Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sức khỏe và ảnh hưởng của dịch vụ y tế tới sức khỏe: Theo Tổ chức y tế Thế giới: “Sức khỏe là tình trạng hoàn toàn thoái mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh tật hoặc đau om Tình ưạng sức khỏe tốt có hàm ý là con người đạt được sự cân bàng với môi trường xung quanh, có khả năng thích ứng với môi trường. Với cá nhân đó là chất lượng cuộc sống được cải thiện, ít bị đau ốm, ít khuyết tật, có cuộc sống hạnh phúc về mặt gia đình và xã hội. Với cộng đồng đó là chất lượng cuộc sổng của người dân được nâng cao, người dân có khả năng tham gia vào việc lập kế hoạch và thực hiện các biện pháp phòng bệnh, hoạch định chính sách CSSK cho chính mình.
Các yếu tố quyết định sức khỏe (Marc Lalonde, 1981) Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe con người, hệ thống cung ứng DVYT trong đó có dịch vụ KCB có ảnh hưởng rất lớn. Cung ứng dịch vụ y té được coi là chức năng chủ yếu của hệ thống y tế, có vai trò chi phối kết quả hoạt động của cả hệ thống y tể theo hướng công bằng, hiệu quả, và có chất lượng. Theo Tổ chức Y tế thế giới, dịch vụ y tế tốt là dịch vụ có hiệu lực, an toàn, có chất lượng, được cung cấp cho những người cần dùng, tại thời điểm và nơi hợp lý, và giảm thiểu được hao phí nguồn lực khi cung cấp[27]. Đầu vào Dịch vụ y tế Đầu ra - Nhân lực - Tổ chức cung úng -Tài chính - Chất lượng - Thông tin > Sức khỏe - Sử dụng - Thuốc và TTB - Bao phủ > Bảo vệ tài chính - Quản trị - Hiệu quà > Tính đáp ứng - Công bằng Sơ đồ 1.
Mô hình cung ứng dịch vụy tế (WHO) 1. Co’ sở lý thuyết cho nghiên cửu tiếp cận và sử dụng dịch vụ KCB: Có nhiều cách tiếp cận để xây dựng mô hình giải thích các mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng DVYT trong đó có dịch vụ K.CB của người dân trong cộng đồng. Có 3 cách đề cập chính là: - Cách đề cập kinh tế học: Dựa trên nhận định ràng con người khi phải lựa chọn bất kỳ một dịch vụ nào đó, họ phải luôn tuân theo các nguyên lý kinh tế học nhằm đạt được được lợi ích tối đa với mức chi phí có thể bỏ ra. - Cách đề cập nhân học: Cơ sở của cách đề cập này là sự lựa chọn cụ thể của người dân được xem là kết quả của quá trình ra quyết định nhiều bậc, do vậy các mô hình phát triển từ cách đề cập này còn có tên gọi là mô hình lý thuyết quyết định.
Cách đề cập này tỏ ra có ưu the trong việc xem xét trình tự trong đó người dân tiếp cận thực tể với các dịch vụ: Dịch vụ nào được họ sử dụng trước tiên, loại nào thứ hai, thứ ba. Vì sao, người dân lại chuyển từ sử dụng DVYT này sang DVYT kia. Do vậy cách đề cập này thường được nhiều nhà nhân học y học sử dụng trong nghiên cứu sự lựa chọn DVYT của người dân trước một vấn đề y tế cụ thể. - Cách đề cập theo những mô hình ra quyết định: Cách đề cập này tập trung vào việc xem xét đồng thời sự tác động của tập hợp các biến giải thích sự lựa chọn DVYT của người dân như: Mô hình sử dụng DVYT; Mô hình niềm tin sức khoẻ; Mô hình ứng xử khi ốm.
6 Sử dụng DV KCB Sơ đồ 1. Mô hình sử dụng dịch vụy tế (Andersen) Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng Mô hình tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của Andersen[44] để phát triển nghiên cứu, xác định các biến số và công cụ nghiên cứu. Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi chỉ tập trung khai thác khía cạnh sử dụng dịch vụ KCB của người dân với các biến số chính về mục đích (lý do lựa chọn), một số yếu tố liên quan đến việc lựa chọn sử dụng dịch vụ như yếu tố tài chính, yếu tố địa lý, chất lượng. Vai trò của y tế cơ sở trong chăm sóc sức khỏe ban đầu: Tuyến tế cơ sờ bao gồm y tế quận/huyện, xã/phường/thị trấn, các y tế cơ quan công, nông lâm trường, xí nghiệp, trạm, trại, công ty, trường học.gọi chung là y tế cơ sở.
Nó là nơi đầu tiên người dân tiếp xúc với hệ thống y tế, cũng là nơi cuối cùng để thực thi tất cả các hoạt động bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Trong đó y tế xâ, phường, thị trấn có vị trí quan trọng nhất, là tế bào cơ bản của hệ thống y tế quốc gia[ 1]. Trạm y tế xã, phường, thị trấn là đơn vị chuyên môn kỹ thuật năm trong hệ thống y tế nhà nước có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ kỹ thuật CSSK ban đầu cho 7 nhân dân trên địa bàn xã, phát hiện dịch sớm, K.CB thông thường, đỡ đẻ, vận động nhân dân thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đinh, vệ sinh phòng bệnh, tăng cường sức khỏe, chịu trách nhiệm trước Trung tâm y tế quận, huyện, thị xã và ủy ban nhân dân (UBND) xã, phường, thị trấn về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trên địa bàn xã đồng thời nhận sự hỗ trợ về chuyên môn của Bệnh viện huyện và quản lý chỉ đạo y tế thôn[8]. Công tác KCB cho nhân dân tại cộng đồng là một trong 11 nhiệm vụ và là một trong 10 nội dung CSSK ban đầu của TYT.
