CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BÊN MUA BẢO HIỂM NHÂN THỌ 1. Khái quát về bảo hiểm nhân thọ. Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm nhân thọ trên thế giới. Nhu cầu an toàn, hạnh phúc đối với cá nhân, gia đình và tổ chức trong xã hội là vĩnh cửu3.
Lúc nào con người cũng tìm cách để bảo vệ chính bản thân và tài sản của mình trước những rủi ro, bất hạnh hay những biến cố bất ngờ xảy ra trong cuộc sống. Trong xã hội bộ lạc xưa, một vài biện pháp bảo vệ đã được tìm thấy trong những nhóm người sống và làm việc cùng nhau. Chẳng hạn, câu chuyện từ Trung Quốc cổ đại cách đây 3000 năm trước Công nguyên (TCN) chỉ ra rằng, các thương gia người Trung Quốc đã nghĩ ra và áp dụng những nguyên tắc cơ bản trong bảo hiểm. Các thương gia này đã “bảo hiểm” để chống lại những tổn thất đối với hàng hóa của mình được chuyên chở qua sông Giang Tử, các dải đá ngầm và dốc nguy hiểm thường gây ra những tổn thất nặng nề.
Lo lắng trước việc có thể mất toàn bộ tài sản, họ quyết định “bảo hiểm” bằng cách phân tán các rủi ro. Họ lý giải rằng, giả sử có 100 thuyền hàng, mỗi thuyền có thể chở 100 kiện hàng, họ sẽ dừng lại trước các dải đá ngầm để các thương gia chuyển lên mỗi thuyền 01 kiện hàng của mình. Như vậy, tổn thất của bất kỳ thuyền nào cũng chỉ là tổn thất duy nhất 01 kiện hàng đối với mỗi chủ hàng mà thôi4. Đây có thể được xem là hình thức sơ khai về bảo hiểm.
Xem xét một giai đoạn khác của thế giới cổ đại, hợp đồng bảo hiểm rủi ro đã xuất hiện vào khoảng 2500 năm TCN. Thời đó, rất nhiều các thương gia buôn bán qua Địa Trung Hải đã bảo vệ chính mình khỏi những rủi ro, tổn thất về hàng hóa và các nô lệ trước sự tàn phá của các cơn bão và hải tặc bằng các hợp đồng bảo hiểm. Các hợp đồng này bảo đảm việc chi trả tiền cho bất kỳ tổn thất nào. Khoảng năm 1700 TCN, Hammurabi, một vị vua vùng Babylon, đã soạn thảo một vài quy tắc mà đến nay vẫn còn lưu trữ.
Nó bao gồm một số quy tắc phổ biến như “sự đền bù công bằng, hợp lý” và “hãy để khách hàng quyết định” cũng như các quy tắc về bảo hiểm. Xét trên nhiều khía cạnh, BHNT hình thành trên những cơ sở của bảo hiểm rủi ro và thương mại. Hợp đồng BHNT đầu tiên được phát hành năm 1583, do 3 Nguyễn Viết Vượng (Chủ biên) (2006), Giáo trình kinh tế bảo hiểm, Nxb.Lao động, Hà Nội, tr. 4 Viện Bảo hiểm và Tài chính Australia – New Zealand (2007), VII.Tổng quan về bảo hiểm nhân thọ, Dự án Trung tâm Đào tạo Bảo hiểm Việt Nam, tr.
7 công dân London là ông William Gybbon tham gia. Phí bảo hiểm ông phải đóng lúc đó là 32 bảng Anh, khi ông chết trong năm đó, những người thừa kế của ông được hưởng 400 bảng Anh. Tuy nhiên, BHNT sau đó bị cấm do người ta không tìm thấy các nguyên tắc thống kê khoa học như các công ty bảo hiểm hiện nay đang áp dụng để phát hành hợp đồng, nghĩa là nó không có đầy đủ cơ sở kỹ thuật, bởi vì phí bảo hiểm không dựa trên việc nghiên cứu sự tử vong. Việc phân tích tử vong có tính hệ thống lần đầu tiên được thực hiện bởi John Grant vào năm 1662.
John Grant đã xây dựng một bảng những người còn sống qua việc hàng tuần phân tích và ghi chép lại các lễ đặt tên và lễ an táng tại trung tâm London. Sau đó, Edmund Halley đã sử dụng phân tích này để hình thành nên bảng tuổi thọ bình quân. Đến thế kỷ thứ XVII, khi Pascal, Ferma và Bernoulli chứng minh quy luật số đông, khai sinh và phát triển môn toán học xác suất thống kê thì cơ sở khoa học, kỹ thuật của việc tính phí BHNT mới hình thành5. Năm 1759, công ty BHNT ra đời đầu tiên ở Philadelphia (Mỹ).
Công ty này đến nay vẫn còn hoạt động, nhưng ban đầu nó chỉ bán bảo hiểm cho các con chiên ở nhà thờ của mình. Năm 1762, công ty BHNT Equitable ở nước Anh được thành lập và bán BHNT cho mọi người dân. Công ty BHNT đầu tiên ở Pháp ra đời năm 1787, ở Đức năm 1828. Ở Châu Á, các công ty BHNT đầu tiên ra đời ở Nhật Bản.
Năm 1868, công ty bảo hiểm Meiji của Nhật ra đời và đến năm 1888 và 1889, hai công ty khác là Kyoei và Nippon lần lượt ra đời và phát triển cho đến nay. Tại Việt Nam, BHNT đã từng được triển khai trong thời kỳ Pháp thuộc và ở miền Nam trước năm 19756. Tuy nhiên sau khi đất nước thống nhất, thị trường BHNT mới chính thức được tái lập, khởi đầu từ việc thành lập công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) theo Quyết định số 179/CP ngày 17/12/1964 của Chính phủ, kinh doanh về lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ và tái bảo hiểm. Đến năm 1996, Bảo Việt được Bộ Tài chính cấp phép triển khai thí điểm BHNT bằng Quyết định số 281/BTC-TCNH ngày 20/03/1996 (các sản phẩm bảo hiểm có thời hạn 5 năm, 10 năm và bảo hiểm trẻ em) trên cơ sở Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm.
