CHƯƠNG I. TONG QUAN VE BẢO HIẾM LIÊN KET CHUNG VÀ TONG ĐẠI LY BẢO HIEM NHÂN THỌ. D Những vấn đề cơ bản về bảo hiểm liên kết chung. Sự ra đời và phát triển.
a) Trên thế giới. Trước những năm 1970, trên thị trường chỉ tồn tại sản pham bảo hiểm nhân thọ truyền thống với những yếu tố mang tính bảo vệ và tiết kiệm một cách đơn thuần, gây ra nhiều bắt tiện cho những khách hàng có mong muốn vừa được bảo vệ, vừa được đầu tư sinh lời nhiều hơn qua Bảo Hiểm. Trong những năm từ 1970 đến năm 1980, kinh tế Hoa Kỳ rơi vào thời kì suy thoái và có những thay đồi lớn như: tình hình lạm phát tăng cao, lãi suất tín dụng và lãi suất tiết kiệm tăng cao, khi đó giá trị hoàn lại khi mua bảo hiểm truyền thống thấp hơn nhiều so với lãi suất của các loại đầu tư khác như ngân hàng. ngày càng ít người mua bảo hiểm hơn.
Vậy nên, cần phải có một sự thay đổi hay nói cách khác là một cuộc cách mạng về sản phẩm Bảo Hiểm Nhân Thọ (BHNT) dé đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế. Từ những lí do đó, thị trường BHNT bắt đầu xuất hiện sản phẩm Bảo Hiểm Liên Kết Chung với các yếu tố đa dạng hơn như bảo vệ, tiết kiệm và đầu tư. b) Tại Việt Nam Những năm 2006, thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam khi đó bị nhận định là đang rơi vào trạng thái “bão hòa” về danh mục sản phẩm. Không những khách hàng chưa hiểu rõ về sản phẩm bảo hiểm mà khách hàng thậm chí không còn quan tâm đến các sản phẩm bảo hiểm vì các sản phẩm đơn giản, các quyền lợi không đa dang, không đủ dé đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Với bối cảnh thị trường như vậy, Chubb Life đã cho ra đời sản phẩm bảo hiểm liên kết chung (Universal Life — UL) đầu tiên xuất hiện tai Việt Nam, những đặc tính ưu việt hơn han so với những sản phẩm hiện có trên thị trường, bảo hiểm liên kết chung của Chubb Life khi đó đã tạo nên bước ngoặt mới cho thị trường bảo hiểm Việt Nam. Mặc dù khi đó bảo hiểm liên kết chung chỉ vừa mới được giới thiệu ra thị trường, nhưng đã chiếm ưu thế lớn nhờ đi kèm những quyền lợi ưu việt và cơ chế đóng phí linh hoạt, tùy thuộc vào khả năng tài chính theo từng giai đoạn của mỗi khách hàng. Bảo hiểm liên kết chung đã chứng tỏ rằng bảo hiểm không chỉ là một giải pháp bảo vê, tiết kiệm đơn thuần, mà là một giải pháp thật sự tối ưu để bảo vệ gia đình bạn khỏi gánh nặng tài chính nếu không may rủi ro bất ngờ xảy đến. Bên cạnh đó, với bảo hiểm LKC, còn là một phương thức tích lũy và đầu tư hiệu quả, trở thành một bộ phận quan trọng của kế hoạch bảo vệ tài chính gia đình.
Tại thời điểm trước khi bảo hiểm liên kết chung được đưa vào Việt Nam, thị trường chỉ gồm những sản phẩm bảo hiểm tử kỳ, tai nạn, hoặc dòng sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp — với thời hạn đóng phí bằng thời hạn bảo hiểm. Bảo hiểm hỗn hợp có sự kết hợp giữa yếu tố bảo hiểm rủi ro và tiết kiệm. Một số sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp có hình thức chia lãi cho khách hàng nhưng không đảm bảo, vì lãi suất phải dựa vào kết quả kinh doanh của công ty mà chỉ tiết không được công bố với khách hàng. Biểu phí cũng được quy định theo một lịch đóng phí cố định, khách hàng không được đóng ít hay nhiều hơn số mức phí đang đóng.
Bên cạnh đó, đa phần các sản phẩm truyền thống vào thời điểm đó thường có thời gian bảo hiểm ngắn, thông thường khoảng 10 năm. Do mang nặng tính tiết kiệm nên mức phí cho các sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp này thường rất cao khiến khách hàng khó có điều kiện tham gia với số tiền bảo hiểm lớn, vậy nên giá trị bảo hiểm cũng thấp tương ứng. Sự xuất hiện của bảo hiểm liên kết chung vào thời điểm đó đã làm nên một “cuộc cách mạng” về sản phẩm bảo hiểm tại thị trường Việt Nam, với các ưu điểm nỗi trội: Số tiền Bảo hiểm cao mà mức phí phù hợp với khả năng tài chính của khách hàng theo từng độ tuổi và hoàn cảnh, khách hàng có thể rút tiền nhiều lần, tăng số tiền bảo hiểm khi nhu cầu bảo hiểm thay đổi mà không cần tham gia hợp đồng mới. Đặc biệt, khách hàng hoàn toàn có thé lên kế hoạch đóng phí riêng cho mình để phù hợp với tình hình tài chính và nhu cầu của bản thân.
Theo đó, phần phí bảo hiểm và quyền lợi bảo biểm của sản phẩm liên kết chung sẽ tách bạch giữa phần bảo hiểm rủi ro và phần đầu tư. Vì vậy, phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm sẽ được linh hoạt quyết định bởi bên mua bảo hiểm dựa theo thỏa thuận tại hợp đồng. c) Sự phat trién. Tính đến năm 2016, ở Việt Nam đã có 16 doanh nghiệp đưa vào triển khai loại hình bảo hiểm liên kết chung, trong đó bao gồm cả các doanh nghiệp lớn như Manulife, Dai-ichi, Bảo Việt, Hanwha Life, Chubb.
