Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã liên tục tham gia các thể chế và hiệp định thương mại đa phương, bao gồm Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) vào tháng 11/1998, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ ngày 11/01/2007 và ký kết Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) năm 2018 (có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 14/01/2019). Bên cạnh động lực tăng trưởng, thị trường xuất hiện các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (TTHCCT) gây thiệt hại trực tiếp đến doanh nghiệp, người tiêu dùng và nguồn thu ngân sách nhà nước, đặt ra yêu cầu can thiệp bằng công cụ pháp luật cạnh tranh.
Năm 2004, Luật Cạnh tranh (LCT 2004) được ban hành, tuy nhiên suốt giai đoạn hoạt động của Cục Quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh đến năm 2018, số lượng vụ việc TTHCCT được điều tra và xử lý rất khiêm tốn. Nhằm khắc phục các bất cập cũ và kiểm soát các thỏa thuận tinh vi trong bối cảnh kinh tế số, Quốc hội đã thông qua Luật Cạnh tranh năm 2018 (LCT 2018) vào ngày 12/06/2018. Dù vậy, thực tiễn áp dụng cho thấy số lượng và chất lượng các cuộc điều tra xử lý hành vi TTHCCT vẫn còn hạn chế, hệ thống quy định còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Từ thực tiễn đó, khóa luận tập trung làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành nhằm đề xuất giải pháp hoàn thiện.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích, chỉ ra các ưu điểm và hạn chế trong quy định pháp luật về điều tra, xử lý hành vi TTHCCT, từ đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi tại Việt Nam. Để đạt được mục tiêu này, khóa luận triển khai ba nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ các vấn đề lý luận về điều tra, xử lý hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh;
- Phân tích và đánh giá những quy định của pháp luật hiện hành về điều tra, xử lý hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh;
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về điều tra, xử lý hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về điều tra, xử lý hành vi TTHCCT tại Việt Nam, trọng tâm là các quy định của LCT 2018 cùng các luật chuyên ngành có liên quan. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại Việt Nam (có so sánh đối chiếu với Hoa Kỳ và Nhật Bản). Phạm vi về thời gian bao quát từ thời điểm LCT 2004 có hiệu lực, qua giai đoạn ban hành và áp dụng LCT 2018, cùng các văn bản hướng dẫn thi hành và dự thảo hướng dẫn tính đến thời điểm nghiên cứu năm 2024.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận tiếp cận hành vi TTHCCT dưới góc độ kinh tế học và khoa học pháp lý. Dưới giác độ kinh tế, tác giả viện dẫn quan điểm của Adam Smith trong tác phẩm Sự thịnh vượng của các quốc gia (1776) về xu hướng liên minh gây bất lợi cho công chúng giữa các chủ thể cùng ngành nghề. Về pháp lý, cơ sở lý thuyết bao gồm Điều 101 Hiệp ước về Hoạt động của Liên minh Châu Âu (TFEU), khoản 4 Điều 3 và Điều 11 LCT 2018 về định nghĩa và các dạng hành vi TTHCCT. Khóa luận vận dụng nguyên tắc cân bằng hợp lý (the rule of reason) của pháp luật chống độc quyền Hoa Kỳ để đánh giá tác động hạn chế cạnh tranh vượt qua "ngưỡng đáng kể". Đồng thời, tác giả xác định bản chất pháp luật điều tra, xử lý hành vi TTHCCT là pháp luật hình thức (pháp luật thủ tục - procedural law), có mối quan hệ biện chứng với pháp luật nội dung; khái niệm "điều tra" trong tố tụng cạnh tranh được kế thừa và phát triển từ khoa học luật tố tụng hình sự.
Về phương pháp luận, tác phẩm dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng gồm:
- Phương pháp phân tích, bình luận, diễn giải: Sử dụng xuyên suốt nhằm làm rõ các khái niệm, quy định pháp luật và quan điểm học thuật;
- Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu quy định và thực tiễn điều tra, xử lý hành vi TTHCCT của Việt Nam với Hoa Kỳ (Đạo luật Sherman 1890) và Nhật Bản (Luật Chống độc quyền tư nhân và duy trì thương mại bình đẳng - AMA 1947);
- Phương pháp lịch sử và phương pháp thống kê: Phân tích mô hình tổ chức cơ quan cạnh tranh và số liệu các vụ việc qua từng thời kỳ;
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp các học thuyết kinh tế và khoa học pháp lý để làm rõ bản chất kinh tế - pháp lý của hành vi TTHCCT;
- Phương pháp phân tích số liệu và dự báo khoa học.
