ĐẶT VẤN ĐỀ Sản xuất quy mô nhỏ, thủ công tại các làng nghề truyền thống ở nước ta đã và đang có nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung và đối với nông thôn nói riêng. Nhiều làng nghề truyền thống hiện nay đã được khôi phục, đầu tư phát triển với quy mô và kỹ thuật cao hơn, hàng hóa không những đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu với giá trị lớn ra nhiều nước trên thế giới. Các làng nghề thủ công, truyền thống ở Bắc Ninh được hình thành từ rất sớm. Nền kinh tế hội nhập, đã tạo nên nhiều cơ hội, sức bật cho các làng nghề.
Tại Bắc Ninh hiện có 62 làng nghề trong đó có 30 làng nghề truyền thống. Đặc điểm chung của các làng nghề ở Bắc Ninh là quy mô sản xuất nhỏ lẻ, cả làng cùng sản xuất ra những sản phẩm giống nhau, với dây chuyền công nghệ thủ công và lạc hậu, tiêu tốn nhiều nguyên, nhiên liệu. Tại các cơ sở sản xuất luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với môi trường và sức khỏe người dân. Các dây chuyền sản xuất gốm hiện nay tại Bắc Ninh cũng như tại nhiều địa phương, chủ yếu là công nghệ cũ, lạc hậu, thủ công.
nguy cơ ô nhiễm môi trường cao, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người lao động [14], [15]. Theo số liệu của Cục y tế dự phòng Bộ Y tế năm 2003: tỷ lệ mẫu đo hơi khí độc vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) là 12% đến 14% [6]. Cũng theo đánh giá của các chuyên gia thuộc Cục y tế dự phòng, các yếu tố môi trường như khói, bụi và vi khí hậu bất lợi luôn là vấn đề tồn tại ở các lò gốm thủ công. Các kết quả nghiên cứu về hàm lượng bụi toàn phần ở các phân xưởng lò nung gốm luôn cao hơn mức cho phép rất nhiều lần.
Kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy sự gia tăng đáng kể các bệnh hô hấp, mũi họng trong thời gian gần đây. Hầu hết các tác giả trong và ngoài nước cho rằng sản xuất quy mô nhỏ, lạc hậu ở nước ta cũng như nhiều nước đang phát triển góp phần gia tăng nhiều bệnh tật [12], [33], [51]. Tại nhiều cơ sở sản xuất, tỷ lệ mắc các bệnh Tai - Mũi - Họng lên tới hơn 70% [10]. 4 Làng gốm Phù Lãng thuộc huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh có từ lâu đời, tuy nhiên quy trình sản xuất ở đây vẫn là thủ công, lạc hậu.
Dây chuyền sản xuất gốm ở Phù Lãng phát sinh nhiều chất thải độc hại như: bụi, khói có chứa CO, SO2, CO2. Các nguyên liệu chính trong sản xuất là đất, than và củi nên ô nhiễm môi trường có thể thấy bằng mắt thường. Các nguy cơ, căn nguyên trên đã được nhiều tác giả chứng minh về khả năng làm tăng tỷ lệ các bệnh ở mũi, họng của người lao động [16], [18], [19]. Xuất phát từ tính cấp thiết trên, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Thực trạng môi trường và bệnh Tai mũi họng của người lao động sản xuất gốm tại làng nghề Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh”, nhằm đáp ứng 3 mục tiêu: 1.
Đánh giá môi trường lao động của người sản xuất gốm tại làng nghề 2. Xác định tỷ lệ mắc bệnh Tai mũi họng của người lao động sản xuất gốm tại làng nghề Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh Tai mũi họng của người lao động sản xuất gốm tại làng nghề Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm 1. Bệnh tai mũi họng Tai mũi họng là một trong nhóm các cơ quan hay bị bệnh nhất, bởi các cơ quan này có liên quan trực tiếp với môi trường lao động và là cửa ngõ của đường ăn, đường thở. Mỗi ngày có khoảng 9.000 lít không khí được hít thở qua mũi. Không khí bị ô nhiễm, nhiệt độ thay đổi dễ dẫn tới nhiễm khuẩn hô hấp.
Nhóm bệnh thuộc các cơ quan này là nhóm các bệnh của đường hô hấp trên, thông thường ít nguy hiểm, nhưng hay tái phát, tần xuất tái phát có thể 4 – 5 lần trong một năm, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến các chức năng: nghe, nói, thở và cũng gây nên những ảnh hưởng không nhỏ trong sinh hoạt hàng ngày như: cảm giác vướng rát trong họng như có dị vật, có khi đau lên tai, hơi thở hôi, ngủ ngáy… dễ biến thành mạn tính hay có những đợt cấp. Trong các đợt cấp thường hay có biến chứng chủ yếu là viêm đường hô hấp dưới: Viêm phế quản, viêm phổi… biến chứng xa như viêm thận, thấp tim, những biến chứng vào tai và xương chũm có thể gây biến chứng vào não rất nguy hiểm [24], [28]. Điều kiện lao động (ĐKLĐ) là nhân tố quan trọng nhất quyết định ảnh hưởng của bụi đối với sức khỏe (SK) và bệnh tật của người lao động (NLĐ). Nồng độ bụi trong môi trường lao động (MTLĐ) càng cao, càng có hại.