Theo báo cáo trong năm 2016, doanh thu phí toàn thị trường đạt 49.677 tỷ đồng (tăng 29,8% so với năm 2015), trong đó tỷ trọng của bảo hiểm liên kết chung chiếm những 40%, còn lại là các loại nghiệp vụ khác như hỗn hợp, hưu trí,. Cũng trong năm 2016, số lượng hợp đồng khai thác mới đạt 1.402 hợp đồng (tăng 14,46% so với cùng kỳ năm 2015) và tỷ trọng của sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư cũng chiếm rất cao khoảng 36,8% Những con số trên cho thấy bảo hiểm liên kết chung đang là một loại hình bảo hiểm được khách hàng ưa chuộng hơn các loại hình bảo hiểm truyền thống khác bởi những ưu điểm mà nó mang lại cho khách hàng, vì vậy chắc chắn rằng bảo hiểm liên kết chung sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới và được nhiều công ty bảo hiểm quan tâm hơn nữa. Đặc diém của bảo hiêm liên kêt chung. Cuộc sống ngày nay càng ngày càng phát triển, công nghệ kĩ thuật hiện đại, đời sống được nâng cao, do đó rủi ro ngày càng nhiều và trở nên khó lường, ảnh hưởng đến sức khoẻ, tài sản, tính mạng của bản thân và gia đình.
Vì thế khi tham gia vào bảo hiểm liên kết chung sẽ giúp bản thân và gia đình khi không may gặp phải rủi ro thì gánh nặng về tài chính sẽ giảm bớt, tăng sự chủ động ứng phó trước những tình huống bat ngờ ấy, ban còn được bảo vệ trong nhiều trường hợp như mắc bệnh hiểm nghèo, thương tật, tử vong do tai nạn giao thông, đột quy,. Tât cả quyền lợi, phí đóng,bồi thường, lãi suất đầu tư đều được đảm bảo chính xác, minh bạch Hơn nữa người mua bảo hiểm liên kết chung còn được thay đổi phí bảo hiểm theo từng giai đoạn để phù hợp với khả năng tài chính của mình. a) Điều kiện tham gia - Điều kiện là các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, đại lý bảo hiểm, bên mua bảo hiểm và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết chung trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. b) Quyền lợi bảo hiểm liên kết chung Theo Thông Tư 52/2016/TT - BTC,, quyền lợi bảo hiểm khi tham gia bảo hiểm liên kết chung cụ thể như sau: - Quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm liên kết chung bao gồm quyền lợi bảo hiểm rủi ro và quyền lợi đầu tư.
- Quyên lợi bảo hiém rủi ro: + Doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm thỏa thuận về quyền lợi bảo hiểm rủi ro nhưng phải bảo đảm số tiền bảo hiểm tối thiểu không thấp hơn 5 lần phí bảo hiểm định kỳ năm đầu đối với hợp đồng bảo hiểm đóng phí định kỳ hoặc không thấp hơn 125% số phí bảo hiểm đối với hợp đồng bảo hiểm đóng phí một lần. + Quy định về quyền lợi tối thiểu trong trường hợp tử vong không áp dụng đối với các Khoản phí bảo hiểm đóng thêm quy định tại Điều 7 Thông tư này. + Doanh nghiệp bảo hiểm có thể cung cấp sản phẩm bảo hiểm bổ trợ cho sản phẩm bảo hiểm liên kết chung. Phương thức đóng phí bảo hiểm cho các sản phẩm bảo hiểm bổ trợ sẽ do các bên thỏa thuận khi giao kết hợp đồng.
- Quyền lợi đầu tư: Bên mua bảo hiểm được hưởng quyền lợi từ kết quả đầu tư của quỹ liên kết chung với tỷ suất đầu tư tối thiểu quy định tại hợp đồng bảo hiểm. - Doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm có thể thỏa thuận về nội dung và phương thức chỉ trả quyền lợi bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm theo quy định tại điều này. c) Các loại phí bảo hiểm liên kết chung. Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được phép tính các loại phí được quy định dưới đây: - Phí ban đầu là toàn bộ các khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm được phép khấu trừ trước khi phí bảo hiểm được phân bổ vào quỹ liên kết chung.
+ Phí bảo hiểm rủi ro là khoản phí dé chi trả quyền lợi bảo hiểm rủi ro theo cam kết tại hợp đồng bảo hiểm. + Phí quản lý hợp đồng bảo hiểm là khoản dé bù đắp chi phí liên quan đến việc duy trì hợp đồng bảo hiểm và cung cấp thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm. + Phí quản lý quỹ được dùng để chỉ trả cho các hoạt động đầu tư và quản lý quỹ liên kết chung. Trong mọi trường hợp, tỷ suất đầu tư thanh toán cho bên mua bảo hiểm không thấp hơn tỷ suất đầu tư tối thiểu đã cam kết tại hợp đồng bảo hiểm.
+ Phí hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm là khoản tính cho khách hàng khi hủy bỏ hợp đồng trước ngày đáo hạn dé bù đắp các khoản chi hợp lý có liên quan. + Các loại phí khác (nếu có) phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản. - Doanh nghiệp bảo hiểm phải tính toán chính xác, công bằng và hợp lý các khoản phí nêu trên đảm bảo phù hợp với cơ sở kỹ thuật của sản phẩm đã được Bộ Tài chính phê chuẩn và thông báo cho bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng. - Hợp đồng bảo hiểm liên kết chung phải quy định rõ các khoản phí nói trên bao gồm cả các mức tối đa sẽ áp dụng cho bên mua bảo hiểm.