Tổng quan nghiên cứu

Khu vực nông thôn Việt Nam hiện có hơn 2.000 làng nghề truyền thống đang hoạt động, trong đó tỉnh Bắc Ninh sở hữu 62 làng nghề với 30 làng nghề truyền thống lâu đời. Tại xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, hoạt động sản xuất gốm thủ công diễn ra tập trung với khoảng 160 lò nung gốm, trung bình mỗi năm tiêu thụ tới 20.000 m³ củi đốt. Phương thức sản xuất thủ công bán cơ giới xen lẫn trong khu dân cư làm phát sinh lượng lớn bụi đất, khí nhiệt và các loại khí độc hại như oxit cacbon và lưu huỳnh dioxit, đe dọa trực tiếp đến hệ hô hấp của người lao động.

Nghiên cứu được triển khai nhằm thực hiện ba mục tiêu cốt lõi: Đánh giá thực trạng môi trường lao động tại làng nghề gốm Phù Lãng; Xác định tỷ lệ mắc các bệnh tai mũi họng ở người trực tiếp sản xuất; Phân tích các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp liên quan đến mô hình bệnh tật này. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh trong mốc thời gian từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 7 năm 2015.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp bộ chỉ số dịch tễ học chính xác về tỷ lệ tổn thương đường hô hấp trên ở người làm gốm. Dữ liệu ghi nhận từ 400 thợ gốm giúp các nhà quản lý y tế dự phòng và chính quyền địa phương có căn cứ khoa học vững chắc để hoạch định chính sách can thiệp, bảo vệ sức khỏe cho hơn 11 triệu lao động làng nghề trên toàn quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết y học lao động và vệ sinh môi trường, nhấn mạnh mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố phơi nhiễm vật lý, hóa học tại nơi làm việc với tình trạng sức khỏe đường hô hấp trên. Khi người lao động hít thở trung bình 9.000 lít không khí mỗi ngày trong môi trường nhiều dị nguyên, hệ thống tiết nhầy lông chuyển của niêm mạc mũi họng bị quá tải, dẫn đến các phản ứng viêm cấp tính và mạn tính.

Các khái niệm chính được vận dụng bao gồm: Môi trường lao động đặc thù nghề gốm; Bệnh tai mũi họng nghề nghiệp theo tiêu chuẩn phân loại bệnh tật quốc tế ICD-10; và Tải lượng ô nhiễm vi khí hậu. Nghiên cứu đối chiếu kết quả đo kiểm với Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5508-2009 về vi khí hậu (nhiệt độ giới hạn 32°C, độ ẩm 40-80%, tốc độ gió 0,2-1,5 m/s) và Tiêu chuẩn vệ sinh 3733/2002/QĐ-BYT về hàm lượng bụi (bụi hô hấp tối đa 4 mg/m³, bụi toàn phần tối đa 8 mg/m³) cùng nồng độ các chất khí độc hại trong không khí xung quanh.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hài hòa giữa phương pháp định lượng và định tính. Với tổng quần thể 428 người trực tiếp làm gốm tại xã Phù Lãng, nghiên cứu đã chọn mẫu toàn bộ và thu thập đầy đủ dữ liệu từ 400 người lao động đáp ứng tiêu chuẩn từ 18 tuổi trở lên và có thâm niên nghề nghiệp tối thiểu 2 năm. Nghiên cứu định tính được tiến hành thông qua 04 cuộc phỏng vấn sâu lãnh đạo xã, trạm trưởng y tế và 05 cuộc thảo luận nhóm với 50 người tham gia.

Dữ liệu lâm sàng được thu thập bởi các bác sĩ chuyên khoa Tai Mũi Họng thông qua khám nội soi 100% đối tượng bằng hệ thống máy nội soi hiện đại VH6 trang bị 3 góc nhìn 0 độ, 30 độ và 70 độ. Các chỉ tiêu vi khí hậu được đo bằng máy Testo 445 của Đức; nồng độ bụi được xác định qua máy bơm hút Apex Casella và cân phân tích điện tử độ chính xác 0,1 mg; các loại khí độc được định lượng bằng máy Drager Multiwarn II và ống chỉ thị nhanh Gastec. Toàn bộ số liệu được quản lý bằng phần mềm EpiData và phân tích thống kê trên phần mềm SPSS 22, sử dụng kiểm định Chi-square với ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05 để xác định chính xác mối tương quan dịch tễ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Môi trường lao động tại làng nghề gốm Phù Lãng ghi nhận tình trạng ô nhiễm vi khí hậu và bụi nghiêm trọng. Toàn bộ 5/5 mẫu đo nhiệt độ môi trường xung quanh (100%) đều vượt tiêu chuẩn cho phép trên 32°C, và 100% mẫu đo độ ẩm tại khu vực sản xuất không đạt chuẩn. Tỷ lệ mẫu bụi toàn phần vượt ngưỡng vệ sinh cho phép chiếm 40% (2/5 mẫu), trong khi nồng độ khí cacbonic xung quanh nơi sản xuất có tới 60% số mẫu (3/5 mẫu) vượt tiêu chuẩn 900 mg/m³. Đáng chú ý, chỉ có 7% cơ sở sản xuất có áp dụng biện pháp hút bụi hoặc phun nước giảm nhiệt.

