Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lo âu, trầm cảm, stress ở người mắc bệnh máu ác tính 1. Tổng quan rối toạn tâm lý Rối loạn tâm lý (mental disorder), còn được gọi là rối loạn tinh thần hoặc bệnh tâm thần, là các tình trạng tâm lý không bình thường ảnh hưởng đến tư duy, cảm xúc, hành vi và chất lượng cuộc sống của một người. Những rối loạn này có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi và có thể ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của cuộc sống, từ quan hệ cá nhân, công việc, học tập cho đến sức khỏe về mặt tâm thần và thể chất.
Theo WHO, Lo âu, trầm cảm, stress được đặc trưng bởi sự rối loạn đáng kể về mặt lâm sàng trong nhận thức, điều chỉnh cảm xúc hoặc hành vi của một cá nhân. Nó thường liên quan đến đau khổ hoặc suy yếu trong các lĩnh vực hoạt động quan trọng. Có nhiều loại rối loạn tâm lý khác nhau [49]. Lo âu Theo Borkovec và các cộng sự: Lo âu là một chuỗi suy nghĩ và hình ảnh, có ảnh hưởng tiêu cực và tương đối khó kiểm soát; nó thể hiện một nỗ lực giải quyết vấn đề về tinh thần đối với một sự việc mà kết quả của nó là không chắc chắn nhưng có khả năng xảy ra một hoặc nhiều kết quả tiêu cực.
Barlow định nghĩa lo âu là một trạng thái tâm trạng hướng tới tương lai liên quan đến việc chuẩn bị cho các tình huống tiêu cực có thể xảy ra sắp tới [53]. Theo Đinh Đăng Hòe, lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên bình thường của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội, mà con người phải tìm cách vượt qua [5]. Tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa lo âu đặc trưng bởi sự sợ hãi và lo lắng quá mức và các rối loạn hành vi liên quan. Các triệu chứng đủ nghiêm trọng để dẫn đến đau khổ đáng kể hoặc suy giảm đáng kể hoạt động [49].
Trầm cảm Trầm cảm (trầm cảm) là một rối loạn tâm lý phổ biến. Nó liên quan đến tâm trạng chán nản hoặc mất niềm vui hoặc hứng thú với các hoạt động trong thời gian dài [50]. Stress Stress có thể được định nghĩa là trạng thái lo lắng hoặc stress về tinh thần do một tình huống khó khăn gây ra [51]. Lo âu, trầm cảm, stress ở người mắc bệnh máu ác tính 1.
Đo lường lo âu, trầm cảm, stress Hiện nay có rất nhiều các thang đo dùng để đánh giá tình trạng lo âu riêng biệt hoặc kết hợp với các Lo âu, trầm cảm, stress khác, trong đó một số công cụ phổ biến được dùng nhiều trong các nghiên cứu: a, Thang đánh giá lo âu của Zung (SAS) Được phát triển vào năm 1971, thang tự đánh giá lo âu của Zung (Zung Self- rating Anxiety Scale – SAS) là thang đo tham chiếu chuẩn được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu, đặc biệt là trong ngành y tế. SAS gồm 20 mục được xây dựng để đo mức độ lo lắng, dựa trên việc cho điểm theo 4 nhóm biểu hiện: các triệu chứng nhận thức, tự chủ, vận động và hệ thần kinh trung ương. Mỗi câu hỏi được chấm theo thang điểm loại Likert từ 1-4 tương ứng: “không có”, “đôi khi”, “phần lớn thời gian”, “hầu hết hoặc tất cả thời gian”. Điểm của thang đo được tính bằng cách cộng tổng điểm các câu hỏi, phạm vi điểm SAS dao động từ 20-80.
Ngưỡng điểm 40 được đánh giá là phù hợp nhất để xác định tình trạng lo âu [17]. b, Thang đánh giá lo âu của Hamilton (HAM-A/ HARS) Thang đánh giá lo âu theo Hamilton (Hamilton Anxiety Rating Scale, HARS/HAM-A) được công bố phiên bản đầu tiên bởi Max Hamilton vào năm 1959. HAM-A là một bảng câu hỏi với 14 yếu tố (cả tâm lý và cơ thể) trong đó điểm của mỗi mục được đánh giá từ 0 (không có) đến 4 (rất nghiêm trọng). Tổng điểm của bảng câu hỏi nằm trong phạm vi 0-56 [60].