Nguồn dữ liệu của khóa luận thu thập từ các văn bản quy phạm pháp luật (LCT 2004, LCT 2018, BLHS 2015, BLDS 2015, Nghị định 35/2020/NĐ-CP, Nghị định 75/2019/NĐ-CP, Nghị định 03/2023/NĐ-CP, Thông tư 40/2023/TT-BCT); Báo cáo tổng kết 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh của Bộ Công Thương (2017); Báo cáo thường niên các năm 2010, 2013, 2019 của Cục Quản lý cạnh tranh / Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng; Báo cáo thường niên năm 2022 của Hội đồng Thương mại công bằng Nhật Bản trình OECD; giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và pháp luật về điều tra, xử lý hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Chương này xây dựng hệ thống khái niệm và khung lý thuyết nền tảng. Hành vi TTHCCT được xác định qua ba đặc điểm cốt lõi:
- Chủ thể tham gia là các doanh nghiệp hoạt động độc lập, không phụ thuộc về mặt tài chính (các hành vi nội bộ giữa công ty mẹ - con hoặc đơn vị phụ thuộc không cấu thành TTHCCT); hiệp hội ngành nghề có thể đóng vai trò chủ mưu hoặc tạo điều kiện thuận lợi;
- Phải có sự thống nhất ý chí cùng hành động giữa các bên (thể hiện qua văn bản công khai hoặc các cam kết ngầm định khó phát hiện);
- Hậu quả là gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh (mang tính chất trục lợi hoặc ngăn cản, loại bỏ đối thủ).
Về phân loại, tác giả phân chia theo hai tiêu chí:
- Theo mối quan hệ giữa các chủ thể: Thỏa thuận theo chiều ngang (giữa các đối thủ cạnh tranh trên cùng thị trường liên quan) và thỏa thuận theo chiều dọc (giữa các doanh nghiệp ở các khâu khác nhau trong chuỗi sản xuất, phân phối);
- Theo tính chất và mức độ nghiêm trọng: Thỏa thuận bị cấm tuyệt đối (06 hành vi: ấn định giá, hạn chế sản lượng, phân chia thị trường, thông đồng đấu thầu, ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia thị trường, loại bỏ đối thủ ra khỏi thị trường) và Thỏa thuận bị cấm có điều kiện (chỉ bị cấm khi gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể, đánh giá qua thị phần, rào cản gia nhập, công nghệ và khả năng tiếp cận hạ tầng thiết yếu).
Về pháp luật điều tra và xử lý, tác giả định vị đây là bộ phận pháp luật thủ tục nhằm xác định sự thật khách quan và áp dụng chế tài (hành chính, hình sự, dân sự). Khóa luận khảo cứu kinh nghiệm quốc tế tại hai quốc gia:
- Hoa Kỳ: Thi hành Đạo luật Sherman 1890 thông qua hai cơ quan hoạt động song song là Cục Chống độc quyền thuộc Bộ Tư pháp (DOJ) và Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC). DOJ chuyên trách khởi tố hình sự các hành vi ấn định giá, phân chia thị trường, thông thầu. Giai đoạn 2000 - 2009, DOJ điều tra hơn 2.500 vụ vi phạm cạnh tranh (trung bình gần 100 vụ thông đồng/năm); giai đoạn 2010 - 2019 điều tra 394 vụ thông đồng hạn chế cạnh tranh; riêng năm 2009 có 44 cá nhân bị phạt tù;
- Nhật Bản: Thực thi Luật AMA 1947 thông qua Hội đồng Thương mại công bằng Nhật Bản (JFTC). JFTC có thẩm quyền điều tra cả thủ tục hành chính lẫn hình sự. Theo báo cáo trình OECD, giai đoạn 2018 - 2022, JFTC đã xử lý 14 thỏa thuận ấn định giá và 03 thỏa thuận khác; năm 2022 tiếp nhận 22 đơn xin hưởng chính sách khoan hồng.
