CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE THOA THUAN HAN CHE CANH TRANH VA PHAP LUAT VE DIEU TRA, XU LY HANH VI THOA THUAN HAN CHE CANH TRANH. Khái quát về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Khái niệm hành vỉ thỏa thuận han chế cạnh tranh. Dưới góc độ kinh tê học, TTHCCT được nhin nhận là sư thông nhật.
cùng hanh động của nhiều doanh nghiệp nhằm giêm bớt hoặc loại bỏ sức ép của canh tranh hoặc han chế khả năng hành động một cách độc lâp giữa các đối thủ cạnh tranh. Dưới góc đô pháp lý, có thể liêu TTHCCT là sự thông nhật ý chí từ hai chủ thé kinh doanh trở lên dén đến hậu quả làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thi trường Từ việc khống chế thị trường hành vi TTHCCT thường mang tính chất “uc lợi” (exploitative) hoặc “ngăn can, loại bổ” (exclusionary) cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh nhu Adam Smith đã phát hiện: “nhimg người trong cùng mét nghề thường hiểm lửa gặp nhan, thâm chi dé vui về và giải trí, nlumg nêu có thì các cuộc nói chuyên giữa họ thường kết thúc với âm mun chống lại công chưng, hoặc một số thi đoạn dé tăng gid.“ Ở Liên minh châu Âu (EU), TTHCCT được đính ngiấa trong Điêu 101 của Hiên chương về Hoạt đông của Liên minh châu Âu (Treaty on the Functioning of the Europeen Umon- TFEU). Theo Điều 101 này, các thoä thuận giữa các doanh nghiệp, quốc gia hoặc các hiệp hội doanh nghiệp không lành manh và ảnh hưởng đến thị trường cạnh tranh có thé bị coi là vi phạm LCT của EU. “Thoá thuận giữa các doanh nghiệp, các quốc gia hoặc các hiệp hội doanh nghiệp có mục tiêu hoặc kết quả làm giảm, hạn chế hoặc ngăn chăn sự canh tranh không lành manh hoặc ảnh hướng đến thi trường trong Liên mình hoặc một phan của nó, được coi là vi phạm nguyên tắc cạnh tranh trong thi trường nội bộ "Điều này có nghĩa là các TTHCCT, bao gồm các thỏa thuận vé gid cả, thị trường, nguén cung ứng, và các hành vi khác có thé làm giảm sự cạnh tranh không lành mạnh, đều là bat hợp pháp trong Liên minh châu Âu nêu clưúng gây ảnh hưởng tiêu cực đối với thị trường canh tranh EU có cơ quan chuyên.
trách là Cơ quan Chồng độc quyền của Liên minh châu Au European Commission) để giám sát và xử lý các trường hợp vi phạm LCT, bao gồm các TTHCCT LCT năm 2018 của Việt Nam đã đưa ra định nghia về TTHCCT, theo đỏ: “Thỏa thuận han chế cạnh tranh là hành vi thỏa thuận giữa các bên dưới mọi hình thức gây tác đồng hoặc có khả năng gây tác đồng han chế cạnh tranh'2. Bên cạnh đó, LCT 2018 còn liệt kê các thỏa thuận bi coi là TTHCCT tại Điêu 11 Luật nay, gồm * Adam Soaith (1776), Sự thành vượng của các quốc gia ? Khoản 4 Đầu 3 Luật cạnh tanh 2018 "1. Théa thuận ấn đình giá hàng hóa, dich vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Thỏa thuận phân chia khách hàng phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cưng cắp hàng hóa, cưng ứng dich vu 3.
Théa thuận han chế hoặc kiểm soát số lượng khối lượng sản xuất mua. cưng ứng dich vụ. 4 Thỏa thuận dé một hoặc các bền tham gia thỏa thuận thẳng thầu khủ tham gia đâm thâu trong việc cung cắp hàng hóa, cung ứng dich vu 5. Thỏa thuận ngăn can, kim hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thi trường hoặc phát triển lĩnh doanh.