Mức độ lo âu được xác định như sau: 5 Bảng 1. Mức độ lo âu theo thang đo HAM-A Điểm HAM-A Mức độ lo âu 0 – 13 Không lo âu 14 – 17 Lo âu nhẹ 18 – 25 Lo âu vừa 25 – 30 Lo âu nặng c. Thang đánh giá mức độ lo âu về đặc điểm, trạng thái Y (STAI-Y) Thang đo lo âu về đặc điểm, trạng thái – Mẫu Y (State-Trait Anxiety Inventory- Form Y –STAI-Y) của Spielberger là một trong những thước đo tự đánh giá lo âu được sử dụng rộng rãi nhất. STAI-Y gồm 2 tiểu thang đánh giá cả trạng thái (STAI- Y1) và đặc điểm (STAI-Y2), mỗi tiểu thang gồm 20 mục và điểm mỗi mục được tính trên thang đo Likert 4 điểm (từ 1 “hầu như không bao giờ” đến 4 “gần như luôn luôn”) [8].
Phạm vi điểm trong khoảng từ 20 đến 80 trong đó <40 là không lo âu, điểm từ 40–50 cho thấy lo âu nhẹ, 50–60 cho thấy lo âu vừa phải và >60 cho thấy lo âu nghiêm trọng [8]. d, Thang đánh giá lo âu trầm cảm PQH9 Thang đo Patient Health Questionnaire-9 (PHQ-9) được giới thiệu Robert L. Spitzer và cộng sự vào năm 1998. Ban đầu, thang đo Đánh giá Chăm sóc Ban đầu về Rối loạn tâm lý (Primary Care Evaluation of Mental Disorders – PRIME-MD) được phát triển như một công cụ sàng lọc các vấn đề về rối loạn tâm lý.
Thang đo PHQ-9 có 9 mục với 4 lựa chọn bao gồm 0= không hề; 1= vài ngày; 2= hơn nửa số ngày; và 3= gần như mỗi ngày: Điểm PHQ-9 được tính bằng cách tổng điểm 9 câu hỏi. Điểm dao động trong khoảng từ 0 đến 27 điểm. Điểm càng cao thì tình trạng trầm cảm càng nghiêm trọng. Điểm PHQ-9 có thể phân loại như sau: 6 Bảng 1.
Mức độ trầm cảm theo thang đo PQH-9 Điểm Mức độ trầm cảm 1-4 Trầm cảm tối thiểu 5-9 Trầm cảm nhẹ 10-14 Trầm cảm vừa 15-19 Trầm cảm hơi nặng 20-27 Trầm cảm nặng e, Thang đánh giá lo âu – trầm cảm – stress (DASS, DASS-21) Thang đánh giá lo âu- trầm cảm- stress (Depression, Anxiety, and Stress Scales – DASS) là một bộ gồm ba thang điểm nhỏ tự đánh giá được thiết kế bởi Lovibond và cộng sự để đo lường các trạng thái cảm xúc của trầm cảm, lo lắng và stress. Phiên bản đầu tiên ra đời vào năm 1995 với 42 mục, khoảng 2 năm sau tác giả cho ra mắt phiên bản rút gọn và được gọi là DASS-21. DASS-21 có một số lợi thế so với DASS như: có ít mục hơn, cấu trúc nhân tố sạch hơn và tương quan giữa các yếu tố nhỏ hơn. Mỗi thang đo nhỏ của DASS-21 (trầm cảm, lo âu và stress) có 7 mục.
Mỗi mục là 1 câu hỏi với 4 tùy chọn trả lời phản ánh tần suất từ 0 (Không) đến 3 (lúc nào cũng có). Điểm trong thang đo DASS-21 cần được nhân với 2 để xác định tổng điểm cuối cùng. Mức độ trầm cảm, lo âu, stress theo thang đo DASS Mức độ Trầm cảm Lo âu Stress Bình thường 0-9 0-7 0-14 Nhẹ 10-13 8-9 15-18 Vừa phải 14-20 10-14 19-25 Nặng 21-27 15-19 26-33 Cực kì nghiêm trọng 28+ 20+ 34+ Thang DASS-21 với ưu điểm ngắn gọn, đã được chuẩn hóa và sử dụng tại Việt Nam cho hiệu quả đánh giá các rối loạn tâm lý ở nhiều cấp bậc: stress, lo âu tới trầm 7 cảm. Do đó, chúng tôi sử dụng công cụ này trong nghiên cứu đánh giá tình trạng lo âu, trầm cảm ở người bệnh máu ác tính điều trị tại Trung tâm huyết học truyền máu, Bệnh viện Bạch Mai.
