Chương I KHÁI QUÁT VỀ CƠ QUAN QUẢN LÝ CANH TRANH 1. CO QUAN QUAN LÝ CANH TRANH TRƯỚC YÊU CAU KIEM SOÁT HANH VI HAN CHE CANH TRANH TRONG NỀN KINH TE HỘI NHAP Một trong những mục tiêu chiến lược được đặt ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 theo Báo cáo của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Dang là hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Để làm được điều này cần phải “tiếp tục phát triển, hoàn thiện các loại thị trường đi đôi với xây dựng khuôn khổ pháp lý và thể chế, để thị trường hoạt động năng động, có hiệu quả, có trật tự, kỷ cương trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bach, hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh” [192, I1]. Trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam mong muốn được thừa nhận là một nước có nền kinh tế thị trường để có những thuận lợi hơn trong các quan hệ kinh tê với nước ngoài cũng như trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các quan hệ đó thông qua hệ thống giải quyết tranh chấp quốc tế khi cần thiết.
Nhu cầu này khiến Việt Nam nhận thức rõ hơn về các yếu tố cân phải có cho một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, trong đó bao gom bảo hộ sở hữu tư nhân, đảm bảo quyền tự do thương mại, tự do kinh doanh, tự do hợp đồng, tự do cạnh tranh. Thực tiễn từ các nền kinh tế mạnh trên thế giới cho thấy sức ép của cạnh tranh luôn luôn là động lực thúc đẩy người kinh doanh luôn tìm cách phát triển sản phẩm của mình, xây dựng chiến lược cạnh tranh cho sản phẩm ấy trên thị trường nhảm tìm kiếm lợi nhuận cao nhất trong bối cảnh cạnh tranh ngày nay không chỉ diễn ra trên một quốc gia mà diễn ra ngày càng khác nghiệt trong phạm vi toàn cầu bởi sự viễn chính của các công ty đa quốc gia. Nền kinh tế Việt Nam với các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang chiếm một tỉ trọng lớn rất cần sự hậu thuẫn từ phía Nhà nước trong việc xây dựng một cơ chế cạnh tranh hiệu quả, đảm bảo cạnh tranh công bảng, lành mạnh giữa doanh nghiệp trong nước còn non yếu về tiềm lực kinh tế và khả năng quản trị với doanh nghiệp được xây dựng từ nguồn vốn nước ngoài có truyền thống và kinh nghiệm kinh doanh từ lâu đời. Trong những năm qua, dưới tác động của hội nhập kinh tế, của các mối giao lưu thương mại trực tiếp với các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, đặc biệt là sự trợ giúp của các quốc gia đó trong việc xây dựng thể chế, hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhiều định chế nhà nước mới đang hình thành dần dân để thực hiện vai trò quản lý, điều tiết nhằm bảo vệ và tăng cường năng lực cho các nhà sản xuất trong nước, nhưng cũng đảm bảo thu hút được các nguồn lực từ các nhà đầu tư nước ngoài để đẩy mạnh nền kính tế.
Với tư duy và quan điểm về quản lý ngày càng thay đổi, Nhà nước xác định rõ hơn vai trò của mình trong xã hội. Trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX cũng khẳng định: “Nhà nước tôn trọng nguyên tắc và cơ chế hoạt động khách quan của thị trường, tạo điều kiện phát huy mặt tích cực, đồng thời khác phục, hạn chế những tác động tiêu cực của thị trường. Nhà nước tập trung làm tốt chức năng hoạch định chiến lược, quy hoạch và kế hoạch định hướng phát triển,., đổi mới thể chế quản lý, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; xây dựng pháp luật và kiểm tra giám sát việc thực hiện; giảm mạnh sự can thiệp trực tiếp bằng biện pháp hành chính vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam cũng được xây dựng dựa trên tỉnh thần như vậy.
Kinh nghiệm quản lý của thời kỳ bao cấp đã cho thấy thiếu những động lực kinh tế cần thiết thì nền kinh tế sẽ trì trệ, yếu kém, mọi năng lực của chủ thể kinh doanh không được phát huy, sự phân bổ các nguồn lực không đi từ nơi có hiệu quả sử dụng thấp đến nơi có hiệu quả sử dụng cao. Cạnh tranh xuất hiện trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, nơi đảm bao sự tự do về mọi mặt cho các tổ chức, cá nhân trong hoạt động kinh doanh của mình là một yêu cầu mang tính tất yếu. Vì vậy một cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý, điều tiết và bảo vệ cạnh tranh cũng chỉ ra đời ở những quốc gia nơi mà mọi chủ thể tiến hành hành vi kinh doanh đều thực sự có ý thức “yêu mến” và co sty cho cạnh tranh. Ở mỗi quốc gia thiết chế thực thi pháp luật cạnh tranh ra đời do những nguyên nhân không giống nhau.