Khám lâm sàng và nội soi trên 400 thợ gốm phát hiện tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng chung lên tới 61,5% (246 người). Nhóm bệnh mũi xoang chiếm tỷ lệ cao nhất với 30,0% (120 người), trong đó viêm mũi xoang mạn tính chiếm 15,5% và viêm mũi dị ứng chiếm 13,5%. Nhóm bệnh họng - thanh quản đứng thứ hai với 26,5% (106 người), chủ yếu là viêm họng mạn tính chiếm 23,0%. Bệnh lý về tai chiếm tỷ lệ 5,0% (20 người), trong đó viêm tai giữa mạn tính chiếm 4,0%.

Tuổi nghề và thói quen sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân là hai yếu tố nguy cơ tác động rõ rệt nhất đến tỷ lệ mắc bệnh. Tỷ lệ viêm mũi xoang tăng vọt từ 15,0% ở nhóm thợ có tuổi nghề dưới 5 năm lên 52,6% ở nhóm có thâm niên từ 30 năm trở lên (p < 0,05). Tương tự, tỷ lệ viêm họng mạn tính tăng từ 15,0% lên 40,4% theo thâm niên làm việc (p = 0,02). Về mặt bảo hộ, chỉ có 25,5% người lao động thường xuyên đeo khẩu trang. Nhóm không đeo khẩu trang có tỷ lệ mắc bệnh mũi lên tới 33,9%, cao hơn rõ rệt so với mức 18,6% ở nhóm có đeo khẩu trang (p = 0,02).

Thảo luận kết quả

Thực trạng tỷ lệ bệnh tai mũi họng tại Phù Lãng (61,5%) phản ánh sự tương đồng với các nghiên cứu tại các làng nghề sản xuất vật liệu và đồ gốm trong và ngoài nước. Kết quả này tương đương với nghiên cứu của các tác giả tại Đại học Chiang Mai (Thái Lan) trên thợ gốm với tỷ lệ biểu hiện đường hô hấp là 67,1%, và nghiên cứu tại làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) ghi nhận tỷ lệ bệnh hô hấp 54,72%. Nhiệt độ lò nung cao kết hợp với khói đốt củi chứa nhiều tro bụi mịn là nguyên nhân trực tiếp gây tổn thương lớp biểu mô đường thở.

Dữ liệu gia tăng tỷ lệ mắc bệnh theo 7 nhóm tuổi nghề trong nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột phân cụm (clustered column chart), làm nổi bật sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê giữa nhóm thợ trẻ mới vào nghề và nhóm thợ thâm niên cao. Sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh giữa nhóm có và không sử dụng bảo hộ lao động cũng phù hợp để biểu diễn qua biểu đồ thanh đối sánh, minh chứng rằng việc thiếu hụt trang thiết bị phòng hộ cá nhân làm tăng nguy cơ tổn thương niêm mạc mũi họng lên gấp gần 2 lần.

Đề xuất và khuyến nghị

Chính quyền các cấp và các cơ sở sản xuất cần triển khai đồng bộ 4 nhóm giải pháp can thiệp trọng điểm sau:

Thứ nhất, chuyển đổi công nghệ nung gốm truyền thống sang công nghệ lò nung sử dụng gas hoặc điện hóa lỏng. Đích đến là thay thế tối thiểu 80% số lò củi thủ công sang lò tuynen hiện đại trong giai đoạn 2026-2028, giúp giảm trên 70% lượng khí thải độc hại và bụi lơ lửng. Chủ thể chịu trách nhiệm chính là Sở Công Thương tỉnh Bắc Ninh phối hợp cùng Hiệp hội Làng nghề và các chủ lò gốm Phù Lãng.

Thứ hai, triển khai quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề tập trung tách rời khỏi khu dân cư sinh sống. Đề án quy hoạch cần bố trí tối thiểu 20% diện tích mặt bằng cho cây xanh cách ly và hệ thống thu gom, xử lý nước thải, phế thải rắn vào năm 2027. Đơn vị chủ trì thực hiện là Ủy ban nhân dân huyện Quế Võ và Ủy ban nhân dân xã Phù Lãng.

Thứ ba, chuẩn hóa và bắt buộc trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân đạt tiêu chuẩn vệ sinh lao động. Mục tiêu nâng tỷ lệ người lao động sử dụng thường xuyên khẩu trang phòng độc, kính chắn bụi và ủng bảo hộ từ mức 25,5% hiện tại lên trên 90% trước quý IV năm 2026. Các cơ sở sản xuất và tổ chức công đoàn địa phương chịu trách nhiệm giám sát trực tiếp hàng ngày.