Thực trạng Lo âu, trầm cảm, stress ở người bệnh máu ác tính a, Nghiên cứu trên thế giới Kết quả khảo sát 111 người bệnh mắc các bệnh máu ác tính trong nghiên cứu của Donna M. Posluszny được công bố năm 2019 cho thấy 17% người bệnh đáp ứng các tiêu chí về chứng lo âu đáng kể về mặt lâm sàng [36]. Hosaka, Aoki và Ichikawa (1994) đã kiểm tra trạng thái cảm xúc của người bệnh mắc lơ xơ mi và phát hiện ra rằng trầm cảm xuất hiện ở 40% những người tham gia không có chẩn đoán tâm thần trước đó. Có 88 người bệnh nội trú mắc bệnh máu ác tính đã được đánh giá bằng thang đo lo âu và trầm cảm của bệnh viện (HADS).
Kết quả điều tra cho thấy, tần suất trầm cảm và lo lắng là 10%–20% ở những người mắc bệnh lơ xơ mi. Một nghiên cứu ở Trung Quốc sử dụng thang đo sức khỏe người bệnh-9 (PHQ- 9), Thang điểm 7 mục về Lo âu tổng quát (GAD-7) để tìm hiểu các triệu chứng trầm cảm và lo âu ở người bệnh đa u tủy cho thấy các triệu chứng trầm cảm xuất hiện ở 33,33% và các triệu chứng lo âu ở 24,68% số người mắc u đa tủy giai đoạn đầu trong giai đoạn điều trị duy trì [41]. Nghiên cứu của Devesh Oberoi và các cộng sự tên 236 người bệnh u lympho và 178 người bệnh đa u hạch sau 7 và 15 tháng có chẩn đoán bệnh cho thấy tỉ lệ lo âu ở nhóm u lympho là 14% - 17% và nhóm còn đa u tủy là 15% - 12%. Tỷ lệ trầm cảm tương ứng là 15-16% và 22% - 12% ở 2 nhóm, theo 2 thời điểm [32].
Một nghiên cứu xác định mức độ phổ biến của chứng lo âu và trầm cảm ở những người bệnh lớn tuổi mắc bệnh u đa tủy ở bang North Carolina đã được thực hiện, sử dụng Hệ thống Giám sát và Thông tin Ung thư Tích hợp của Đại học Bắc Carolina (ICISS). Kết quả cho thấy trong số 536 người bệnh, 200 (37%) được chẩn đoán mắc chứng lo âu hoặc trầm cảm theo ICD-10 [54]. 8 Conte và cộng sự đã điều tra tỷ lệ mắc bệnh trầm cảm và lo lắng bằng cách dựa trên việc tìm thấy đơn thuốc hướng thần được kê. Kết quả cho thấy, 745 người bệnh ulympho không Hodgkin đã phải điều trị bằng thuốc hướng thần trong khoảng 8 tháng đầu tiên sau khi chẩn đoán.
Tổng cộng, 31,5% người bệnh u Lympho không Hodgkin có ít nhất một đơn thuốc hướng thần và 20,8% nhận được ít nhất hai đơn thuốc của bất kỳ loại thuốc hướng thần nào nào khi kết thúc quá trình theo dõi [14]. Nghiên cứu đánh giá hệ thống và phân tích tổng hợp trên 2138 ngời bệnh u Lympho cho thấy người bệnh ung thư hạch Hodgkin và không Hodgkin dễ bị lo âu. Tỷ lệ có lo âu được tính toán là 19% (KTC 95% [12%, 25%]) [47] Với mục tiêu đánh giá tình trạng lo âu trầm cảm ở một số người bệnh mắc bệnh máu ác tính, kết quả cho thấy khoảng 10% người bệnh báo cáo là luôn luôn và 15% được báo cáo là đôi khi lo lắng hoặc trầm cảm [33].