CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Tổng quan lo âu 1. Khái niệm về lo âu. Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại, vươn tới. Lo âu cũng là tín hiệu cảnh báo trước những mối đe dọa đột ngột, trực tiếp do đó con người tồn tại và thích nghi.
Lo âu bình thường có chủ thể rõ ràng trong cuộc sống như công việc, học tập.và mang tính chất nhất thời. Khi những sự kiện trong đời sống ảnh hưởng đến tâm lý chủ thể hết tác động thì lo âu cũng không còn hoặc còn lại rất ít triệu chứng. Lo âu được phối hợp với tăng hoạt động cảm xúc, biểu hiện qua các dấu hiệu nội tạng và vận động. Lo âu có thể được coi là một hành vi chống lại một nguy hiểm không tồn tại trong thực tế hoặc đáp ứng lại một số kích thích đó tạo ra sợ trong tiền sử [25].
Lo âu là trạng thái cảm xúc chủ quan, thoáng qua hoặc dai dẳng (lo âu dai dẳng thường do đặc điểm nhân cách) khi con người phải đối đầu với một sự đe dọa, một công việc khó hoàn thành, thường thì các nguyên nhân này không có tính trực tiếp và cụ thể, mơ hồ, khó xác định, lo âu trở nên bệnh lý khi ta không kiểm soát được nó, lúc này lo âu gây rối loạn toàn bộ hành vi con người. Lo âu thường là sự kết hợp với các rối loạn khác như trầm cảm, căng thẳng, rối loạn giấc ngủ… Rối loạn lo âu tổng quát có thể là một thách thức lâu dài. Trong nhiều trường hợp, lo âu xảy ra cùng với sự lo lắng khác hoặc các rối loạn tâm trạng khác nhau. Tuy nhiên trong hầu hết các trường hợp, rối loạn lo âu tổng quát được cải thiện bằng thuốc hoặc tư vấn tâm lý.
Thay đổi lối sống, học tập kỹ năng đối phó và sử dụng các kỹ thuật thư giãn. *Lo âu bệnh lý: Khác với lo âu bình thường, lo âu bệnh lý có thể - Lo âu không phù hợp với hoàn cảnh, môi trường - Không có chủ đề rõ ràng, mang tính chất vô lý, mơ hồ - Thời gian thường kéo dài 3 - Mức độ lo âu gây trở ngại rõ rệt đến các hoạt động của người bệnh - Lo âu lặp đi lặp lại với nhiều triệu chứng cơ thể như: mạch nhanh, chóng mặt, khô miệng, vã mồ hôi, lạnh chân tay, run rẩy, bất an. Lo âu bệnh lý có 2 mức độ: lo âu tính cách (nhân cách lo âu) và rối loạn lo âu Tính cách lo âu: Một số người có nhân cách lo âu, thường được mô tả như lo âu “bẩm sinh”. Họ lo buồn vì những nguyên cớ nhỏ, căng thẳng bới những sức ép thậm chí nhỏ nhất và thấy sợ hãi vì năng lực của họ.
Lo âu bệnh lý thường kéo dài và lặp đi lặp lại với các triệu chứng như: mạch nhanh, thở gấp, chóng mặt, khô miệng, vã mồ hôi, chân tay lạnh, run rẩy, bất an. Lo âu bệnh lý cũng là lo âu không phù hợp với hoàn cảnh, không có chủ thể rõ ràng, mang tinh chất mơ hồ, vô lý 1. Nguyên nhân của rối loạn lo âu. - Môi trường bên ngoài: sau tai nạn/chấn thương mất người thân, đổ vỡ các mối quan hệ, áp lực trong công việc/học tập, thay đổi môi trường sống.
