Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trần Thùy Linh, chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số: 9 38 01 07) tại Trường Đại học Luật Hà Nội vào năm 2020, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Nguyên Khánh và TS. Vũ Đặng Hải Yến.

Trong nền kinh tế thị trường, sự tích tụ kinh tế, các rào cản gia nhập thị trường, quy mô hiệu quả tối thiểu, sự dị biệt của sản phẩm hoặc sự bảo hộ của quyền lực nhà nước đã hình thành các doanh nghiệp nắm giữ vị trí thống lĩnh thị trường (VTTLTT). Các chủ thể này thường có xu hướng khai thác sức mạnh thị trường để chi phối giá cả, sản lượng nhằm tối đa hóa lợi nhuận và ngăn cản, triệt tiêu đối thủ cạnh tranh. Các hành vi lạm dụng này làm vô hiệu hóa cơ chế tự điều chỉnh của thị trường, làm giảm động lực phát triển kinh tế và gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Do đó, sự can thiệp của Nhà nước thông qua pháp luật cạnh tranh là công cụ điều tiết cần thiết.

Tại Việt Nam, Luật Cạnh tranh 2004 sau hơn một thập kỷ thực thi đã bộc lộ nhiều hạn chế về tiêu chí xác định vị trí thống lĩnh, nhận diện hành vi lạm dụng và cơ chế xử lý. Giai đoạn 2006–2017, Cục Quản lý Cạnh tranh chỉ thụ lý điều tra 8 vụ việc về hạn chế cạnh tranh (HCCT), trong đó có 4 vụ việc liên quan đến hành vi lạm dụng VTTLTT. Nhằm đáp ứng yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và thực thi các cam kết quốc tế trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA, các cam kết trong WTO và ASEAN), Luật Cạnh tranh 2018 đã được ban hành với nhiều điểm sửa đổi căn bản. Tuy nhiên, tại thời điểm năm 2020, nhiều quy định của Luật Cạnh tranh 2018 chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết, đặt ra khoảng trống cần nghiên cứu để bảo đảm hiệu quả áp dụng thực tế.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là phân tích, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn thực thi pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT, bao gồm khái niệm, mục tiêu, học thuyết và nội dung điều chỉnh pháp lý.
  2. Khảo cứu kinh nghiệm pháp luật của Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (EU) và Nhật Bản nhằm rút ra bài học cho Việt Nam.
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT.
  4. Đánh giá thực tiễn thi hành và xác định nguyên nhân của các bất cập, hạn chế trong việc áp dụng pháp luật tại Việt Nam.
  5. Đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi cơ chế kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án:

  1. Thế nào là hành vi lạm dụng VTTLTT? Thế nào là kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT? Hoạt động này có đặc điểm và mục đích gì?
  2. Cấu trúc, nội dung cơ bản của pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT được thiết lập như thế nào?
  3. Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT bằng pháp luật cạnh tranh được thể hiện như thế nào?
  4. Thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT tại Việt Nam hiện nay ra sao?
  5. Cần xác định phương hướng và giải pháp cụ thể nào để hoàn thiện pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT ở Việt Nam?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu của luận án:

  1. Việc xây dựng nền tảng cơ sở lý luận và hoàn thiện cơ chế kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT có ý nghĩa quyết định đối với việc xác lập và duy trì môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh tại Việt Nam.
  2. Các quy định của pháp luật Việt Nam về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT vẫn còn những điểm chưa thực sự phù hợp, tồn tại khoảng trống pháp lý dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao.
  3. Việc hoàn thiện các quy định pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT là yêu cầu tất yếu của quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, bảo đảm cân bằng giữa quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp và mục tiêu của pháp luật cạnh tranh, phù hợp với thông lệ quốc tế và bối cảnh hội nhập.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng về cạnh tranh; các quy định pháp luật Việt Nam về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT; thực tiễn áp dụng và các báo cáo tổng kết thi hành pháp luật; kinh nghiệm lập pháp của EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản; các công trình khoa học trong và ngoài nước. Luận án không nghiên cứu các hành vi lạm dụng quy định riêng cho doanh nghiệp độc quyền theo cách phân chia của Luật Cạnh tranh Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực trạng tại Việt Nam, có mở rộng đối chiếu so sánh với EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2004 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2020).
  • Phạm vi văn bản: Các quy định trong Luật Cạnh tranh 2004, Luật Cạnh tranh 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 3 nhóm nội dung chính:

Nhóm 1: Các nghiên cứu về lý luận kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

  • Marcel Canoy, Eric van Damme và Rey với nghiên cứu "Dominance and monopolization" (Thống lĩnh và độc quyền) phân tích sự khác biệt giữa trường phái Chicago (ủng hộ quyền tự do của doanh nghiệp thống lĩnh nhằm tối ưu hóa quy mô kinh tế) và trường phái châu Âu cũ (lo ngại doanh nghiệp thống lĩnh làm biến dạng thị trường), từ đó khẳng định Nhà nước cần can thiệp có mức độ để bảo vệ phúc lợi xã hội.
  • Công trình thuộc dự án VIE/97/016 "Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh" định nghĩa độc quyền kinh doanh dựa trên khả năng khống chế thị trường sản xuất và tiêu thụ.
  • PGS. Nguyễn Như Phát và Nguyễn Ngọc Sơn trong công trình "Phân tích và luận giải các quy định của luật cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh" chỉ ra nguồn gốc hình thành vị trí thống lĩnh/độc quyền và bản chất quyền lực thị trường.
  • Phạm Hoài Huấn và Nhữ Ngọc Tiến trong cuốn "Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh về giá" tiếp cận vị trí thống lĩnh từ sức mạnh kinh tế độc lập với đối thủ.
  • TS. Nguyễn Như Phát với bài viết "Độc quyền và xử lý độc quyền" (2004) xem xét sự can thiệp của pháp luật như bàn tay hữu hình đối trọng với nhà độc quyền nhằm chống độc quyền hóa nhưng không triệt tiêu độc quyền tự nhiên hợp pháp.
  • Laura Laze với luận án tiến sĩ "Economic and Legal aspects of the competition policy from the European Union-Abuse of Dominance Position" và Giáo sư Federico Etro với bài viết "The Economics of Competition Policy and Dominant Market Position" phân tích việc áp dụng kinh tế học vào chính sách cạnh tranh của EU, lưu ý không đồng nhất thị phần lớn với vị trí thống lĩnh nếu thị trường có tính năng động cao và điều kiện gia nhập thuận lợi.

Nhóm 2: Các nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng

  • Tác giả Nguyễn Lan Anh (2009) với bài viết "Xác định thị trường liên quan và vấn đề nhận dạng vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp theo pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam".
  • Công trình chuyên khảo quốc tế "The Law and Economics of Article 102 TFEU" phân tích toàn diện 18 phần về cơ sở lý thuyết, thị trường liên quan và các dạng hành vi lạm dụng cụ thể (định giá hủy diệt, định giá quá mức, từ chối giao kết hợp đồng, bán kèm, ép giá).
  • Eleanor Fox với các công trình "Monopolization and Dominance in the United States and the European Community - Efficiency, Opportunity, and Fairness" (1986) và "Monopolization and abuse of dominance: Why Europe is different" so sánh sự khác biệt giữa tiếp cận linh hoạt theo hiệu quả kinh tế của Hoa Kỳ và sự can thiệp cấu trúc sâu hơn của EU.
  • Phillip Areeda và Donald F. Turner xây dựng phép thử kinh tế (Areeda-Turner test) dựa trên chi phí biên và chi phí biến đổi trung bình để nhận diện hành vi định giá hủy diệt.
  • Pinar Akman (2008) với nghiên cứu "Exploitative Abuse in Article 82 EC: Back to Basics?" phân tích cấu trúc của hành vi lạm dụng mang tính trục lợi (exploitative abuse) bên cạnh lạm dụng mang tính loại trừ (exclusionary abuse).
  • Damien Geradin trong "The Necessary Limits to the Control of 'Excessive' Prices by Competition Authorities - A View from Europe" phân tích giới hạn can thiệp của cơ quan cạnh tranh đối với hành vi định giá quá mức.
  • Đoàn Trung Kiên (về nhận diện hành vi lạm dụng trong các ngành đặc thù như bưu chính, điện lực, nước sạch, đường sắt) và Nguyễn Ngọc Sơn (phân tích hành vi định giá hủy diệt theo Nghị định 116/2005/NĐ-CP của Việt Nam với hạn chế là áp dụng phương pháp cấm mặc nhiên, thiếu phân tích kinh tế).

