Chương 1: Giới thiệu về lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa của việc nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu. Chương 2 : Tổng quan về ngành xây dựng của Việt Nam. Chương 3: Trình bày cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu, gồm các mục như: các khái niệm, các nghiên cứu trước có liên quan ở một số quốc gia trên thế giới và mô hình áp dụng ở Việt Nam. Chương 4: Trình bày phương pháp nghiên cứu bao gồm: thiết kế nghiên cứu, nền tảng đánh giá thang đo, quy trình nghiên cứu, mẫu và thang đo dự kiến.
Chương 5: Trình bày kết quả nghiên cứu bằng việc sử dụng phương pháp phân tích cluster thông qua phần mềm SPSS. Chương 6: Kiến nghị, kết luận, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2 : TỔNG QUAN NGÀNH XÂY DỰNG 2. GIỚI THIỆU CHUNG Trên thế giới, ngành Xây dựng luôn được coi là ngành kinh tế quan trọng, là bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế quốc dân.
Ở nhiều nước trên thế giới, trong bảng xếp loại các ngành tạo nguồn thu chủ yếu và sử dụng nhiều lao động của nền kinh tế, ta luôn thấy có tên ngành Xây dựng. Ở VN cũng vậy, khi tổng kết bức tranh kinh tế toàn cảnh người ta thường chú ý tới 3 chỉ số: Việc sử dụng đất đai, việc sử dụng lao động và sản lượng. Những số liệu thống kê chính thức trong nhiều năm đã cho phép chúng ta hình dung ra những nét cơ bản nhất của ngành Công nghiệp - xây dựng. Trong những năm trước đây, ngoại trừ những giai đoạn khủng hoảng kinh tế thì ngành công nghiệp xây dựng chiếm tỷ trọng khá lớn trong GDP của cả nước.1 Tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm từ 2006 đến nay Hình 2.2 : Cơ cấu GDP theo nhóm ngành Như vậy, trong mối quan hệ nội tại ở nền kinh tế, ngành Xây dựng đang ngày càng mở rộng vị thế của mình so với các ngành khác trên cơ sở ngày càng phát triển tỷ trọng đóng góp của ngành vào thu nhập quốc dân, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động.
Tiến trình hội nhập thị trường thế giới sẽ bước vào giai đoạn thử lửa đặc biệt. Việc mở cửa thị trường xây dựng, cắt giảm bảo hộ, sự cạnh tranh từ các tập đoàn đa quốc gia với nguồn vốn dồi dào, công nghệ tiên tiến và công nhân có trình độ kỹ thuật cao… 2. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGÀNH 2. Nhân tố xã hội Nguồn nhân lực của ngành xây dựng là một vấn đề hiện nay vì hiện đang thiếu lao động ngành, tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” đang xảy ra.
Thuận lợi đối với nguồn nhân lực cho ngành xây dựng là một ngành đang được đánh giá là hấp dẫn, có thể sử dụng và thu hút nhiều nhân lực từ trình độ phổ thông đến kỹ sư, thạc sĩ… 7 Bên cạnh những thuận lợi, nguồn nhân lực xây dựng cũng đang có nhiều khó khăn: Một là, đa số lực lượng lao động trong ngành xây dựng đến từ nông thôn, nên nhiều lao động chưa qua đào tạo bài bản, thậm chí chưa qua đào tạo, sức khỏe không đồng đều, ý thức chấp hành kỷ luật chưa cao, thiếu chu đáo cẩn thận, dễ bằng lòng với kết quả đạt được và cũng dễ bị sa ngã vào những tiêu cực, tệ nạn xã hội vốn đồng hành với nhiều công trường. Hai là, chế độ tiền lương chưa hợp lý. Tuy tiền lương đã áp dụng cơ chế thị trường nhưng nếu so sánh thu nhập bình quân hàng tháng của lao động trong khu vực với các ngành nghề khai thác mỏ và điện thì tiền lương của công nhân xây dựng chỉ bằng 2/3 hoặc 1/2, nên chưa có sức hút mạnh đối với người lao động, nhất là cán bộ kỹ thuật giỏi, công nhân có tay nghề cao. Ba là, công tác đào tạo nguồn nhân lực ban đầu cũng như đào tạo liên tục không theo kịp yêu cầu của thị trường và các tiến bộ khoa học kỹ thuật xây dựng.
Các hoạt động đào tạo và dạy nghề hiện nay chưa phối hợp và gắn bó mật thiết với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ, chưa hội nhập nhiều với quốc tế, chưa liên kết các cơ sở thành mạng lưới đào tạo và dạy nghề gắn với thị trường xây dựng. Ngoài ra, điều kiện làm việc, sinh hoạt cũng là một trong những trở ngại đối với lao động làm theo công trình. Như nhà ở chỉ được dựng tạm với ít tôn và cây. Môi trường ẩm thấp cùng với suốt ngày làm dưới trời nắng nên dễ dàng sinh bệnh tật.
Do đó, để bền vững với nghề này đòi hỏi mỗi người phải có sức khỏe thật tốt, kiên trì với cái khó. Làm việc trong điều kiện mưa nắng, vất vả, nặng nhọc, không phải người lao động nào cũng muốn gắn bó với nghề xây dựng. Nhu cầu nhà ở ngày càng cao kèm theo sự phát triển của xã hội, đòi hỏi nhiều hơn nữa những công trình đồ sộ với kết cấu vững chắc và ngày càng hoàn thiện. Ngành xây dựng cần phải tìm tòi cái mới, áp dụng khoa học công nghệ, các sáng chế khoa học để chất lượng công trình ngày càng phát triển và hoàn hảo.