- Vấn đề sức khỏe bản thân: lo âu có thể liên quan đến một số bệnh như tim mạch, đái tháo đường, huyết áp, ung thư. - Sử dụng các chất gây nghiện như: ma túy, rượu, thuốc lá. - Bất thường về các chất dẫn truyền thần kinh 1. Các biểu hiện cơ thể của rối loạn lo âu - Tim mạch - Bồn chồn - Tăng huyết áp động mạch - Đau bỏng vùng trước ngực - Cảm giác co thắt trong lồng ngực - Dạ dày, ruột - Nôn - Cảm giác trống rỗng trong dạ dày - Chướng bụng - Khô miệng 4 - Tăng nhu động ruột - Tăng nhịp thở - Cảm giác thiếu thông khí - Cảm giác khó thở - Các biểu hiện khác: tăng trương lực cơ, run, mệt mỏi, ra nhiều mồ hôi, chóng mặt, đau đầu, giãn đồng tử, đi đái thường xuyên, rét run.
Phân loại các rối loạn lo âu Hiện nay trên thế giới có hai hệ thống phân loại các rối loạn tâm thần được sử dụng phổ biến: Bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 của Tổ chức Y tế Thế giới (ICD 10) và hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần lần thứ V của hội Tâm thần học Mỹ (DSM – V) Theo ICD 10 Rối loạn lo âu nằm trong mục rối loạn suy nhược, rối loạn liên quan đến stress và dạng cơ thể, ICD 10 thừa nhận các thể sau: - F41.0 Rối loạn hoảng sợ ( lo âu kịch phát từng giai đoạn): Đặc điểm cơ bản của rối loạn này là những cơn lo âu trầm trọng tái đi tái lại nhưng không khu trú vào hoàn cảnh hoặc tình huống đặc biệt nào nên không thể lường trước được.1 Rối loạn lo âu lan tỏa: đây là sự lo âu làn tỏa dai dẳng nhưng không bị giới hạn và không nổi bật trong bất kì hoàn cảnh môi trường đặc biệt nào. Các triệu chứng chủ yếu rất đa dạng bao gồm cả sự phàn nàn về nỗi lo lắng, rung, căng cơ, vã mồ hôi, đầu óc quay cuồng, đánh trống ngực, chóng mặt và khó chịu vùng thượng vị. Bên cạnh đó còn nỗi lo sợ bị tai nạn đối với chính bản thân và người nhà, - F41.2 Rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm: Phân loại này nên được dùng để đánh giá khi xuất hiện cả triệu chứng của lo âu và trầm cảm nhưng không biểu hiện rõ rệt và không đủ triệu chứng để đưa ra chẩn đoán riêng biệt.3 Các rối loạn lo âu hỗn hợp khác - F41.8 Các rối loạn lo âu biệt định khác: lo âu histerya - F41.9 Rối loạn lo âu không biệt định Phân loại theo DSM-V - 309.0) Rối loạn lo âu sợ xa cách 5 - 300.218-228-231-246-298) Rối loạn ám ảnh cụ thể: Sợ hãi hay lo lắng về những vật thể hay tình huống cụ thể (sợ độ cao, động vật, sợ bị tiêm, sợ thấy máu…) - 300.10) Rối loạn ám ảnh sợ xã hội: sợ hãi quá mức trong các tình huống xã hội thông thường.0) Rối loạn hoảng sợ: Rối loạn hoảng sợ đặc trưng bởi các cơn hoảng sợ có tính chất kịch phát. Cơn hoảng sợ xuất hiện đột ngột, sợ hãi vô cùng mạnh mẽ.4) Rối loạn lo âu liên quan đến bệnh tình: triệu chứng chủ yếu là cơn hoảng sợ và lo âu dai dẳng, bên cạnh đó còn gây ra giảm hiệu quả trong giao tiếp, công việc và các lĩnh vực quan trọng khác.