Đã có những nghiên cứu (NC) cho thấy rằng, bụi gây ra các thương tổn niêm mạc ở đường hô hấp trên. Giảm nồng độ bụi trong không khí MTLĐ là phương hướng cơ bản để phòng chống tác hại của bụi. Thời gian tiếp xúc với bụi trong ngày làm việc càng lâu càng có hại, NLĐ có tuổi nghề cao dễ bị bệnh hơn những NLĐ có tuổi nghề ít. Cường độ lao động càng nặng, lượng thông khí càng lớn thì bụi qua đường hô hấp trên, cửa ngõ của lưu thông khí, càng nhiều [20], [29], [32].
6 Công nhân có tuổi nghề càng cao thì nguy cơ mắc các bệnh về tai mũi họng càng lớn, nồng độ bụi, khí độc, nhiệt độ và độ ẩm đã làm thay đổi sinh lý, phá vỡ thế cân bằng sinh học niêm mạc đường hô hấp trên dẫn tới các bệnh lý về tai mũi họng. Một số nhiễm khuẩn đường hô hấp trên thường gặp là: - Viêm mũi cấp tính với các dấu hiệu: toàn thân có dấu hiệu nhiễm khuẩn nhẹ; cơ năng ngạt mũi, chảy mũi, có thể ngửi kém; khám thấy niêm mạc xung huyết nề, đỏ, sàn mũi và khe giữa có nhiều dịch tiết nhày. - Viêm mũi mạn tính có các dấu hiệu là ngạt tắc mũi, chảy mũi kéo dài và tùy thuộc thời gian bị mà chia ra các giai đoạn: xung huyết, xuất tiết hoặc quá phát. - Viêm mũi dị ứng xuất hiện trên người có cơ địa dị ứng, hắt hơi thành tràng dài, chảy mũi trong, ngạt tắc mũi.
Khám niêm mạc nề nhợt, nhiều dịch nhày trong. - Viêm xoang cấp tính: toàn thân có dấu hiệu nhiễm trùng, triệu chứng khó chịu là đau đầu, ngạt mũi và chảy mũi xanh, hoặc vàng.khám thấy niêm mạc xung huyết, khe, hốc mũi nhiều mủ. - Viêm xoang mạn tính: tắc mũi, chảy mũi vàng, xanh, ngửi kém, khám khe giữa nhiều mủ, có trường hợp có polyp. - Viêm họng cấp: toàn thân có hội chứng nhiễm trùng, cơ năng rát họng, đau, ho, khạc đờm,.khám họng nề, đỏ.
- Viêm họng mạn tính: ho, ngứa họng, khạc đờm, tùy theo thời gian mắc bệnh ta có thể chia làm 3 thể: viêm họng mạn tính xuất tiết, quá phát hoặc viêm teo. - Viêm amydan cấp tính: toàn thân có hội chứng nhiễm trùng, cơ năng có nuốt đau, khám amydan xung huyết đỏ rực và có thể có mủ. - Viêm amydan mạn tính: chủ yếu là nuốt vướng, nuốt nghẹn, khạc đờm nhày, ngứa, ho, hơi thở hôi,. 7 - Viêm tai giữa cấp: sốt, đau tai, ù tai, nghe kém.
Thường xuất hiện sau các đợt viêm mũi họng cấp. Khám thấy màng nhĩ xung huyết, căng phồng. - Viêm tai giữa mạn tính: chảy mủ tai kéo dài, từng đợt, tăng lên mỗi khi có đợt viêm mũi họng cấp, cảm cúm. Mủ có thể nhầy hoặc đặc.
Khám thấy màng nhĩ bị thủng. Từ các bệnh lý trên, nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn tới các biến chứng hoặc di chứng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, nhiều khi nguy hiểm đến tính mạng. Đặc điểm làng nghề Việt Nam 1. Khái niệm làng nghề Từ xa xưa, người nông dân Việt Nam đã biết sử dụng thời gian nông nhàn để sản xuất những sản phẩm thủ công, phi nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu đời sống như: các công cụ lao động nông nghiệp, giấy, lụa, vải, thực phẩm qua chế biến… Các nghề này được lưu truyền và mở rộng qua nhiều thế hệ, dẫn đến nhiều hộ dân có thể cùng sản xuất một loại sản phẩm.
Bên cạnh những người chuyên làm nghề, đa phần lao động vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề, hoặc làm thuê (nghề phụ). Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mang tính chất chuyên môn sâu hơn, được cải tiến kỹ thuật hơn và thường được giới hạn trong quy mô nhỏ (làng), dần dần tách ra khỏi nghề nông, chuyển hẳn sang nghề thủ công. Như vậy, làng nghề đã xuất hiện [21], [26]. Theo Đặng Kim Chi: Có thể hiểu làng nghề “là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông” [12] Tiêu chí để một làng ở nông thôn được coi là một làng nghề: - Giá trị sản xuất và thu nhập từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm; hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng, hoặc: 8 - Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt 30% so với tổng số hộ hoặc lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động.
- Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng và do người trong làng tham gia. Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008, tiêu chí công nhận làng nghề gồm có 3 tiêu chí sau: - Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn. - Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. - Chấp hành tốt chính sách Pháp luật của Nhà nước [55] 1.