Nhóm 3: Các nghiên cứu về xu hướng pháp luật và giải pháp hoàn thiện

  • Nguyễn Thanh Tú với nghiên cứu về pháp luật bán giá thấp nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh.
  • Pinar Akman trong cuốn sách "The Concept of Abuse in EU Competition Law: Law and Economic Approaches" đề xuất khung tiếp cận 3 điều kiện nhận diện hành vi lạm dụng: trục lợi, loại trừ và không tạo ra hiệu quả kinh tế tích cực.
  • Trần Thăng Long với luận án tiến sĩ tại Đại học La Trobe (Úc, 2011) về áp dụng luật cạnh tranh đối với doanh nghiệp độc quyền nhà nước, kiến nghị cải cách cơ quan cạnh tranh độc lập và áp dụng nguyên tắc cạnh tranh trung lập.
  • Trần Hoàng Nga với luận án tiến sĩ (2011) so sánh pháp luật chống định giá lạm dụng của EU, Hoa Kỳ và Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết: Tổng quan tài liệu cho thấy phần lớn nghiên cứu trong nước trước đây chỉ tiếp cận đơn lẻ từng hành vi lạm dụng cụ thể hoặc dừng lại ở việc giải thích câu chữ của Luật Cạnh tranh 2004 theo hướng hình thức (form-based approach). Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT đặt trong mối tương quan so sánh với Luật mẫu của UNCTAD, pháp luật EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, đồng thời đánh giá sự chuyển dịch tư duy lập pháp sang cách tiếp cận dựa trên hiệu quả kinh tế (effects-based approach) trong bối cảnh thực thi Luật Cạnh tranh 2018 tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  • Luận án dựa trên lý thuyết kinh tế thị trường cổ điển khởi xướng từ học thuyết "bàn tay vô hình" của Adam Smith (1723–1790), thừa nhận cơ chế tự điều tiết của thị trường tự do nhưng khẳng định sự cần thiết của "bàn tay hữu hình" từ Nhà nước khi xuất hiện các khuyết tật thị trường và sự lạm dụng quyền lực kinh tế từ các nhà độc quyền.
  • Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, cụ thể là Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01/11/2016 của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII và Nghị quyết số 24/2016/QH14 ngày 08/11/2016 của Quốc hội về tái cơ cấu nền kinh tế và xây dựng Đề án tổng thể về chính sách cạnh tranh quốc gia.
  • Lý thuyết về kiểm soát quyền lực kinh tế: Nhà nước sử dụng 5 công cụ điều tiết thị trường gồm chính sách thuế, kiểm soát giá cả, điều chỉnh độc quyền, quốc hữu hóa và ban hành pháp luật cạnh tranh (trong đó pháp luật cạnh tranh là công cụ mang tính hiệu quả và bền vững nhất).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý định tính kết hợp phân tích thực tiễn:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích các quy phạm pháp luật thực định trong Luật Cạnh tranh 2004, Luật Cạnh tranh 2018, các văn bản hướng dẫn và các án lệ quốc tế (như án lệ Michelin của ECJ); tổng hợp các học thuyết pháp lý và kinh tế để xây dựng hệ thống khái niệm, đặc điểm và nguyên tắc kiểm soát.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định pháp luật của Việt Nam với các hệ thống pháp luật điển hình (EU - Điều 102 TFEU, Hoa Kỳ - Điều 2 Đạo luật Sherman 1890, Nhật Bản - Luật Chống độc quyền tư nhân) và Luật mẫu về cạnh tranh của UNCTAD nhằm tìm kiếm các điểm tương đồng, dị biệt và bài học lập pháp.
  • Phương pháp nghiên cứu tình huống (Case study): Khảo sát thực tế các vụ việc hạn chế cạnh tranh đã được cơ quan quản lý cạnh tranh xử lý để minh chứng cho các hạn chế trong cơ chế thực thi.
  • Phương pháp lịch sử và phương pháp thống kê: Khảo sát quá trình biến đổi quy định pháp luật qua các thời kỳ và thống kê số liệu các vụ việc điều tra tiền tố tụng và tố tụng cạnh tranh tại Việt Nam.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản quy phạm pháp luật: Luật Cạnh tranh 2004, Luật Cạnh tranh 2018, Nghị định 116/2005/NĐ-CP; các điều ước quốc tế, văn kiện của OECD, ICN, UNCTAD, TFEU, Đạo luật Sherman.
  • Dữ liệu thực tiễn: Báo cáo tổng kết công tác điều tra, xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh của Cục Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công Thương) giai đoạn 2006–2017.
  • Hệ thống sách giáo trình, luận án tiến sĩ, bài báo khoa học chuyên ngành trong và ngoài nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Chương 1 xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh về vị trí thống lĩnh và hành vi lạm dụng:

  • Bản chất của VTTLTT: Là vị thế kinh tế mang lại cho doanh nghiệp khả năng hành động độc lập trong mối quan hệ với các đối thủ cạnh tranh, khách hàng và người tiêu dùng trên thị trường liên quan. Doanh nghiệp nắm giữ vị trí này không phải là hành vi vi phạm pháp luật mà là kết quả tất yếu của quá trình tích tụ tư bản và cạnh tranh hiệu quả.
  • Đặc điểm của hành vi lạm dụng VTTLTT:
    1. Là hành vi mang tính đơn phương của doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có sức mạnh thị trường (khác với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đòi hỏi sự thống nhất ý chí giữa nhiều chủ thể).
    2. Vi phạm "nghĩa vụ đặc thù" của doanh nghiệp thống lĩnh là không được làm phương hại đến cấu trúc cạnh tranh hiện có (nguyên tắc xác lập trong án lệ Michelin của Tòa án Công lý Liên minh Châu Âu - ECJ).
    3. Gắn liền với một thị trường liên quan cụ thể và gây ra hậu quả làm biến dạng cấu trúc thị trường, tước đoạt cơ hội cạnh tranh của đối thủ hoặc bóc lột khách hàng.
  • Khái niệm và đặc trưng kiểm soát: Kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước nhằm theo dõi, giám sát, nhận diện, ngăn ngừa và áp dụng các biện pháp chế tài đối với hành vi lạm dụng, bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp và việc bảo vệ trật tự cạnh tranh, phúc lợi xã hội.
  • Các công cụ can thiệp của Nhà nước: Luận án so sánh 5 công cụ (thuế, kiểm soát giá, điều chỉnh độc quyền, quốc hữu hóa, pháp luật cạnh tranh) và chỉ ra rằng pháp luật cạnh tranh là công cụ trọng tâm nhất.
  • Mô hình kiểm soát quốc tế:
    • EU: Tiếp cận theo Điều 102 TFEU, chú trọng cả hành vi lạm dụng loại trừ (exclusionary) và lạm dụng bóc lột/trục lợi (exploitative); chuyển dần từ phương pháp hình thức sang phương pháp dựa trên hiệu quả kinh tế (Sách Xanh 2005, Sách Trắng 2008).
    • Hoa Kỳ: Tiếp cận theo Điều 2 Đạo luật Sherman 1890, tập trung chủ yếu vào hành vi độc quyền hóa mang tính loại trừ phản cạnh tranh, áp dụng nguyên tắc xem xét tính hợp lý (Rule of Reason) và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ trường phái Chicago.
    • Nhật Bản: Quy định kiểm soát trong Luật Chống độc quyền tư nhân và Duy trì thương mại công bằng, kết hợp giữa kiểm soát hành vi và bảo đảm trật tự thương mại công bằng.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và thực tiễn thi hành tại Việt Nam

Chương 2 tập trung phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định và kết quả áp dụng trong thực tế tại Việt Nam:

  • Quy định về nhận diện doanh nghiệp có VTTLTT: Luật Cạnh tranh 2004 xác định vị trí thống lĩnh chủ yếu dựa trên ngưỡng thị phần cứng nhắc (doanh nghiệp có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc nhóm doanh nghiệp có thị phần từ 50%, 65%, 75%). Cách tiếp cận này bộc lộ sự cơ học, không phản ánh chính xác sức mạnh thị trường thực tế khi thiếu vắng các tiêu chí đánh giá rào cản gia nhập thị trường, năng lực tài chính, quyền tiếp cận hạ tầng thiết yếu. Luật Cạnh tranh 2018 đã có bước chuyển biến khi bổ sung tiêu chí "sức mạnh thị trường đáng kể".
  • Quy định về xác định hành vi lạm dụng: Pháp luật Việt Nam sử dụng phương pháp liệt kê đóng các hành vi bị cấm (như bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ; áp đặt giá mua, giá bán bất hợp lý; bán kèm; áp đặt điều kiện bất bình đẳng; ngăn cản đối thủ gia nhập thị trường). Quy định về định giá hủy diệt trong Nghị định 116/2005/NĐ-CP cứng nhắc khi so sánh giá bán với tổng chi phí mà không phân tích chi phí biến đổi hay tính toán khả năng bù đắp chi phí sau khi loại bỏ đối thủ.
  • Thực tiễn áp dụng và xử lý vụ việc: Thực tiễn thi hành cho thấy số lượng vụ việc được phát hiện, điều tra và xử lý rất hạn chế.
Giai đoạn Cơ quan thực thi Tổng số vụ việc HCCT điều tra Số vụ việc lạm dụng VTTLTT
2006 – 2017 Cục Quản lý Cạnh tranh (CQLCT) 8 vụ việc 4 vụ việc
  • Nguyên nhân của các bất cập, hạn chế:
    1. Nguyên nhân từ quy định pháp luật: Áp dụng phương pháp cấm mặc nhiên (per se rule) dựa trên dấu hiệu hình thức; thiếu hướng dẫn kỹ thuật phân tích kinh tế (effects-based approach); chưa phân định rõ giữa lạm dụng loại trừ và lạm dụng bóc lột.
    2. Nguyên nhân từ cơ chế thực thi và năng lực cơ quan cạnh tranh: Cơ quan quản lý cạnh tranh thiếu tính độc lập cần thiết trong cơ cấu tổ chức; thẩm quyền điều tra, thu thập chứng cứ còn hạn chế; thiếu chuyên gia kinh tế chuyên sâu về kinh tế học cạnh tranh.
    3. Nguyên nhân từ môi trường thị trường: Sự tồn tại của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước nắm giữ vị thế độc quyền hoặc thống lĩnh trong các lĩnh vực kết cấu hạ tầng then chốt (điện lực, viễn thông, hàng không, đường sắt) tạo ra sự xung đột giữa chính sách điều tiết ngành và pháp luật cạnh tranh.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường ở Việt Nam

Chương 3 đề xuất định hướng và các giải pháp lập pháp, thực thi cụ thể:

  • Bốn phương hướng hoàn thiện:
    1. Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, thích ứng với môi trường kinh doanh toàn cầu và các cam kết trong hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
    2. Duy trì môi trường cạnh tranh bình đẳng, hiệu quả nhưng bảo đảm không cản trở quyền tự do kinh doanh, động lực đổi mới và tăng trưởng quy mô của doanh nghiệp.
    3. Thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa tư duy pháp lý và tư duy phân tích kinh tế trong nhận diện và xử lý hành vi.
    4. Xác định rõ ranh giới và cơ chế phối hợp giữa Luật Cạnh tranh và các Luật chuyên ngành, bảo đảm chính sách điều tiết ngành không vô hiệu hóa pháp luật cạnh tranh.
  • Sáu nhóm giải pháp cụ thể:
    1. Hiện đại hóa phương pháp tiếp cận: Chuyển đổi từ cách tiếp cận dựa trên hình thức (form-based) sang cách tiếp cận dựa trên đánh giá hiệu quả tác động thực tế hoặc tiềm tàng (effects-based approach).
    2. Hoàn thiện quy định về xác định thị trường liên quan: Chuẩn hóa phương pháp xác định ranh giới thị trường sản phẩm và thị trường địa lý, hoàn thiện việc áp dụng phép thử độc quyền giả định SSNIP (Small but Significant and Non-Transitory Increase in Price) phù hợp với đặc thù thị trường số và thị trường phi truyền thống.
    3. Hoàn thiện quy định xác định VTTLTT: Kết hợp linh hoạt giữa tiêu chí thị phần định lượng và các tiêu chí định tính về sức mạnh thị trường đáng kể (rào cản gia nhập thị trường, năng lực tài chính, mạng lưới phân phối, quyền sở hữu công nghệ và dữ liệu).
    4. Hoàn thiện quy định về nhận diện hành vi lạm dụng: Bổ sung khung quy phạm mang tính tổng quát thay vì chỉ liệt kê khép kín; phân loại rõ ràng giữa nhóm hành vi lạm dụng loại trừ đối thủ và hành vi lạm dụng bóc lột khách hàng; xây dựng tiêu chuẩn kinh tế rõ ràng cho các hành vi phức tạp như định giá hủy diệt, ép giá (margin squeeze), từ chối giao dịch và bán kèm.
    5. Hoàn thiện các biện pháp xử lý: Đa dạng hóa chế tài xử lý bao gồm phạt tiền theo tỷ lệ phần trăm doanh thu, biện pháp khắc phục cơ cấu (chia tách doanh nghiệp, buộc nhượng quyền truy cập cơ sở hạ tầng) và bồi thường thiệt hại dân sự cho bên bị xâm phạm.
    6. Hoàn thiện cơ chế thực thi: Củng cố vị thế pháp lý độc lập của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia; hoàn thiện trình tự, thủ tục tố tụng cạnh tranh minh bạch; tăng cường quyền hạn điều tra và công khai hóa các phán quyết cạnh tranh.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn

  • Về mặt lý luận: Luận án đã hệ thống hóa, bổ sung và làm rõ nội hàm khái niệm kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT dưới góc độ điều tiết công; xác lập cấu trúc nội dung điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với hành vi đơn phương; luận giải bản chất của "nghĩa vụ đặc thù" không làm suy giảm cạnh tranh của doanh nghiệp thống lĩnh.
  • Về mặt thực tiễn và so sánh: Luận án đã cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng áp dụng Luật Cạnh tranh 2004 và bối cảnh chuyển giao sang Luật Cạnh tranh 2018 tại Việt Nam; phân tích dữ liệu thực tiễn 8 vụ việc hạn chế cạnh tranh do CQLCT xử lý; chỉ ra mức độ tương thích và khoảng cách giữa pháp luật Việt Nam với Luật mẫu UNCTAD và kinh nghiệm lập pháp của EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản.
  • Về mặt lập pháp: Luận án đề xuất luận cứ khoa học về sự cần thiết phải chuyển dịch mô hình đánh giá hành vi từ "cấm mặc nhiên theo hình thức" sang "đánh giá tác động theo kinh tế học", làm cơ sở lý luận cho việc xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh 2018.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Ban hành nghị định hướng dẫn chi tiết các tiêu chí xác định sức mạnh thị trường đáng kể ngoài thị phần.
  • Đổi mới phương pháp xác định hành vi định giá hủy diệt bằng việc áp dụng các chỉ số chi phí biến đổi trung bình thay vì tổng chi phí toàn bộ.
  • Thiết lập quy chế phối hợp bằng văn bản giữa cơ quan cạnh tranh quốc gia và các cơ quan quản lý ngành chuyên biệt (như Cục Viễn thông, Cục Điều tiết Điện lực) để giải quyết xung đột thẩm quyền.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu, không đi sâu vào các hành vi lạm dụng quy định riêng cho doanh nghiệp có vị trí độc quyền hoàn toàn theo cấu trúc phân chia riêng của Luật Cạnh tranh Việt Nam.
    • Tại thời điểm hoàn thành luận án (năm 2020), Luật Cạnh tranh 2018 mới có hiệu lực và chưa có thực tiễn xét xử, điều tra các vụ việc lạm dụng VTTLTT theo luật mới, do đó các phân tích thực tiễn chủ yếu dựa trên số liệu của giai đoạn Luật Cạnh tranh 2004 (2006–2017).
    • Phạm vi kiểm soát tập trung vào hoạt động điều tiết của Nhà nước, chưa phân tích sâu khía cạnh tự kiểm soát nội bộ hoặc khiếu kiện dân sự tư nhân của người tiêu dùng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về sức mạnh thị trường đáng kể sau khi Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đi vào vận hành chính thức.
    • Mở rộng nghiên cứu cơ chế kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT trong các lĩnh vực kinh tế số, nền tảng thương mại điện tử đa chiều và dịch vụ dữ liệu lớn.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nhà lập pháp và cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học để soạn thảo các nghị định, thông tư hướng dẫn Luật Cạnh tranh 2018; hỗ trợ việc xây dựng "Đề án tổng thể về chính sách cạnh tranh quốc gia" theo định hướng của Đảng và Quốc hội.
  • Đối với cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh: Tài liệu tham khảo hữu ích cho các điều tra viên cạnh tranh, thẩm phán trong việc áp dụng các công cụ kinh tế (như phép thử SSNIP, kiểm tra cấu trúc chi phí) để nhận diện hành vi lạm dụng.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Luật Kinh tế: Làm tài liệu tham khảo chuyên sâu phục vụ giảng dạy và nghiên cứu các học phần Pháp luật Cạnh tranh, Pháp luật Thương mại quốc tế và Kinh tế học pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường với các hành vi hạn chế cạnh tranh khác ở điểm nào? Hành vi lạm dụng VTTLTT là hành vi mang tính chất đơn phương của một doanh nghiệp (hoặc từng doanh nghiệp riêng lẻ trong nhóm doanh nghiệp thống lĩnh) nhằm khai thác sức mạnh thị trường độc lập. Điểm này phân biệt căn bản với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (luôn đòi hỏi sự thống nhất ý chí, phối hợp hành động giữa từ hai doanh nghiệp trở lên) và tập trung kinh tế.

