Đặt vấn đề Thực trạng phát triển cây hàng năm là một trong những bộ phận quan trọng của sản xuất nông nghiêp, là bộ phận sản xuất vật chất chủ yếu của nông nhiệp. Cây vầu đắng là một sản phẩm cây trồng hàng năm về lƣơng thực và râu xanh cung cấp cho sinh hoạt thƣờng ngày của con ngƣời, là nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp, chế biến và các yếu tố sản xuất để phát triển cho các ngành kinh tế… Vầ u đắ ng (Indosasa amabilis Mc Clure) là loại tre không gai, mọc phân tán đơn độc từng cây. Kích thƣớc cây trung bình: Thân tre cao 17m, thẳng đứng, đƣờng kính 10 cm, lóng dài 35cm, vách thân dầy 1cm, thân tre tƣơi nặng 30 kg – Đây là loài điển hình cho nhóm tre mọc tản có kích thƣớc thân lớn ở Việt Nam. Rừng Vầ u đắ ng là loại rừng thứ sinh hình thành sau khi rừng gỗ nguyên sinh bị phá hại.
Tuỳ trạng thái rừng là hỗn giao với cây gỗ hay thuần loại, là mới phục hồi hay đã qua khai thác hoặc rừng tự nhiên ổn định mà mật độ cây trên 1ha biến động từ 1300 đến 6000 cây. Tỷ lệ cây già ở rừng ổn định thƣờng gấp hơn 2 lần ở rừng mới phục hồi và ngƣợc lại tỷ lệ cây non ở rừng già chỉ bằng 1/4 ở rừng phục hồi. Vầ u đắ ng có khả năng chịu bóng, ƣa ẩm. Vầ u đắ ng sinh trƣởng tốt ở rừng có cây gỗ ở tầng trên, sƣờn âm, chân đồi hoặc theo các khe núi; ở những nơi rừng thƣa, nhiều ánh sáng Vầ u đắ ng sinh trƣởng có vẻ kém hơn.
Vầ u đắ ng ra hoa đầu cành, bông chét dài tới 10 cm mang nhiều hoa. Hoa kết hạt nẩy mầm cho một thế hệ mới nhƣng chƣa theo dõi đƣợc quá trình phát triển của cây tái sinh từ hạt, sau khi ra hoa thì cây chết. Vầ u đắ ng cũng có thể ra hoa lẻ tẻ nhƣng thƣờng ra hoa rồi chết hàng lọat – Vào thập kỷ 70 n 2 hầu hết Vầ u đắ ng ra hoa rồi chết. Chu kỳ ra hoa chƣa đƣợc theo dõi nhƣng theo ngƣời dân thì cũng khá dài, khoảng trên 50 năm.
Sau khi bị tác động, rừng Vầ u đắ ng có khả năng phục hồi nhanh về số lƣợng (cây/ha) nhƣng đƣờng kính thì phục hồi rất chậm chạp. Vầ u đắ ng mọc rải rác ở các rừng tự nhiên và có nhiều ở các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Phú Thọ, Thái Nguyên, cũng có và có thể phát triển ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Sơn La, Hoà Bình, Thanh Hoá. Huyện Bạch Thông nằm ở trung tâm tỉnh Bắc Kạn, phía bắc giáp huyện Ngân Sơn và Ba Bể, phía tây giáp huyện Chợ Đồn, phía nam giáp huyện Chợ Mới và thành phố Bắc Kạn, phía đông giáp huyện Na Rì. Với tổ ng diện tích tự nhiên là 545,62km2 có 90% diê ̣n tić h là rừng núi , địa hình khá phức tạp trong đó rừng Vầ u đắ ng có khoảng 560,9 ha chủ yếu tập trung tại các xã Đôn Phong và Cẩm Giàng.