| Tiêu chí |
Pháp luật Hoa Kỳ |
Pháp luật Nhật Bản |
| Văn bản pháp luật nền tảng |
Đạo luật Sherman 1890 |
Luật Chống độc quyền tư nhân và duy trì thương mại bình đẳng 1947 (AMA) |
| Cơ quan thực thi |
DOJ (Bộ Tư pháp) và FTC |
JFTC (Hội đồng Thương mại công bằng) |
| Cơ chế điều tra, xử lý |
Tố tụng tư pháp tại Tòa án; DOJ khởi tố hình sự các cartel nghiêm trọng |
JFTC trực tiếp điều tra hành chính và chuyển hồ sơ hình sự sang Viện công tố |
| Dữ liệu thực thi tiêu biểu |
Giai đoạn 2010 - 2019 điều tra 394 vụ; năm 2009 phạt tù 44 cá nhân |
Giai đoạn 2018 - 2022 xử lý 14 thỏa thuận ấn định giá; năm 2022 có 22 đơn khoan hồng |
Chương 2: Thực trạng pháp luật về điều tra, xử lý hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam và thực tiễn thực thi
Chương 2 chỉ rõ những bất cập trong quy định pháp luật thực định và đánh giá bức tranh thực thi tại Việt Nam:
1. Về quy định pháp luật:
- Thẩm quyền điều tra: LCT 2018 sáp nhập Cục Quản lý cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh thành Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (UBCTQG), giao thẩm quyền cho Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh. Tuy nhiên, khi có dấu hiệu tội phạm, vụ việc phải chuyển sang cơ quan điều tra hình sự theo Điều 85 LCT 2018. Cơ quan điều tra hình sự lại thiếu công cụ kinh tế để đánh giá tác động hạn chế cạnh tranh, trong khi hai cơ quan chưa có cơ chế phối hợp thực tế;
- Căn cứ điều tra: Điều tra khởi động dựa trên khiếu nại (Điều 77 - 80 LCT 2018), cơ quan cạnh tranh chủ động phát hiện (khoản 2 Điều 80), hoặc khai báo qua chính sách khoan hồng (Điều 112). Tác giả chỉ ra hai điểm bất cập lớn: (i) Thời hiệu khiếu nại 03 năm tính từ ngày thực hiện hành vi là chưa hợp lý vì TTHCCT có tính che giấu cao và tác động thị trường có độ trễ; (ii) Nghĩa vụ chứng minh đè nặng lên bên khiếu nại và bên cung cấp thông tin, làm hạn chế khả năng phát hiện vi phạm;
- Thủ tục xử lý: Do Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh đảm nhiệm. Thủ tục gồm điều tra bổ sung (tối đa 60 ngày), đình chỉ giải quyết (Điều 92) hoặc mở phiên điều trần (Điều 93). Khóa luận phát hiện LCT 2018 và Nghị định 35/2020/NĐ-CP thiếu vắng các quy định chi tiết về diễn biến phiên điều trần, làm giảm tính tranh tụng so với LCT 2004 và Nghị định 116/2005/NĐ-CP trước đây;
- Chế tài xử lý:
- Chế tài hành chính: Hình thức cảnh cáo quy định mờ nhạt, Nghị định 75/2019/NĐ-CP chỉ chi tiết hóa phạt tiền. Mức phạt tiền theo Điều 111 LCT 2018 tối đa là 10% tổng doanh thu trên thị trường liên quan năm tài chính liền kề (Nghị định 75/2019/NĐ-CP phân chia thỏa thuận ngang phạt từ 01% đến 10%, thỏa thuận dọc phạt từ 01% đến 05%). Tuy nhiên, khoản 4 Điều 6 và khoản 4 Điều 7 Nghị định 75/2019/NĐ-CP lại khống chế mức phạt tối đa đối với hành vi ngăn cản hoặc loại bỏ đối thủ xuống dưới mức phạt tiền tối thiểu của BLHS (dưới 1 tỷ đồng đối với pháp nhân và dưới 200 triệu đồng đối với cá nhân) — tác giả đánh giá đây là điểm thiếu logic, tạo ra sự mâu thuẫn với nguyên tắc phạt theo doanh thu;
- Chế tài hình sự: Điều 217 BLHS 2015 quy định tội vi phạm quy định về cạnh tranh, nhưng điều luật này xây dựng dựa trên tiêu chí thị phần kết hợp từ 30% trở lên của LCT 2004, vênh với cách tiếp cận đánh giá tác động của LCT 2018. Đến nay Việt Nam chưa từng xử lý hình sự vụ TTHCCT nào;
- Chế tài bồi thường thiệt hại: Giao cho Tòa dân sự giải quyết theo Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 585), nhưng đương sự rất khó chứng minh hành vi và thiệt hại cạnh tranh khi Tòa án không có nghĩa vụ chứng minh và thiếu sự phối hợp từ UBCTQG.