2. Giai đoạn 2006–2017, cơ quan quản lý cạnh tranh Việt Nam đã thụ lý bao nhiêu vụ việc về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường? Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý Cạnh tranh được luận án tổng hợp, trong giai đoạn 2006–2017, cơ quan này chỉ thụ lý điều tra 8 vụ việc về hạn chế cạnh tranh, trong đó có 4 vụ việc liên quan trực tiếp đến hành vi lạm dụng VTTLTT.

3. Án lệ Michelin của Tòa án Công lý Liên minh Châu Âu (ECJ) được luận án sử dụng nhằm khẳng định luận điểm gì? Luận án dẫn chiếu án lệ Michelin của ECJ để khẳng định nguyên lý pháp lý: Doanh nghiệp nắm giữ vị trí thống lĩnh không phải là sự vi phạm pháp luật, nhưng doanh nghiệp đó có "nghĩa vụ đặc thù" không được cho phép hành vi của mình làm giảm sút hoặc suy yếu mức độ cạnh tranh hiện có trên thị trường.

4. Điểm bất cập lớn nhất trong cách tiếp cận của Luật Cạnh tranh 2004 về xác định hành vi định giá hủy diệt là gì? Quy định theo Luật Cạnh tranh 2004 và Nghị định 116/2005/NĐ-CP mang tính hình thức và cấm mặc nhiên: cơ quan điều tra chỉ so sánh giá bán thực tế với chi phí toàn bộ để kết luận vi phạm nếu có lỗ, mà không áp dụng các công cụ kinh tế học (như chi phí biến đổi trung bình) và chưa phân tích năng lực bù đắp thiệt hại, bóc lột khách hàng sau khi loại bỏ đối thủ.

5. Luận án đề xuất chuyển đổi phương pháp tiếp cận trong kiểm soát hành vi lạm dụng VTTLTT như thế nào? Luận án kiến nghị chuyển đổi từ phương pháp tiếp cận dựa trên hình thức và cấm mặc nhiên (form-based / per se rule) sang phương pháp tiếp cận dựa trên phân tích kinh tế và đánh giá hiệu quả tác động thực tế hoặc tiềm tàng của hành vi (effects-based / economic approach).


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Trần Thùy Linh là công trình nghiên cứu chuyên khảo toàn diện về pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường tại Việt Nam. Tác giả đã làm sáng tỏ nền tảng lý luận về quyền lực thị trường và sự can thiệp của Nhà nước, đối chiếu kinh nghiệm quốc tế từ EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản. Công trình đánh giá chi tiết thực trạng quy định và những hạn chế trong thực tiễn áp dụng của Luật Cạnh tranh 2004, từ đó xác lập phương hướng và hệ thống giải pháp hoàn thiện các quy định, cơ chế thực thi cho giai đoạn thi hành Luật Cạnh tranh 2018.