Hiện nay rừng Vầ u đắ ng của huyện Bạch Thông đƣợc thừa nhận về giá trị kinh tế, phòng hộ.Rừng Vầ u đắ ng giữ một vai trò quan trọng về mặt kinh tế đối với cuộc sống của ngƣời dân, đặc biệt là nhóm hộ trung bình và nhóm hộ nghèo. Ngoài ra, Vầ u đắ ng còn có vai trò về mặt xã hội và môi trƣờng sinh thái, tạo công ăn việc làm cho ngƣời dân, cải thiện đời sống Văn hoá tinh thần, góp phần xoá đói, giảm nghèo cho ngƣời dân nơi đây. Nhằm cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến trong khu vực và giúp ngƣời dân địa phƣơng có thu nhập ổn định từ rừng và kinh doanh rừng là mục tiêu quan trọng cho phát triển vùng. Xuất phát từ nhu cầu thự tiễn trên đƣợc sự thống nhất của Khoa Lâm Nghiệp, cùng sự hƣỡng dẫn của TS.
Trần Công Quân tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “ Thực trạng phát triển rừng Vầ u đắ ng và thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ cây Vầ u đắ ng tại Huyện Bạch Thông Tỉnh Bắc Kạn ” .Đặt ra rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiến nhằm tổng kết và đánh giá thực trạng và n 3 các giải pháp kỹ thuật lâm sinh phát triển rừng vầu đắng tại huyện Bạch Thông, rút ra những bài học kinh nghiệp cũng nhƣ đề xuất một số kiến nghị cho việc phát triển nhân rộng. Mục tiêu nghiên cứu và yêu cầu của đề tài - Đánh giá đƣợc thực trạng phân bố , sinh trƣởng phát triể n và giá trị kinh tế của cây Vầ u đắ ng tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn - Đề xuấ t đƣơ ̣c mô ̣t số gải pháp kỹ thuật phát triển và nâng cao giá trị kinh tế cây Vầ u đắ ng ta ̣i huyê ̣n Ba ̣ch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học Đề tài mở ra hƣớng nghiên cứu thực trạng của các loài vầu nói chung và Vầ u đắ ng nói riêng, thông qua nghiên cứu các đặc trƣng ở mức độ tiểu sinh cảnh, cá thể, quần thể, quần xã.
Từ đó đƣa ra đƣợc những cơ sở khoa học kinh doanh Vầ u đắ ng theo hƣớng bền vững và thị trƣờng tiêu thụ các sản phẩm từ cây Vầu đắng. Ý nghĩa trong thực tiễn Về phƣơng diện thực tiễn kết quả nghiên cứu xác định đƣợc đặc tính sinh thái loài Vầ u đắ ng sẽ giúp cho các nhà kỹ thuật và các hộ gia đình và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong chăm sóc cũng nhƣ khai thác, tổ chức kinh doanh rừng Vầ u đắ ng theo hƣớng bền vững. Dựa vào kết quả này ngƣời dân có thể áp dụng và các biện pháp thích hợp để tác động vào rừng vầu. Có thể làm tƣ liệu tham khảo cho các cấp, các ngành trong việc thực hiện gây trồng và xúc tiến tái sinh loài Vầ u đắ ng một trong những loài cây lâm sản ngoài gỗ đa tác dụng ở tỉnh Bắc kạn nói riêng , các tỉnh có phân bố cây Vầ u đắ ng nói chung.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Tre trúc là tập hợp các loài thực vật thuộc họ Hoà thảo (Poaceae, hoặc còn gọi là Gramineae).Các loài tre trúc rất phong phú, đa dạng, phân bố rộng khắp trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Á trong đó có Việt Nam. Tre trúc dễ trồng, sinh trƣởng nhanh, sớm cho khai thác, dễ chế biến nên đƣợc sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau.Tre trúc có giá trị rất lớn đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống nhân dân, đặc biệt là nông dân nông thôn và miền núi. Tre trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm vị trí quan trọng trong tài nguyên rừng ở nhiều nƣớc trên thế giới.