Tại các quốc gia phương Tây, điển hình là ở Mỹ, hệ thống cơ quan bảo vệ cạnh tranh lành mạnh trên thị trường xuất hiện do nền kinh tế phát triển hết sức tự do. Trong nền kinh tế đó, các chủ thể kinh doanh với khả năng của mình có thể chủ động tìm ra mọi phương cách trực tiếp hay gián tiếp, lành mạnh hay không lành mạnh, công khai hay ngấm ngầm. trước các đối thủ cạnh tranh trên cùng một thị trường liên quan nhằm gianh lấy thị phan và thu được lợi nhuận kinh doanh cao nhất. Khi những cuộc cạnh tranh như vậy trở nên khốc liệt, gây rối loạn nền kinh tế, ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng, thậm chí chuyển quyền lực thị trường sang quyền lực chính trị thì pháp luật cùng thiết chế bảo vệ sự cạnh tranh lành mạnh mới xuất hiện để áp chế quyền lực công lên những hành vi gây tác động tiêu cực cho nền kinh tế như vậy.
Trong khi đó lại có một phương thức ra đời khác của pháp luật và thiết chế bảo vệ cạnh tranh. Ở Nhật Bản, việc thực thi pháp luật cạnh tranh bat đầu do áp lực từ bên ngoài. Khi các nhà đầu tư tiến vào thị trường Nhật Bản và họ nhận thấy tập quán kinh doanh ở nước này cổ suý cho sự tương trợ lẫn nhau giữa các doanh nghiệp bản địa vì người Nhật cho rằng “hệ thống hạn chế cạnh tranh sản sinh ra một giá trị cao hơn, đó là sự ổn định, an toàn và công bằng hơn so với một thị trường cạnh tranh” [175, 31]. Chính sự thâm nhập của thương nhân nước ngoài đã khiến Chính phủ Nhật Bản nhận thấy những ưu thế không cân xứng giữa thương nhân trong nước và nước ngoài có thể khiến nước Nhật mất đi những nguồn đầu tư lớn giúp cho nền kinh tế của họ tăng trưởng.
Vì vậy, Nhật Bản cần phải xây dựng một cơ chế công bằng hơn cho mọi nhà đầu tư thực hiện hành vi kinh doanh trên đất nước mình để thu được lợi ích cao nhất cho nhà nước và toàn xã hội. Sự xuất hiện của pháp luật bảo vệ cạnh tranh ởViệt Nam lại có một đặc thù khác. Pháp luật và thiết chế bảo vệ cạnh tranh của Việt Nam ra đời dưới sức ép của hội nhập kinh tế, yêu cầu về một nền pháp luật minh bạch, rõ ràng, đầy đủ và ổn định. Tai những quốc gia đã từng trải qua thời kỳ thực hiện phương thức quản lý kinh tế tập trung bao cấp, điều đáng ngại xuất phát từ các doanh nghiệp nhà nước.
Các doanh nghiệp này tồn tại ngay từ khi đất nước độc lập và tiến hành công cuộc xây dựng nền kinh tế XHCN. Sự tồn tại của chúng đã giúp khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh và từ đó đã chiếm một vị thế khá thuận lợi, với nhiều ưu tiên mà cho đến nay trở thành gần như một lợi thế độc quyền. Thực tế này diễn ra trong một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế Việt Nam, nơi thu hút sự quan tâm sâu sắc của các nhà đầu tư nước ngoài. Khi Việt Nam tiến hành mở cửa chuyển đổi kinh tế, các nhà đầu tư mong chờ sự tác động từ phía Nhà nước để phá vỡ thế độc quyền này tạo diéu kiện đầu tư rộng mở cho những cá nhân, tổ chức năm giữ vốn, kinh nghiệm và nhu cầu kinh doanh trong các những lĩnh vực đó.
Việc xây dựng và thành lập một cơ quan chuyên môn quản lý về lĩnh vực cạnh tranh của Việt Nam được tiến hành từ những ngày đầu soạn thảo Luật cạnh tranh. Khi đó ngoài việc đưa ra dự thảo luật, Bộ Thương mại cũng đã phối hợp với các bộ, ngành xây dựng Đề án thành lập cơ quan quản lý cạnh tranh và đưa ra lấy ý kiến các đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa L1. Luật cạnh tranh được Quốc hội thông qua ngày 03/12/2004 (sau đây gọi là Luật cạnh tranh) là văn bản pháp lý cao nhất tạo nền tảng cho sự tồn tại của Cơ quan quản lý cạnh tranh trong hệ thống các cơ quan nhà nước. Khoản 1 Điều 49 Luật cạnh tranh quy định “Chính phủ quyết định thành lập và quy định tổ chức, bộ máy của cơ quan quản lý cạnh tranh”.
Thiết chế này ra đời trước mát là để gây dựng niềm tin cho các nhà đầu tư quan tâm đến thị trường Việt Nam, nhất là vào thời điểm hiện nay Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO. Trong Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO đệ trình lên tổ chức này đã tóm tắt rất cụ thể kết quả của những 12 chính sách mà Việt Nam đã thực hiện được trong quá trình theo đuổi đàm phán gia nhập WTO. Trong phần báo cáo về chính sách cạnh tranh, tại đoạn 105 ghi nhận “Luật cạnh tranh công nhận quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp và bảo hộ quyền cạnh tranh trong kinh doanh, cấm các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh, và cũng ngăn cấm các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện một số hành vi nhất định, như chỉ định việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp, ép buộc liên kết để loại bỏ, hạn chế hay cản trở cạnh tranh. Đoạn 109 của Văn kiện này nêu “Luật này không có điều khoản nào quy định cho doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp do Nhà nước kiểm soát được duy trì đặc quyền cạnh tranh theo luật so với các doanh nghiệp khác” [55-57, 29].