Théa thuận loại bô khối thi trường những doanh nghiệp không phải là các bên: tham gia théa thuận. Théa thuận han chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, han chế đâu he. Théa thuận dp đặt hoặc ấn đình điều liện lý kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, cưng ứng địch vụ cho doanh nghiệp khác hoặc thỏa thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhân các ngÏữa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tương của hop đồng. Théa thuận không giao dich với các bên không tham gia théa thuận.
Théa thuận hạn chế thi trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn cưng cấp hàng hóa, cưng ứng dich vụ của các bên không tham gia thỏa thuận. Thõa thuận khác gây tác đông hoặc có khả năng gây tác động hạn ché canh tranh ” Như vậy, quy định về TTHCCT ở Việt Nam hiện nay là môt quy dinh mở, các thöa thuận khác tuy không được quy định cụ thé trong luật nhưng van có thé bị câm néu gây tác động hoặc có khả năng gây tác động han chê cạnh tranh một cách đáng kế trên thị trường. Cách tiệp cân nay có ưu điểm là dam bảo tính linh hoạt của pháp luật canh tranh trước sự thay đổi không ngừng của các hoạt động kinh doanh nhưng cũng có thé dan đền ling túng trong áp dung pháp luật đối với các vụ việc cụ thé. cứ vào những phân tích trên có thé đưa ra kết luận rằng.
TTHCCT là sự thống nhất ý chí, cùng hành đông của nhiều chit thé kinh doanh, được thực hiên dưới bắt cứ hình thức nào nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ sức ép của cạnh tranh, hoặc can trở cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc lập giữa các đối thit cạnh tranh trên thi trường. Đặc điềm cna hành vỉ thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Chñ thé tham gia TTHCCT là các doanh nghiệp hoạt động độc lập Hoạt động TTHCCT được thực hiện bởi chủ thể là các doanh nghiép (bao gom tô chức, cá nhan kinh doanh)3 Tuy nhién, không phải moi doanh nghiệp đều có thé 3 Khoin 1 Điều 2 Luật Canh tranh 2018 là chủ thể của TTHCCT. Các doanh nghiệp này lại phải hoạt đông độc lập với nhau, và hoàn toàn không phụ thuộc nhau về tài chính Những hanh động thông nhật của các đơn vị hạch toán phụ thuộc trong một công ty không được pháp luật cạnh tranh coi là thỏa thuan bởi thực chất các công ty nói trên cho dit bao gồm nhiều thành viên.
hạch toàn phụ thuộc cũng chi 1a một chủ thé thông nhất. Mặt khác, ý chi của các doanh nghiệp tham gia thöa thuận phải là ý chí độc lập của riêng doanh nghiệp ma không phụ thuộc và không chịu sự tác động của bat ky ai, nều một doanh nghiệp bi ép buộc thực hiện các hành vi han chế cạnh tranh như công ty mẹ hay tập đoàn ra quyét đính bắt công ty cơn phải thi hành thi đây không được coi là TTHCCT. TTHCCT có thé diễn ra gữa các doanh nghiệp là đối thủ của nhau hoạt đông trên cùng thị trường hoặc giữa các bên không phai là đôi thủ của nhau * Trong một số trường hợp đặc biệt, các chủ thé như hiệp hội ngành, nghệ có thé trở thành chủ thé thực hiện hành viTTHCCT. Đây là những trường hợp ma hiệp hội ngành nghề đóng vai tro “chủ mưu” lôi kéo các doanh nghiệp tham gia thực hiên hành vi HCCT như TTHCCT.
