CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG TRONG DOANG NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm điều kiện lao động Theo Bộ y tế viện sức khỏe nghề ngiệp và môi trường: “Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh tế, xã hội, tự nhiên, môi trường và văn hoá xung quanh con người nơi làm việc. Điều kiện lao động thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, năng lực của người lao động và sự tác động qua lại giữa các yếu tố trên tạo nên điều kiện làm việc của con người trong quá trình lao động sản xuất.
Các quá trình lao động khác nhau sẽ tạo nên môi trường lao động rất khác nhau, và do đó mức độ tác động của chúng đến người lao động cũng sẽ khác nhau. Tuy nhiên, cùng một quá trình lao động như nhau, nhưng do được tổ chức hợp lý và tuân thủ các tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, vệ sinh xây dựng, các tiêu chuẩn tổ chức nơi làm việc, hoặc thực hiện các giải pháp cải thiện. nên những tác động có hại của các yếu tố trên tới sức khoẻ của người lao động có thể hạn chế được rất nhiều”. Khái niệm ĐKLĐ tại nơi làm việc đã được nói đến nhiều trong các công trình khoa học.
Theo PGS – TS Đỗ Minh Cương – “Điều kiện lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam” NXBCTQG – 1996, trang 8: “ĐKLĐ tại nơi làm việc là tập hợp các yếu tố của môi trường lao động (các yếu tố vệ sinh, tâm sinh lý, tâm lý xã hội và thẩm mỹ) có tác động lên trạng thái, chức năng của cơ thể con người, khả năng làm việc, thái độ lao động, sức khỏe, quá trình tái sản xuất lao động và hiệu quả của họ trong hiện tại cũng như về lâu dài”. ĐKLĐ chịu sự tác động của các nhân tố như các nhân tố tự nhiên – thiên nhiên, kể cả các nhân tố địa lý và địa chất, các nhân tố kỹ thuật và tổ chức trong đó các phương tiện, đối tượng và sản phẩm của lao động, các quá trình công nghệ, tổ chức SVTH: Phan Thị Trang – K49D QTKD 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Hoàng Trọng Hùng sản xuất, tổ chức lao động và quản lý, các nhân tố tâm ly – xã hội, kinh tế - chính trị, các quy phạm pháp luật. Khái niệm cải thiện điều kiện lao động Cải thiện điều kiện lao động là làm thế nào để đưa các yếu tố của điều kiện lao động vào trạng thái tốt nhất, tối ưu nhất để chúng không gây ảnh hưởng xấu đến người lao động và môi trường xung quanh. Ngược lại, chúng còn có tác động thúc đẩy củng cố sức khoẻ, nâng cao khả năng làm việc của người lao động.
Cải thiện các điều kiện lao động có một ý nghĩa rất quan trọng trong tổ chức lao động khoa học. Điều kiện lao động thuận lợi sẽ tạo tiền đề cho việc thực hiện có hiệu quả các quá trình lao động. Cải thiện điều kiện lao động còn nâng cao hứng thú trong lao động; tạo điều kiện cho việc giáo dục tinh thần lao động cộng sản chủ nghĩa cho con người. Cải thiện ĐKLĐ là một nhân tố quan trọng để nâng cao năng suất lao động và bảo vệ sức khoẻ cho người lao động.
Môi trường lao động Môi trường lao động là tổng thể các yếu tố bao quanh một sinh thể hay quần thể sinh vật tác động lên cuộc sống. Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên (đất đai, khí hậu), hệ sinh vật, động thực vật, cùng các yếu tố kinh tế xã hội (các hoạt động sản xuất, các quan hệ, phong tục tập quán, văn hóa… ) hay theo quy định nghĩa vụ của Luật Bảo vệ môi trường thì môi trường bao gồm: “các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất, xã hội nhằm tạo ra quan hệ mật thiết với nhau bao quanh con người, có ảnh hưởng đến sản xuất sự tồn tại và phát triển của con người tự nhiên”. Sự cần thiết cải thiện điều kiện lao động trong doanh nghiệp Như chúng ta đã biết, ĐKLĐ có ảnh hưởng rất lớn đến người lao động. Được làm việc trong điều kiện lao động tốt, thuận lợi.
Sức khỏe của người lao động được đảm bảo, họ sẽ hăng hái tham gia lao động sản xuất, làm cho năng suất lao động cao. Ngược lại, ĐKLĐ không tốt, không thuận lợi làm cho sức khỏe của công nhân bị giảm sút, quá trình lao động bị ngưng trệ, năng suất lao động thấp ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất chung của doanh nghiệp. SVTH: Phan Thị Trang – K49D QTKD 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Hoàng Trọng Hùng Tuy nhiên không phải chủ doanh nghiệp nào cũng nhận thức rõ vấn đề này để cải thiện tốt ĐKLĐ. Trên thực tế không ít chủ doanh nghiệp chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt mà không quan tâm đến ĐKLĐ khiến cho chúng trở thành những yếu tố nguy hại đến sức khỏe của người lao động.
Từ những lý do trên cho thấy vấn đề cải thiện ĐKLĐ trong các doanh nghiệp là vô cùng cần thiết và cấp bách, đòi hỏi không chỉ người sử dụng lao động, người lao động mà các cấp, các ngành phải quan tâm. Sự cần thiết đối với người lao động: Người lao động là người chịu ảnh hưởng trực tiếp từ điều kiện lao động. ĐKLĐ thuận lợi thì sức khỏe của người lao động được đảm bảo, họ có thể an tâm lao động sản xuất, tăng thu nhập đồng thời nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bản thân và gia đình. Ngược lại, ĐKLĐ không tốt, không đảm bảo làm cho sức khỏe của người công nhân giảm sút, sản xuất bị ngưng trệ, thu nhập của họ thấp, đời sống vật chất, tinh thần gặp nhiều khó khăn do đó cải thiện ĐKLĐ đối với người lao động là vô cùng cần thiết.