Theo tác giả Hoàng Đình cầu vai trò của người thầy thuốc rất quan trọng, đó là người thầy thuốc đa khoa, kiểu mới, biết nhiều, làm nhiều. Nhân vật trung tâm của TYT xã/phường nên là một bác sỹ đa khoa vừng vàng về chuyên môn K. giải quyết tốt các bệnh thông thường cho cộng đồng, lấy hoạt động K.CB làm xung kích, xây dựng sự tín nhiệm và lòng tin của người dân để từ đó thực hiện toàn diện 10 nội dung CSSK ban đầu cho cộng đồng, đó là cách tiếp cận cộng đồng tốt nhất, đồng thời là phương thức hoạt động mang lại hiệu quả cao cho TYT cơ sở. Thấy được vai trò và vị trí het sức quan trọng của y tế cơ sở trong việc phát triển kinh tế và ổn định chính trị xã hội, năm 2002 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 06 CT - TW về củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, Bộ Y tế đã Quyết định ban hành Chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001 - 2010, Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011 - 2020 và nhiều văn bản chính sách y tế khác nhằm tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động và nâng cao chất lượng DVYT, củng cố tuyến y tế cơ sở, thực hiện công bang trong CSSK.
Hoạt động của y tế CO’ sở qua các thòi kỳ và thực trạng hoạt động khám chữa bệnh của các trạm y tế: Hệ thống CSSK của nước ta đã được thiết lập ngay từ năm 1945 khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và được củng cố, phát triển từ ngày hòa bình lập lại năm 1954. Hệ thông DVYT được tô chức chặt chẽ từ tuyên trung ương đên địa phương bao gồm các cơ sở y tế tuyến trung ương, tỉnh, huyện, xã và các thôn bản. Từ đó đến nay, các cơ sở y te này đóng vai trò rất quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân cả trong thời chiến và hòa bình[33]. 8 Thời kỳ trước năm 1986.
chính sách của Đảng và Nhà nước là bao cấp việc KCB cho nhân dân, trong thời kỳ này người dân chủ yếu đi KCB ở các TYT xã/phường, nếu vượt quá khả năng thì TYT xã/phường giới thiệu bệnh nhân lên tuyến cao hơn, người dân tới các cơ sở y tế của nhà nước được KCB không phải trả tiền. Kinh phí cho các hoạt động CSSK toàn dân dựa hoàn toàn vào ngân sách nhà nước và nguồn viện trợ quốc te nhưng các cơ sở KCB của nhà nước còn rất khó khăn, chất lượng các DVYT còn thấp do phương tiện còn thiếu và lạc hậu, trình độ cán bộ còn hạn chế chưa theo kịp các nước trong khu vực[9]. Từ khi đổi mới đến nay, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, nhiều lĩnh vực trong y tế đã có sự thay đổi đáng kể. Một trong những thay đổi đó là người dân phải chi trả phí DVYT theo hai hình thức trực tiếp và thông qua BHYT.
Bên cạnh đó hệ thống y tế tư nhân được phép họat động cạnh tranh với y tế nhà nước. Thầy thuốc không còn là người hoàn toàn có vai trò quyết định nơi KCB của người bệnh nữa mà người dân có quyền quyết định việc KCB của chính mình, họ có thể tự lựa chọn cơ sở y tế nào mà mình thích như đến thẳng bệnh viện tuyến trung ương để KCB không cần sự giới thiệu của tuyến dưới hoặc có thể mua thuốc điều trị mà không cần đơn và chỉ định của thầy thuốc. Hậu quả đối với người sử dụng DVYT gây hiện tượng vượt tuyến dẫn tới những chi phí điều trị không cần thiết, lãng phí, lạm dụng thuốc và sử dụng thuôc không hợp lý gầy ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người bệnh. Đối với các cơ sở y tế đặc biệt là tuyến trung ương và bệnh viện chuyên khoa đã gây lên hiện tượng quá tải trong công tác KCB trong khi một số cơ sở y tế lại thiếu vắng bệnh nhân đặc biệt là TYT xã.
việc chuyên tuyến không đúng quy định hiệu quả trong sử dụng DVYT bị giảm sút. Cùng với sự thay đổi trên rất nhiều chính sách y tế ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu CSSK ngày càng cao của người dân. Hệ thống y tể cơ sở được mở rộng phạm vi bao gồm từ y te tuyến huyện đến xã và thôn bản trong đó TYT xã đóng vai trò quan trọng CSSK ban đầu cho người dân. Nhiều chính sách y tế được ban hành như việc đưa bác sỹ về xã, xây dựng hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, tăng cường TTB, thuốc, nhân lực y tế cho trạm, thực hiện KCB tại TYT.đã đóng góp đáng kể trong công tác tăng cường củng cố tuyến y tế cơ sở, đáp ứng nhu cầu CSSK của người 9 dân trong cộng đồng hiện nay, tạo điều kiện cho người dân có thể dễ dàng tiếp cận với các DVYT[16].
Trong những năm qua ngành y tế đã tập trung vào củng cố hệ thống y tế xã, phường và y tế thôn bản.