2. Về thực tiễn thực thi:
- Giai đoạn LCT 2004 (tính đến năm 2016 theo Báo cáo tổng kết 12 năm của Bộ Công Thương): Thực hiện 87 cuộc điều tra tiền tố tụng; điều tra 08 vụ việc hạn chế cạnh tranh (gồm TTHCCT và lạm dụng vị trí thống lĩnh/độc quyền); Hội đồng Cạnh tranh xử lý 06 vụ, thu về ngân sách gần 5,5 tỷ đồng tiền phạt và phí. Vụ việc điển hình là vụ 19 doanh nghiệp bảo hiểm thỏa thuận nâng phí bảo hiểm năm 2008, ngày 29/07/2010 Hội đồng Cạnh tranh ra quyết định phạt 0,025% doanh thu năm 2007, tương đương 1,708 tỷ đồng. Năm 2013, Cục Quản lý cạnh tranh điều tra vụ thỏa thuận phí bảo hiểm học sinh của 12 doanh nghiệp tại Khánh Hòa (mã số 11-KXHCT-02), sau đó vụ việc bị đình chỉ;
- Giai đoạn LCT 2018: Số vụ xử lý gần như bằng không. Năm 2019 tiếp nhận vụ việc thông thầu giữa Bbraun Việt Nam và Dược phẩm Trung ương 1 liên quan việc từ chối cấp hàng cho Công ty An Phú, vụ việc kết thúc bằng việc các bên tự cam kết khắc phục. Từ năm 2020 đến 2022 không có vụ TTHCCT nào bị điều tra xử lý; cơ quan cạnh tranh chỉ theo dõi điều kiện miễn trừ (Vietnam Airlines - Air France, Jetstar Pacific - Jetstar Asia) và theo dõi thị trường;
- Về bộ máy: UBCTQG thành lập trên giấy từ 01/07/2019 nhưng bị "treo" đến tháng 02/2023 mới có Nghị định 03/2023/NĐ-CP. Ngày 29/03/2023 mới bổ nhiệm Chủ tịch Lê Triệu Dũng; cuối năm 2023 mới ban hành Thông tư 40/2023/TT-BCT quy định quy chế hoạt động. Đội ngũ điều tra viên rất mỏng, phụ trách toàn quốc.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về điều tra, xử lý hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam
Trên cơ sở nhận diện các điểm nghẽn, tác giả xác định 3 định hướng hoàn thiện: đảm bảo tính tương thích của hệ thống pháp luật; bảo đảm tính độc lập và khả năng phối hợp của cơ quan cạnh tranh; tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Các giải pháp cụ thể bao gồm:
- Hoàn thiện quy định về điều tra:
- Sửa đổi cách tính thời hiệu khiếu nại tại LCT 2018: Chuyển sang tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm hoặc từ thời điểm hành vi bị phát hiện thay vì tính từ thời điểm thực hiện;
- Điều chỉnh nghĩa vụ chứng minh: Giảm nhẹ gánh nặng chứng minh cho bên khiếu nại và bên cung cấp thông tin, trao quyền chủ động thu thập chứng cứ chuyên sâu cho Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh;
- Hoàn thiện quy định về xử lý:
- Khôi phục và chi tiết hóa trình tự, thủ tục tổ chức phiên điều trần cạnh tranh trong các văn bản dưới luật nhằm bảo đảm tính tranh tụng thực chất;
- Sửa đổi Điều 217 BLHS 2015: Bãi bỏ tiêu chí thị phần 30% để đồng bộ với phương pháp tiếp cận đánh giá tác động của LCT 2018, đồng thời làm rõ diện cá nhân chịu trách nhiệm hình sự;
- Bãi bỏ quy định khống chế mức phạt tiền tối đa bất hợp lý tại khoản 4 Điều 6 và khoản 4 Điều 7 Nghị định 75/2019/NĐ-CP để khôi phục nguyên tắc phạt theo tỷ lệ phần trăm doanh thu;