Sự cần thiết đối với chủ doanh nghiệp: Mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Lợi nhuận chỉ có được khi quá trình lao động được đảm bảo và liên tục, muốn vậy chủ đơn vị phải thực hiện tổ chức lao động khoa học, trang bị phương tiện bảo hộ cá nhân, tiến hành hiện đại hóa, tự động hóa công nghệ và dây chuyền sản xuất, môi trường vi khí hậu: (t⁰, độ ẩm, ánh sáng…) phải phù hợp theo tiêu chuẩn quy định. Nếu thực hiện được tất cả những điều trên tức là cải thiện được ĐKLĐ thì mục tiêu của doanh nghiệp sẽ nhanh chóng đạt được. Sự cần thiết đối với xã hội: Khi điều kiện lao động được cải thiện.
Điều đó có nghĩa là: Tai nạn lao động – Bệnh nghề nghiệp sẽ giảm hẳn, tính mạng người lao động được bảo vệ làm giảm chi phí của quỹ BHXH về việc chi trả trợ cấp cho TNLĐ-BNN. Mặt khác khi môi trường lao động an toàn, sản xuất diễn ra liên tục, năng suất lao động tăng cao tạo ra nhiều của cải, vật chất cho xã hội kéo theo các khoản thu về thuế của nhà nước cũng được SVTH: Phan Thị Trang – K49D QTKD 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Hoàng Trọng Hùng tăng lên, điều cơ bản hơn cả là tạo ra một xã hội công nghiệp phát triển an toàn và bền vững. Các yếu tố của điều kiện lao động 1. Nhóm các yếu tố thuộc về Vệ sinh – y tế 1.
Vi khí hậu Vi khí hậu là trạng thái vật lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp ở nơi làm việc, bao gồm các yếu tố: nhiệt độ (00C), độ ẩm không khí (%), bức xạ nhiệt (cal/cm2/phút) và tốc độ vận chuyển của không khí (m/s). Các yếu tố này phải đảm bảo ở giới hạn nhất định phù hợp với sinh lý con người. Vi khí hậu nóng là nơi có nhiệt độ bằng và lớn hơn 3200C (đối với lao động nhẹ 3400C, lao động nặng 3000C). Vi khí hậu lạnh là nơi có nhiệt độ bằng và nhỏ hơn 1800C (đối với lao động nhẹ 2000C, lao động nặng 1600C).
Điều kiện khí hậu phụ thuộc vào quá trình công nghệ và khí hậu địa phương. Nhiệt độ: Nhiệt độ là nguồn nhiệt được tạo nên bởi năng lượng tự nhiên hoặc nhân tạo trong quá trình hoạt động sản xuất. Nhiệt độ thay đổi theo các địa dư khác nhau, theo thời gian trong ngày, theo mùa và theo quy trình sản xuất. Nhiệt độ thể hiện sự hấp thụ nhiệt của không khí và các vật thể xung quanh con người.
Trong sản xuất có các nguồn sinh nhiệt chủ yếu sau: - Nhiệt độ do cơ năng máy móc hoạt động sinh ra. - Hơi nóng từ các ống dẫn vật đựng, khe hở lò cao. - Ánh sáng mặt trời, hệ thống chiếu sáng nhân tạo. - Cơ thể công nhân tỏa ra khi làm việc.
Độ ẩm: - Độ ẩm là yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sức khoẻ công nhân. Độ ẩm tuyệt đối là lượng hơi nước (tính bằng gram) chứa trong một không khí. Độ ẩm cực đại là lượng hơi nước bão hoà (tính bằng gram) chứa trong một không khí ở một nhiệt độ nhất định. SVTH: Phan Thị Trang – K49D QTKD 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Hoàng Trọng Hùng Độ ẩm tương đối là thương số của độ ẩm tuyệt đối của không khí và độ ẩm cực đại ứng với cùng một nhiệt độ nhất định.
Độ ẩm tương đối thích hợp với con người là : 75-85 % - Tác động của độ ẩm tới sức khoẻ con người: Khi độ ẩm quá cao: Làm giảm lượng ôxy hít thở vào phổi (do hàm lượng hơi nước trong không khí tăng lên), cơ thể thiếu ôxy sinh uể oải, phản xạ chậm, dễ gây tai nạn. Khi độ ẩm cao: Làm tăng lắng đọng hơi nước, nền cement trơn trượt, dễ ngã. Làm tăng khả năng chạm mass mạch điện, dễ gây chạm chập, tai nạn điện. Khi độ ẩm thấp: Không khí hanh khô, da khô nẻ, chân tay nứt nẻ giảm độ linh hoạt, dễ gây tai nạn.
Bức xạ nhiệt Nhiệt là một dạng động năng luôn truyền từ vật có nhiệt độ cao sang vật có nhiệt độ thấp, sự truyền nhiệt được tiến hành đến khi nhiệt độ của các vật cân bằng mới thôi. Có 3 hình thức truyền nhiệt là: dẫn nhiệt, đối lưu và bức xạ nhiệt. Trong môi trường lao động, bức xạ nhiệt xuất hiện từ các vật dụng nóng, lò nấu chảy kim loại,. Đây là yếu tố có hại rất nguy hiểm .