm Đôn Phong và Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Nghiên cứu khẳng định Vầu đắng là loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế quan trọng với nguồn thu bình quân đạt trên 13 triệu đồng/ha/năm, trong đó khai thác măng chiếm tỷ trọng thu nhập chính. Các nhóm giải pháp lâm sinh về điều tiết cường độ khai thác măng (giữ lại 30%), nhân giống bằng hom cành/thân khí sinh và trồng hỗn giao với cây gỗ bản địa cung cấp cơ sở khoa học thiết thực cho công tác phát triển rừng bền vững tại địa phương.