Sự lo âu này không thể giải thích được bằng các rối loạn tâm lý khác.9) Rối loạn lo âu không biệt định: Đây là những rối loạn mà triệu chứng của nó gây nên suy giảm hiệu quả giao tiếp xã hội, trong công việc, trong các lĩnh vực khác mà không đủ tiêu chuẩn đánh giá xếp loại vào bất kì loại rối loạn tâm lý nào. Các yếu tố liên quan đến lo âu - Chấn thương thời thơ ấu: Những trẻ em đã phải chịu đượng sự lạm dụng hoặc chấn thương, bao gồm cả chứng kiến sự chấn thương, có nguy cơ cao phát triển rối loạn lo âu tổng quát tại một thời điểm trong cuộc sống - Bệnh tật: Có một tình trạng bệnh mãn tính hay bệnh tật nghiêm trọng chẳng hạn như ung thư, có thể dẫn đến nỗi lo thường trực về tương lai, điều trị và tài chính. Sự kết hợp giữa loa âu và bệnh mãn tính như đái tháo đường, tăng huyết áp được đề cập đến bởi sự thay đổi hành vi lối sống. - Căng thẳng: Một sự kiện lớn hoặc một số tình huống căng thẳng nhỏ hơn có thể gây ra lo lắng quá mức.
Sự liên kết giữa các tình trạng rối loạn tâm lý khác với rối loạn lo âu cũng có thể xảy ra. - Rối loạn nhân cách và di truyền: Một số rối loạn nhân cách có thể liên quan đến rối loạn lo âu tổng quát. Rối loạn lo âu cũng có thể di truyền trong gia đình - Lạm dụng ma túy hoặc rượu có thể làm trầm trọng then rối loạn lo âu tổng quát: Cafein và nicotine, rượu và các chất ma túy tổng hợp cũng có thể làm tăng sự lo lắng 6 - Áp lực từ môi trường: Các áp lực từ môi trường như công việc, gia đình, bạn bè cũng tạo ra hoặc làm tăng nặng tình trạng rối loạn lo âu. - Là phụ nữ: phụ nữ có nguy cơ lo âu nhiều hơn nam giới từ 1,5 – 2 lần.
Lo âu nếu không được điều trị dứt điểm có thể dẫn đến các biến chứng khác không mong muốn như: trầm cảm, lạm dụng thuốc, rối loạn giấc ngủ, các vấn đề tiêu hóa hay đường ruột, nhức đầu, nghiến răng…Vì vậy, một số các biến chứng được lấy làm mốc đánh dầu giai đoạn của rối loạn lo âu. Tổng quan đái tháo đường 1. Dịch tễ học đái tháo đường Đái tháo đường là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến trên toàn cầu. Năm 2019, trên toàn thế giới có 463 triệu người lớn (độ tuổi 20 – 79 tuổi) tương đương 1 trong 11 người trưởng thành đang sống với bệnh đái tháo đường.
Dự đoán năm 2045, con số này sẽ tăng tới khoảng 700 triệu người, hay nói cách khác 1 người trong 10 người lớn có bệnh đái tháo đường. Tuy nhiên, gần một nửa số người đang sống với bệnh đái tháo đường (độ tuổi 20 – 79 tuổi) không được chẩn đoán (46,5%), tỷ lệ này ở khu vực Tây Thái Bình Dương là 52,1%. Ước tính hơn 4 triệu người trong độ tuổi từ 20 – 79 tuổi đã tử vong vì các nguyên nhân liên quan đến đái tháo đường trong năm 2019. Bệnh đái tháo đường gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm, là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tim mạch, mù lòa, suy thận, và cắt cụt chi [34] Theo thống kê của liên đoàn Đái tháo đường thế giới (IDF), năm 2021 trên thế giới ước tính có khoảng 537 triệu người trưởng thành đang sống chung với bệnh đái tháo đường.
Bệnh đái tháo đường cũng là nguyên nhân gây tử vong cho 6,7 triệu người trong năm 2021. Cũng trong năm này, có hơn 1,2 triệu trẻ em và thanh thiếu niên có bệnh ĐTĐ típ 1 và 16,67% số phụ nữ mang thai mắc đái tháo đường thai kỳ. Ước tính có khoảng 240 triệu người mắc bệnh ĐTĐ không được chẩn đoán trên toàn thế giới, có nghĩa là gần một trong hai người trưởng thành mắc bệnh ĐTĐ mà không biết tình trạng bệnh lý của mình.