- Thiết lập quy chế phối hợp cung cấp tài liệu, chứng cứ giữa UBCTQG và Tòa án trong việc giải quyết các vụ kiện bồi thường thiệt hại dân sự ngoài hợp đồng;
- Nâng cao hiệu quả thực thi:
- Tăng cường ngân sách và đào tạo nhân sự chuyên trách cho UBCTQG, gia tăng số lượng điều tra viên cạnh tranh;
- Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan cạnh tranh với cơ quan điều tra hình sự, cơ quan thuế, hải quan và các hiệp hội ngành nghề;
- Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp toàn diện số liệu thực tế về công tác điều tra, xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam qua hai thời kỳ luật:
| Chỉ số thực thi |
Giai đoạn Luật Cạnh tranh 2004 (Đến 2016) |
Giai đoạn Luật Cạnh tranh 2018 (2019 - 2022) |
| Số cuộc điều tra tiền tố tụng |
87 cuộc |
Chủ yếu giám sát thị trường và theo dõi miễn trừ |
| Số vụ việc HCCT bị điều tra |
08 vụ việc |
01 vụ việc (vụ thông thầu Bbraun - Dược phẩm TW1 năm 2019) |
| Số vụ việc bị xử lý chính thức |
06 vụ việc (Hội đồng Cạnh tranh xử lý) |
0 vụ việc (kết thúc bằng cam kết hoặc đình chỉ) |
| Tổng số tiền phạt và phí thu về |
Gần 5,5 tỷ đồng (vụ 19 DN bảo hiểm chiếm 1,708 tỷ đồng) |
0 đồng |
| Tình trạng xử lý hình sự |
0 vụ |
0 vụ |
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở ba khía cạnh mà tác giả xác định:
- Góp phần hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận riêng về điều tra, xử lý hành vi TTHCCT trong khoa học luật kinh tế;
- Phân tích xác thực thực trạng thể chế và chỉ rõ các điểm xung đột pháp luật thực định giữa LCT 2018 với Nghị định 75/2019/NĐ-CP, BLHS 2015 và BLDS 2015;
- Xây dựng hệ thống giải pháp lập pháp và thực thi có căn cứ khoa học nhằm kích hoạt hiệu lực thực tế của UBCTQG.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài xuất phát từ phạm vi thực tiễn: Giai đoạn thi hành LCT 2018 ghi nhận số lượng vụ việc TTHCCT bị xử lý quá ít (chỉ có một vụ việc năm 2019 được giải quyết thông qua cam kết), trong khi bộ máy UBCTQG bị gián đoạn hoạt động kéo dài đến năm 2023 mới được kiện toàn. Do đó, các đánh giá về mô hình xử lý mới chủ yếu dừng lại ở phân tích quy phạm và cơ cấu tổ chức trên văn bản.
Hướng nghiên cứu tiếp theo cần theo dõi thực tiễn hoạt động xét xử, xử phạt của UBCTQG sau khi vận hành theo Thông tư 40/2023/TT-BCT, đồng thời nghiên cứu sâu cơ chế phối hợp cụ thể giữa cơ quan điều tra hình sự và cơ quan cạnh tranh khi phát sinh vụ án hình sự đầu tiên theo Điều 217 BLHS.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tố tụng, cũng như các luật sư và chuyên viên pháp chế doanh nghiệp. Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2, nơi tác giả bóc tách chi tiết các xung đột kỹ thuật lập pháp giữa Điều 111 LCT 2018 với Nghị định 75/2019/NĐ-CP (về mức phạt trần), sự lệch pha giữa Điều 217 BLHS 2015 với LCT 2018 (về tiêu chí thị phần 30%), và các dữ liệu tổng kết thực tiễn xử phạt ngành bảo hiểm.