Mặc dù Hiệp hội không trực tiép tham gia hoạt đông kinh doanh trên thi trường không trực tiép cạnh tranh nhưng hoạt đông của các hiệp hội nói chung có thể có tác động lớn tới quá trình cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thi trường. Trong hướng dan phát hién và xử lý TTHCCT, OECD đã chỉ ra rằng hiệp hội chính là một trong những yêu tô tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp hop ban và di đến thỏa thuận Chính vì vậy, nhiều quốc gia, ving lãnh thé đã quy định xử phạt hiép hội liên quan về hành vi tạo điều kiện dé hình thành và thực hiện théa thuận giữa các thành viên. Luật cạnh tranh của nhiêu nước như Hàn Quốc, Singapore, Liên. minh châu Âu quy đính TTHCCT có thé là quyết định được đưa ra bởi hiệp hôi của các doanh nghiệp.
Quyết định của hiệp hôi các doanh nghiệp được đưa ra phù hợp với cam kết chung của các thành viên của hiệp hội thi được coi là thay thé thỏa thuận giữa các thành viên của hiệp hội và nó chính là quyết định của các thành viên hiép hội đó. Trên thực tê, trong quá trình xử lý các hành vi HCCT bi cam ở Việt Nam, đã có những TTHCCT được tiên hành đưới sự chủ trì của các Hiệp hội”. Có sự thông what ý chí cimg lành động cña các bén tham gia TTHCCT được hình thành khi có sự thông nhất ý chi cùng hành động của các bên tham gia thoả thuận Su thong nhật cùng hành động giữa các doanh nghiệp tham gia thoả thuận được thé hiện công khai hoặc không công khai. Dau luệu quan trong nhat của TTHCCT là có sự thông nhat ý chí cùng hành động của các bên tham gia thoả thuân để hạn chế canh tranh với các nội dung như ân định giá, phân chia thị 4 Trường Daihoc Luật Hi Nội (2020), Giáo tinh Luật Canh tranh ,N2XB Cổng am Nhân din,tr.126- 127 * Vaile TTHCCT của 19 DN bảohàm Việt Nam năm 2008 được tiên hình thông qua Hội nghị tường niin các CEO ngành bio hiển do Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam tổ chức trường tiêu thụ, hạn chế nguồn cung.
Hành vị giống nhau của các doanhnghiép chưa đủ để chúng minh là đã có thoả thuận giữa ho. Dé xác đính hành vi hoặc tập hợp các hành vi của nhóm doanh nghiệp độc lập cầu thành TTHCCT, cơ quan có thêm quyền phải có đủ bằng chứng kết luận giữa họ đã tôn tại thoả thuận chinh tức bằng văn bản (thông qua bản hop đông hoặc bản ghi nhé) hay đã có cam kết đáp ung yêu câu của các bên tham gia mà không thé hiện bang van bản (những cam kết nay thê hiện thông qua su bản bạc trong các cuộc gap mặt giữa các bên hoặc trong các tai liệu có liên quan). Vi vậy, cơ quan có thêm quyên dé dang tim ra được những bang chúng về TTHCCT đối với các thoả thuận công khai, nhung đối với các thoả thuận ngâm thì việc tìm kiêm bằng chúng là không đơn gan Dang lưu ý là, hầu hết các TTHCCT đầu tôn tại đưới hình thức ngam định nên việc nhận dạng, dau tranh va phát hiện chúng bang việc thu thập những chứng cứ thông thường như. bản hợp đông, biên bản cuộc hop, hoá đơn điện thoại, ban fax, nội quy.
là hết sức khó khăn Bởi vậy, trên thực tế, cơ quan quan lý cạnh tranh ở các mucc con sử dụng các thông tin nghiệp vụ của các lực lượng chức năng (an mình, tình. báo kinh té), thông tin chuyên môn của các cơ quan thông kê, thuế, hải quan,. để chuyển hóa chứng cứ nhằm xử lý các TTHCCT. Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể kết luận là có tên tại thoả thuận hạn chê cạnh tranh khi tên tại chúng cv cho thay rằng các bên đã thoả thuận lan ché cạnh tranh (trực tiép, gián tiép) dé cũng hành đông vì loi ích của mỗt thành viên.