Thứ tư, thiết lập chương trình y tế lao động định kỳ và hướng dẫn vệ sinh đường thở chuyên sâu. Trạm Y tế xã Phù Lãng phối hợp với Trung tâm Y tế huyện Quế Võ tổ chức khám nội soi tầm soát tai mũi họng 06 tháng/lần cho 100% thợ gốm, kết hợp tập huấn quy trình rửa mũi xoang bằng dung dịch nước muối sinh lý sau mỗi ca lao động để phục hồi chức năng biểu mô niêm mạc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cán bộ quản lý y tế công cộng và môi trường: Cung cấp bằng chứng thực tiễn về mức độ ô nhiễm vi khí hậu và mô hình bệnh tật đường hô hấp, hỗ trợ xây dựng các quy chuẩn kỹ thuật và chính sách can thiệp y tế dự phòng tại các làng nghề nông thôn.

Bác sĩ chuyên khoa Tai Mũi Họng và Y học lao động: Giúp nắm bắt diễn biến bệnh lý đặc thù, phân bố tổn thương mạn tính ở thợ sản xuất thủ công, từ đó tối ưu hóa phác đồ chẩn đoán nội soi và điều trị sớm các biến chứng đường hô hấp trên.

Chủ cơ sở sản xuất và người lao động làng nghề: Cung cấp góc nhìn khoa học về tác hại lâu dài của khói bụi đốt củi, thúc đẩy ý thức tự giác tuân thủ an toàn vệ sinh lao động và đầu tư trang thiết bị bảo hộ đúng quy chuẩn.

Học viên cao học và nhà nghiên cứu y sinh học: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu cắt ngang kết hợp định tính - định lượng, quy trình thu thập chỉ số môi trường và kỹ thuật xử lý số liệu y tế công cộng bằng phần mềm chuyên dụng.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng ở thợ gốm Phù Lãng là bao nhiêu? Nghiên cứu trên 400 thợ gốm ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng chung là 61,5%. Trong đó, bệnh lý mũi xoang chiếm tỷ lệ cao nhất với 30,0% (chủ yếu là viêm mũi xoang mạn tính chiếm 15,5%), tiếp theo là các bệnh về họng chiếm 26,5% và các bệnh về tai chiếm 5,0%.

Yếu tố môi trường nào tại làng nghề gây ảnh hưởng xấu nhất đến sức khỏe? Nhiệt độ cao và bụi là hai yếu tố nguy hại hàng đầu. Khảo sát thực địa cho thấy 100% mẫu đo nhiệt độ xung quanh lò nung vượt tiêu chuẩn 32°C, 40% mẫu bụi toàn phần vượt ngưỡng quy định, và 60% mẫu khí CO2 vượt mức 900 mg/m³ do 160 lò gốm đốt củi hoạt động liên tục.

Tuổi nghề ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ viêm mũi xoang của người làm gốm? Thâm niên làm việc tỷ lệ thuận với nguy cơ mắc bệnh. Thợ gốm có thâm niên từ 30 năm trở lên có tỷ lệ mắc viêm mũi xoang lên tới 52,6%, cao hơn gấp 3,5 lần so với nhóm thợ mới làm nghề dưới 5 năm (chỉ chiếm 15,0%), với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05.

Việc đeo khẩu trang bảo hộ có thực sự làm giảm nguy cơ mắc bệnh hay không? Có. Kết quả nghiên cứu chứng minh thợ gốm thường xuyên đeo khẩu trang có tỷ lệ mắc bệnh mũi là 18,6% và bệnh họng là 15,7%, thấp hơn rõ rệt so với nhóm không sử dụng khẩu trang với tỷ lệ mắc bệnh tương ứng là 33,9% (p = 0,02) và 30,2% (p = 0,04).

Biện pháp nào giúp cải thiện tận gốc tình trạng ô nhiễm tại làng gốm? Giải pháp căn bản và bền vững nhất là chuyển đổi từ lò nung củi sang công nghệ lò nung bằng gas hoặc điện. Giải pháp này giúp triệt tiêu hoàn toàn khói bụi độc hại, tiết kiệm 50% chi phí nhiên liệu và cải thiện rõ rệt môi trường sống cho người dân.

Kết luận

  • Đánh giá môi trường xác định 100% mẫu nhiệt độ và độ ẩm, 40% mẫu bụi toàn phần và 60% mẫu khí cacbonic tại làng gốm Phù Lãng không đạt tiêu chuẩn vệ sinh lao động.
  • Tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng ở người lao động sản xuất gốm ở mức cao với 61,5%, tập trung chủ yếu vào bệnh lý viêm mũi xoang (30,0%) và viêm họng mạn tính (26,5%).
  • Thâm niên làm nghề trên 30 năm làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh mũi xoang lên 52,6% và bệnh họng lên 40,4%, chứng minh tác động tích lũy phơi nhiễm môi trường độc hại kéo dài.
  • Thói quen sử dụng khẩu trang bảo hộ giúp giảm gần 50% nguy cơ mắc các bệnh lý đường hô hấp trên ở người trực tiếp sản xuất.
  • Kế hoạch can thiệp cần triển khai ngay việc chuyển đổi công nghệ lò nung sạch, quy hoạch cụm công nghiệp tập trung và khám sức khỏe định kỳ cho 100% lao động làng nghề trong giai đoạn 2026-2028.