Câu hỏi thường gặp
1. Vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh điển hình nào từng bị xử phạt tiền tại Việt Nam và mức phạt là bao nhiêu?
Đó là vụ việc 19 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thỏa thuận tăng mức phí bảo hiểm đối với xe cơ giới, hàng hóa và tàu biển năm 2008. Sáng ngày 29/07/2010, Hội đồng Cạnh tranh đã ra phán quyết xử phạt các doanh nghiệp này mức 0,025% tổng doanh thu năm 2007, tương đương tổng số tiền phạt là 1,708 tỷ đồng.
2. Điểm vênh nhau cơ bản giữa Luật Cạnh tranh 2018 và Điều 217 Bộ luật Hình sự 2015 là gì?
Điều 217 BLHS 2015 được xây dựng dựa trên nền tảng của LCT 2004, quy định cấu thành tội phạm dựa trên điều kiện các bên tham gia thỏa thuận có "thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên". Trong khi đó, LCT 2018 đã chuyển hướng sang kiểm soát hành vi dựa trên việc đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể, không còn phụ thuộc đơn thuần vào ngưỡng thị phần 30%.
3. Mức phạt tiền hành chính đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang và chiều dọc khác nhau như thế nào theo Nghị định 75/2019/NĐ-CP?
Theo khoản 3 Điều 4 Nghị định 75/2019/NĐ-CP, thỏa thuận theo chiều ngang giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan chịu mức phạt từ 01% đến 10% tổng doanh thu trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm vi phạm. Thỏa thuận theo chiều dọc giữa các doanh nghiệp ở các khâu khác nhau chỉ chịu mức phạt từ 01% đến 05% tổng doanh thu tương ứng.
4. Vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đầu tiên được cơ quan cạnh tranh xử lý theo Luật Cạnh tranh 2018 có kết quả ra sao?
Năm 2019, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng tiếp nhận phản ánh về hành vi có nguy cơ thông thầu giữa Công ty TNHH Bbraun Việt Nam và Công ty CP Dược phẩm Trung ương 1 (thỏa thuận từ chối cung cấp hàng hóa cho bên thứ ba). Sau khi cơ quan cạnh tranh yêu cầu giải trình, các bên liên quan đã tự nguyện thực hiện cam kết để bên thứ ba (Công ty An Phú) được thực hiện hợp đồng theo gói thầu, do đó vụ việc không bị xử phạt hành chính.
5. Cơ cấu cơ quan cạnh tranh Việt Nam thay đổi như thế nào từ Luật Cạnh tranh 2004 sang Luật Cạnh tranh 2018 và mốc thời gian kiện toàn bộ máy là khi nào?
LCT 2018 đã hợp nhất mô hình phân tán (gồm Cục Quản lý cạnh tranh điều tra và Hội đồng Cạnh tranh xử lý) thành một cơ quan duy nhất là Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (UBCTQG). Mặc dù luật quy định thành lập từ ngày 01/07/2019, nhưng đến tháng 02/2023 Nghị định 03/2023/NĐ-CP mới được ban hành; ngày 29/03/2023 ông Lê Triệu Dũng mới được bổ nhiệm làm Chủ tịch UBCTQG; và đến cuối năm 2023 Thông tư 40/2023/TT-BCT về quy chế tổ chức hoạt động mới hoàn tất.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Nguyễn Phương Thảo đã phản ánh toàn diện bức tranh lý luận và thực trạng pháp luật về điều tra, xử lý hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam. Công trình chỉ rõ sự gián đoạn thể chế và những mâu thuẫn quy phạm giữa Luật Cạnh tranh 2018 với pháp luật hình sự, hành chính và dân sự. Các kiến nghị sửa đổi cách tính thời hiệu, điều chỉnh gánh nặng chứng minh và tháo gỡ quy định mức phạt trần có giá trị khoa học và thực tiễn đối với tiến trình hoàn thiện pháp luật cạnh tranh hiện nay.