Nhân tố kinh tế Các nguyên vật liệu, tư liệu sản xuất của ngành xây dựng là những sản phẩm chịu ảnh hưởng rất lớn bởi biến động của thị trường thế giới do biến động về giá, về tỉ 8 giá và lạm phát. Vì thế cần có sự kiểm soát, hỗ trợ của Chính phủ để giúp ngành tránh những cú sốc bất ngờ. Nhân tố công nghệ Việt Nam ta đang trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa, vì vậy vấn đề phát triển và áp dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật luôn mang đến những thành công nhất định. Có khoa học công nghệ mới chúng ta sẽ bắt kịp với tốc độ tăng trưởng của thế giới về kinh tế nói chung và xây dựng nói riêng.
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA NGÀNH Cũng như trên đã đề cập thì hiện nay các ngành xây dựng của chúng ta phát triển khá mạnh mẽ, về nhân sự cũng như vốn đầu tư, trình độ của các công ty, chính vì điều này mà họ đã cho ra được các công trình thế kỷ, Việt Nam ngày càng có nhiều các kỹ sư giỏi đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên bên cạnh những mặt mạnh như vậy thì ngành xây dựng của Việt còn gặp phải một số các khó khăn cơ bản sau: + Thứ nhất nguồn nhân lực của chúng ta có thể nói là đầy đủ nhưng hầu hết là những lao động phổ thông chưa được đào tạo về xây dựng chưa có trình độ chuyên môn nên hàng năm tai nạn nghề nghiệp trong lĩnh vực xây dựng chiếm tỷ trọng rất lớn cũng như năng xuất lao động chưa cao. + Thứ hai cơ sở vật chất kỹ thuật, nguyên vật liệu trong nước phục vụ cho ngành chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, do đó phần lớn phải nhập khẩu từ nước ngoài. + Khi nước ta mở cửa hội nhập thì ngày càng có nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, những doanh nghiệp này có cơ sở vật chất hiện đại, quy trình sản xuất tiên tiến, nguồn nhân lực được đào tạo chuyên sâu, có kỹ năng tay nghề nên đã khiến cho các tập đoàn xây dựng trong nước gặp nhiều khó khăn khi cạnh tranh.
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH TRONG NĂM 2014 Ngành Xây dựng bước vào thực hiện hiện nhiệm vụ năm 2014 trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới tiếp tục đà phục hồi nhưng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro; tình hình kinh tế - xã hội trong nước thuận lợi hơn nhưng vẫn còn nhiều khó khăn thách thức, đặc biệt sự kiện Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, đã gây nên những tác động tiêu cực đến nền kinh tế nói chung, đến ngành Xây dựng nói riêng. Trong bối cảnh đó, ngay từ đầu năm 2014, Bộ Xây dựng đã ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách năm 2014; nghiêm túc triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp của Chính phủ liên quan đến các lĩnh vực của ngành xây dựng. Trong đó, đã tập trung cao độ hoàn thiện thống thể chế quản lý nhà nước theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch xây dựng; đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường quản lý đầu tư xây dựng, kiểm soát phát triển đô thị theo quy hoạch và kế hoạch; tiếp tục hoàn thiện đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản gắn với thực hiện chiến lược phát triển nhà ở quốc gia, đặc biệt là nhà ở xã hội; đẩy mạnh cổ phần hóa, tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước… Bộ cũng đã ban hành nhiều chương trình, kế hoạch công tác quan trọng như: chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và các đề án năm 2014; Chương trình kiểm soát thủ tục hành chính; chương trình hành động của Bộ Xây dựng thực hiện Nghị quyết Số 19/NQ-Cp ngày 18/3/2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc gia. Kết quả cụ thể, giá trị sản phẩm ngành Xây dựng 6 tháng đầu năm ước đạt 352.700 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm 2013; Tỷ lệ đô thị hóa cả nước đạt khoảng 10 33,9%; Tỷ lệ dân đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung đạt 79%; Tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải tại đô thị đạt 84%.
Tỷ lệ phủ kín quy hoạch chung xây dựng đô thị đạt 100%, quy hoạch phân khu/quy hoạch chi tiết 1/2000 đạt khoảng trên 70%, quy hoạch chi tiết đạt khoảng trên 30%, tỷ lệ xã hoàn thành lập quy hoạch chung đạt trên 94,05%. Diện tích bình quân nhà ở toàn quốc đạt khoảng 19,9m2 sàn/người (tăng 0,3m2 sàn/người so với tháng 12/2013), toàn quốc hiện có khoảng 1,3 triệu m2 nhà ở xã hội (tăng 0,3 triệu m2 so với tháng 12/2013). Tổng sản lượng xi măng tiêu thụ đạt khoảng 32,2 triệu tấn (bằng 114% so với cùng kỳ năm 2013), đạt 52% kế hoạch năm 2014. Trong đó, tiêu thụ nội địa đạt 24,6 triệu tấn (bằng 108% so với cùng kỳ năm 2013), xuất khẩu đạt 7,6 triệu tấn (bằng 135% so với cùng kỳ năm 2013), (Nguồn : http://www.