Nhiều loài tre trúc là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp giấy sợi, công nghiệp chế biến ván nhân tạo, vật liệu trong xây dựng, kiến trúc, giao thông vận tải,. Một số loài tre trúc cho măng ăn ngon, đã trở thành nguồn cung cấp thực phẩm có giá trị. Các sản phẩm từ tre trúc không còn bó hẹp trong biên giới của một số quốc gia mà đã có mặt ngày càng nhiều trên thị trƣờng quốc tế và đƣợc nhiều nƣớc châu Âu, châu Mỹ ƣa chuộng. Chính vì vị trí quan trọng của tài nguyên tre trúc, nhiều nƣớc trên thế giới có tre trúc và kể cả những nƣớc sử dụng tre trúc, đã tiến hành nhiều nghiên cứu về tre trúc.
Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2. Tình hình nghiên cứu về Tre trúc trên thế giới Tre trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm một vị trí rất quan trọng trong tài nguyên rừng tại nhiều quốc gia, đặc biệt là các nƣớc vùng phía Nam và Đông Nam Á. Từ xa xƣa tre trúc đã là một vật liệu có nhiều công dụng trong cuộc sống của ngƣời dân nhƣ các vật dụng gia đình hay công cụ nông n 5 nghiệp,… Nhiều loài tre trúc là nguồn nguyên liệu quan trọng cho nghành thủ công mỹ nghệ, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghệ giấy.
Tre trúc cũng là vật liệu trong xây dựng, kiến trúc, giao thông vận tải,. Một số loài tre trúc cho măng ngon đã trở thành đối tƣợng cung cấp nguồn thực phẩm nhiều giá trị. Tre trúc thuô ̣c lớp thƣ̣c vâ ̣t 1 lá mầm (Moncotyledoneae), họ Hoà thảo (Poaceae), họ phụ Tre (Bambusoideae). Tre trúc đƣơ ̣c tách khỏi nhƣ̃ng ho ̣ Hoà Thảo là do đặc điểm hình thái tre rất đặc biệt , nó không giống các loài cỏ, cũng không giống các loài cây thân gỗ.
Thân tre lóng rỗng và đố t đă ̣c, đă ̣c biê ̣t dƣới gố c cây là hê ̣ thố ng thân ngầ m phát triể n ma ̣nh mẽ , trên mă ̣t đấ t là các thân khí sinh mang bẹ , cành, lá và rất ít khi gặp tre ra hoa kết quả. Đa số nhƣ̃ng đă ̣c điể m đó đƣơ ̣c coi là nguyên th ủy. Do vâ ̣y mà tre trúc là loài cây đƣơ ̣c nhiề u quố c gia quan tâm và nghiên cƣ́u tƣ̀ rấ t lâu. Những nghiên cứu đầu tiên về tre trúc là nghiên cứu về phân loại hình thái và sinh học.
Năm 1868, Munro có công trình “Nghiên cứu về Bambusaceae” đƣợc coi là công trình nghiên cứu về tre trúc đầu tiên, trong đó đã khái quát đƣợc một cách tổng thể về họ phụ tre trúc. Tre trên thế giới có phân bố ở 3 khu vực lớn: Châu Á Thái Bình Dƣơng, châu Phi và châu Mỹ. Các loài tre lớn thuộc chi Bambusa và Dendrocalamus phân bố ở khu vực châu Á Thái Bình dƣơng. Trên thế giới có 36,77 triệu ha rừng tre.
Diện tích tre của châu Á là 23,6 triệu ha, trong đó Ấn Độ 11,36 triệu ha, Trung Quốc 5,44 triệu ha, Indonesia 2,08 triệu ha, Lào 1,61 triệu ha, Myanmar 0,85 triệu ha, Việt Nam 0,81 triệu ha (FAO 2005) [7]. - Các dự án về trồng rừng và tái trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch đang rất đƣợc quan tâm trong thời gian qua. Tính tới năm 2004, 16 dự án về hấp thụ CO2 thông qua việc trồng mới và tái trồng mới rừng đã đƣợc thực hiện, trong đó châu Mỹ Latin có 4 dự án, châu Phi có 7 dự án, châu Á có 5 dự án và n 6 1 dự án liên quốc gia đƣợc thực hiện tại các nƣớc Ấn Độ, Brazil, Jordan và Kenya (FAO, 2004) [7].