chương I, tac gia dé cap đến những vấn đề lý luận chung nhất liên quan đến hoạt động thanh toán quốc tế như khái niệm, các hoạt động, các phương. thức thực hiện của TTỌT. Từ đó đi vào khái niệm, các chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng thanh toán quốc tế. Tác giả tập trung vào các chỉ tiêu đánh giá như: Số lượng khách hàng thanh toán quốc tế; Doanh số thanh toán quốc tế; Doanh thu thanh toán quốc tế.
Và đi sâu làm rõ ba nhân tố chính ảnh hưởng, gồm: mạng lưới ngân hàng đại lý, nguồn nhân lực và marketing. Đây là cơ sở đề tác giả phân tích thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chỉ nhánh Phú Thọ II thông qua phân tích số liệu tài chính của Chỉ nhánh và điều tra khảo sát từ phía khách hàng. Qua việc tông hợp và phân tích một số lý luận chung được đề cập đến khi nghiên cứu về mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM tác giả có thê rút ra như sau: Thứ nhất, thanh toán quốc tế được bắt nguồn từ hoạt động ngoại thương, và sự xuất hiện của thanh toán quốc tế với mục đích chính là để phục vụ và hỗ trợ tốt hơn cho hoạt động XNK giữa các quốc gia được tiền hàng một cách thuận lợi nhất. Va với lợi thế thanh toán quốc tế được thực hiện qua hệ thống NH nên khi nhắc đến thanh toán quốc tế là người ta nghĩ ngay đến hoạt động thanh toán của NHTM.
Thứ hai, hoạt độngthanh toán quốc tế của NHTM là sự gia tăng quy mô thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng và dịch vụ phi mậu dịch giữa các tổ chức kinh tế quốc tế, giữa các doanh nghiệp, các cá nhân của các quốc gia khác nhau đề kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng các hình thức chuyển tiền hay bù trù trên các tài khoản được mở tại các ngân hàng. Thứ ba, đánh giá kết quả mở rộng hoạt độngthanh toán quốc tế của NHTM iii qua các chỉ tiêu như: số lượng khách hàng, doanh số, doanh thu. Thứ tư, việc mở rộng hoạt độngthanh toán quốc tế chịu tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó tác giả tập trung làm rõ ba yếu tố chính thuộc về NHTM là: mạng lưới ngân hàng đại lý, nguồn nhân lực và hoạt động Marketing. Trên cơ sở này, nội dung chương 2 sẽ nghiên cứu và đề cập đến thực trạng.
mở rộng hoạt độngthanh toán quốc tế tại Agribank chỉ nhánh Phú Thọ II trong giai đoạn 2016-2018. Trước tiên tác giả giới thiệu khái quát về Ngân hàng Nông nghiệp. và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Phú Thọ II qua quá trình hình thành và phát triển. Agribank Phú Thọ II được thành lập ngày 1/7/2018 được tách ra từ Agribank chỉ nhánh tỉnh Phú Thọ, trụ sở chính tại 1674 đường Hùng Vương, phường Gia Cảm, thành phó Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
'Về mạng lưới hoạt động: Gồm Hội sở Agribank Chỉ nhánh Phú Thọ II và 2 phòng giao dịch trực thuộc hội sở, 5 chỉ nhánh loại II trực thuộc Hội sở (chỉ nhánh thị xã Phú Thọ, chỉ nhánh Hạ Hòa, chỉ nhánh Phù Ninh, chỉ nhánh Đoan Hùng và chỉ nhánh Thanh Ba), 16 phòng giao dịch trực thuộc các chỉ nhánh loại IL Về cơ cấu tô chức tại Chỉ nhánh gồm: Ban giám đốc có 1 giám đốc và 3 phó giám đốc. 7 phòng nghiệp vụ tại Chỉ nhánh gồm: Phòng kế toán ngân quỹ, phòng kế hoạch kinh doanh, phòng dịch vụ và marketing, phòng tổng hợp, phòng kiểm tra kiểm soát nội bộ, phòng điện toán và phòng kế hoạch nguồn vốn. Về kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chỉ nhánh Phú Thọ II giai đoạn 2016-2018.Mặc dù mới được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 01-07-2018 trên cơ sở chia tách từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt nam - Chỉ nhánh tỉnh Phú Thọ, Agribank Chỉ Nhánh Phú Thọ II đã bám sát sự chỉ đạo của cấp trên, điều hành hoạt động kinh doanh linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế trên địa bàn; tiếp tục đưa ra nhiều giải pháp nhằm đưa các gói sản phẩm, dịch vụ đến gần hơn với khách hàng, trong đó đặc biệt chú trọng đến nhóm khách hàng cá nhân, gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Năm 2018, iv tổng nguồn vốn huy động của Agribank Phú Thọ II đạt 6.749 tỷ đồng, tăng gần 1.000 tỷ đồng so với đầu năm.
Thị phần của Agribank Phú Thọ II chiếm 14,1%, tăng 2% so đầu năm.Cùng với làm tốt công tác huy động vốn, công tác giải ngân, cung ứng vốn cho nền kinh tế cũng đạt nhiều kết quả khả quan. Chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung cấp đến khách hàng cũng từng bước được cải thiện phù hợp với thị hiểu của khách hàng. Nội dung quan trọng trong chương 2 là phân tích và đánh giá thực trạng mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông, thôn Việt Nam - Chỉ nhánh Phú Thọ I. Là một NHTM uy tín trên địa bàn, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam — Chỉ nhánh Phú Thọ II đã thu hút được một lượng khách hàng truyền thống và có được một vị thế nhất định trong lĩnh vực TTỌT.
Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, với mạng lưới Ngân hang dai lý còn hạn chế, hoạt động Marketing chưa thực sự được chú trọng, chất lượng nguồn nhân lực trong hoạt động TTQT chưa cao đã khiến cho việc mở rộng hoạt động TTQT tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam — Chi nhánh Phú Thọ II gặp không ít khó khăn, thị phần ngày cảng bi suy giảm. Bên cạnh kết quả đạt được hoạt động TTQT tại chỉ nhánh tương đối đa dạng, phát sinh nhiều nghiệp vụ TTQT cơ bản như chuyển tiền đi, chuyển tiền đến, nhờ thu xuất nhập khâu, thanh toán L/C xuất nhập khẩu. Các dịch vụ thanh toán quốc tế ngày càng đa dạng Một yếu tố góp phần mở rộng quy mô thanh toán quốc tế là do. chỉ nhánh đã thực hiện tương đối đầy đủ các dịch vụ thanh toán quốc tế truyền thống như chuyên tiền, thanh toán L/C xuất nhập khẩu, nhờ thu xuất nhập khẩu, đáp ứng tốt nhu cầu thanh toán quốc tế của khách hàng trên địa bàn.
Để đạt được kết quả trên là sự cố gắng nỗ lực của Ban lãnh đạo cùng tập thể cán bộ Chỉ nhánh bằng những hành động cụ thê như căn cứ Số tay chất lượng, quy trình thanh toán quốc tế, tập quán, thông lệ quốc tế, Chỉ nhánh đưa ra mục tiêu chất lượng TTỌT là thời gian thực hiện các nghiệp vụ, được công khai đến khách hàng. Phòng Thanh toán quốc tế và dịch vụ NH thực hiện đúng theo Quy định về thời gian thực hiện các nghiệp vụ nêu trên sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ từ khách hàng và các chứng từ cần thiết từ các phòng nghiệp vụ liên quan. Bên cạnh những kết quả khiêm tốn đã đạt được như trên thì Chi nhánh còn gặp phải rất nhiều những tồn tại, hạn chế. Đó là sự sụt giảm về số lượng khách hàng, doanh số, doanh thu TTQT.
Cụ thể như sau: Từ năm 2016 đến năm 2018, số lượng khách hàng sử dụng TTQT có xu hướng giảm qua các năm.Mặc dù số lượng doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập. khẩu trên địa bản tỉnh Phú Thọ tăng lên qua các năm nhưng số lượng khách hang thanh toán quốc tế tại Agribank Chi nhánh Phú Thọ II lại giảm đi. Điều này cho thấy sự cạnh tranh khốc liệt trên địa bàn nhằm giành thị phần về phía mỗi NHTM, đồng thời cũng cho thấy sự suy giảm của hoạt động thanh toán quốc tế tại Agribank Chỉ nhánh Phú Thọ II Trong 3 năm, từ 2016 đến 2018, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, kết quả của hoạt động TTQT của Agribank Chỉ nhánh Phú Thọ II không đạt như mong đợi và bị suy giảm qua các năm. Ngoài ảnh hưởng của kinh tế toàn cầu, khiến tỷ giá USD/VND tăng giảm bắt thường, lãi suất không ồn định, thì việc mua.
bán ngoại tệ còn vấp phải những khó khăn từ bản thân hệ thống Agribank nói chung. và Agribank Chỉ nhánh Phú Thọ II nói riêng. Cụ thể, công tác thu hút khách hàng còn chưa chú trọng, chưa có chính sách ưu đãi đồng bộ về phí dịch vụ, lãi vay dẫn đến nhiều khách hàng chuyển dần sang hoạt động tại các NHTM khác, khiến doanh số mua bán ngoại tệ giảm dần, đặc biệt năm 2018 giảm mạnh so với năm 2017 do Chỉ nhánh để mắt 2 khách hàng lớn vào tay Vietcombank, đồng thời tháng 7/2018, do có sự chia tách Chỉ nhánh gây những xáo trộn trong hoạt động kinh doanh nói chung và TTỌT nói riêng. Đây cũng là nguyên nhân làm suy giảm hoạt động thanh toán quốc tế từ đó ảnh hưởng tới doanh số mua bán ngoại tệ.
Từ năm 2016 đến năm 2018, thanh toán bằng phương thức chuyền tiền và phương thức L/C tại Agribank Chỉ nhánh Phú Thọ II giảm mạnh. Nguyên nhân là do một số khách hàng đã chuyển sang hoạt động tại Vietcombank, Viettinbank, một số khách hàng đã mở rộng được thị trường trong nước nên hạn chế xuất nhập khẩu. vi Doanh thu thanh toán quốc tế của Chi nhánh có xu hướng giảm. Nguyên nhân là do giai đoạn 2016 - 2018, hoạt động TTỌT chịu tác động mạnh của biến động kinh tế toàn cầu.
Đây là xu thế chung của cả hệ thống Agribank cũng như của hệ thống NHTM ở Việt Nam. Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng đã làm giảm uy tín, xếp hạng tín nhiệm của nhiều tổ chức tài chính lớn trên thế giới. Điều này ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng Việt Nam nói chung và của Agribank nói riêng. Cac sin phẩm dịch vụ TTQT tại chỉ nhánh chưa đa dạng, chủ yếu vẫn là các sản phẩm truyền thống, áp dụng chung cho mọi đối tượng khách hàng, các loại sản phẩm thiết kế riêng theo nhu cầu khách hàng hầu như chưa được áp dụng.
Chỉ nhánh mới phát triển tốt các sản phẩm dịch vụ truyền thống như thư tín dụng, nhờ thu kèm chứng từ, chuyển tiền, còn các sản phẩm thanh toán quốc tế mới như thanh. toán thẻ tín dụng quốc tế, đại lý séc du lịch phát triển chậm và chưa phổ biến rộng.