Quyết định này đã thực sự đánh dấu sự ra đời của ngành bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam. Trải qua hơn 12 năm hình thành và phát triển, cùng với tiến trình hội nhập và mở cửa nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã có một thị trường BHNT phát triển nhanh nhất Châu Á với việc ngày càng nhiều công ty 5 Nguyễn Tiến Hùng (Chủ biên) (2007), Nguyên lý và thực hành bảo hiểm, Nxb.Tài chính, Hà Nội, tr. 6 Trương Mộc Lâm và Lưu Nguyên Khánh (2001), Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm, Nxb. Thống kê, Hà Nội, tr.
8 BHNT được cấp phép hoạt động và lượng khách hàng không ngừng gia tăng. Đến nay, ngoài Bảo Việt Nhân thọ, đã có hơn 9 công ty được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh lĩnh vực BHNT như: Công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ AIG life, Prudential, Manulife, ACE Life, Prevoir, Cathaylife, Great Eastern Life, Korea Life, Dai-Ichi life và Cardif. Ngoài ra, một số công ty BHNT nước ngoài đã thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam như: PingAn (Trung Quốc), Nanshanlife (Taiwan), Ngân hàng Hồng Kông Thượng Hải - HSBC. Khái niệm về bảo hiểm nhân thọ.
Nghiên cứu về BHNT cần xem xét trên 2 phương diện, phương diện pháp lý và phương diện kỹ thuật. Trên phương diện pháp lý: Bảo hiểm nhân thọ là sự thỏa thuận giữa bên bảo hiểm và bên mua bảo hiểm, trong đó để nhận được phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm, bên bảo hiểm cam kết sẽ trả cho bên mua bảo hiểm hoặc người thụ hưởng số tiền bảo hiểm hay một khoản trợ cấp định kỳ trong trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời điểm nhất định (đáo hạn) hoặc bị tử vong hay tàn tật (bồi thường) được ghi rõ trong hợp đồng. Trên phương diện kỹ thuật: Bảo hiểm nhân thọ là nghiệp vụ bảo hiểm bao hàm những cam kết, mà việc thi hành những cam kết này phụ thuộc vào tuổi thọ của con người. Khoản 12, Điều 3 Luật KDBH được xác định trên những quan điểm truyền thống về bảo hiểm nhân thọ, theo đó, “bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết”.
Khái niệm BHNT được hiểu tương đối thống nhất trong các tài liệu khoa học và trong hệ thống pháp luật ở các quốc gia trên thế giới có thị trường bảo hiểm nhận thọ phát triển7. Theo các khái niệm trên thì đối tượng của BHNT chính là tuổi thọ, tính mạng của người được bảo hiểm. Điều này có nghĩa là nếu người được bảo hiểm sống đến một thời điểm nhất định hoặc tử vong trong một khoảng thời gian nào đó như đã thỏa thuận trong hợp đồng thì bên bảo hiểm phải trả số tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng như đã cam kết. Để làm rõ thêm khái niệm BHNT, chúng tôi sẽ phân tích sự khác biệt giữa BHNT so với một số loại hình bảo hiểm khác.
Trong Luật KDBH, ngoài khái niệm về nghiệp vụ BHNT, còn có khái niệm về đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm con người thuộc nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ. Theo khoản 1, Điều 31, Luật KDBH thì đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm con người là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và tai nạn con người. Trong khi đó, tuổi thọ, tính mạng con người cũng là đối tượng bảo hiểm của BHNT. Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, đối tượng 7 Xem Bộ Tài chính (1999), Luật bảo hiểm một số nước, Nxb.Tài chính, Hà Nội.
9 bảo hiểm của bảo hiểm con người rộng hơn và bao gồm đối tượng bảo hiểm của BHNT. Nói cách khác, bảo hiểm con người và BHNT là khác nhau mặc dù chúng có cùng chung đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ và tính mạng con người. Hơn nữa, bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính bảo hiểm vừa mang tính tiết kiệm, ngược lại, bảo hiểm con người chỉ mang tính bảo hiểm, bảo vệ. Mặc khác, theo mục a, khoản 2, Điều 7 Luật KDBH thì bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người thuộc nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ.
Bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm sức khỏe và BHNT còn khác nhau ở căn cứ trả tiền bảo hiểm. Theo khoản 1 và khoản 2, Điều 33, Luật KDBH thì trong bảo hiểm tai nạn con người, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng trong phạm vi số tiền bảo hiểm, căn cứ vào thương tật thực tế của người được bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Trong bảo hiểm sức khỏe con người, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm trong phạm vi số tiền bảo hiểm, căn cứ vào chi phí khám, chữa bệnh, phục hồi sức khỏe của người được bảo hiểm do bệnh tật hoặc tai nạn gây ra theo thỏa thuận trong hợp đồng. Đối với BHNT, số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho người thụ hưởng là toàn bộ số tiền bảo hiểm gốc hoặc số tiền bảo hiểm gia tăng cộng với lãi chia tích lũy hay bảo tức tích lũy (nếu có) hoặc giá trị tài khoản hợp đồng8 hoặc giá trị tài khoản và số tiền bảo hiểm tại thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm hoặc đến ngày đáo hạn như đã cam kết trong hợp đồng.