Tổng quan nghiên cứu
Theo báo cáo từ Tổ chức Y tế Thế giới, ước tính mỗi năm có khoảng 600 triệu người mắc các bệnh truyền qua thực phẩm và 420.000 ca tử vong trên toàn cầu, làm mất đi 33 triệu năm sống khỏe mạnh. Tại Việt Nam, số liệu thống kê của Cục An toàn thực phẩm ghi nhận trong năm 2020 cả nước xảy ra 139 vụ ngộ độc thực phẩm với 3.000 người mắc và 30 trường hợp tử vong. Riêng tháng 11 năm 2021, toàn quốc tiếp tục bùng phát 56 vụ ngộ độc khiến 1.526 người mắc. Đáng chú ý, các vụ việc nghiêm trọng chủ yếu tập trung tại các khu công nghiệp, trường học và bếp ăn tập thể quy mô lớn.
Tại tỉnh Quảng Ninh, địa bàn tập trung hơn 1,3 triệu dân cùng 17.129 cơ sở thực phẩm, ngành công nghiệp khai thác than giữ vai trò kinh tế mũi nhọn với cường độ lao động nặng nhọc và rủi ro nghề nghiệp cao. Riêng hai trung tâm khai thác khoáng sản là thành phố Hạ Long và thành phố Cẩm Phả đã chiếm 62 bếp ăn tập thể trong tổng số 86 bếp ăn toàn tỉnh (chiếm tỷ lệ 72%), chịu trách nhiệm cung cấp hàng chục nghìn suất ăn mỗi ngày cho đội ngũ thợ mỏ. Đáng lưu ý, năm 2021 toàn tỉnh ghi nhận 6 vụ nghi ngộ độc thực phẩm và toàn bộ đều xảy ra tại các bếp ăn thuộc doanh nghiệp than.
Nghiên cứu được triển khai nhằm mô tả thực trạng điều kiện an toàn thực phẩm và xác định các yếu tố ảnh hưởng tại 61 bếp ăn tập thể thuộc các công ty than trên địa bàn Hạ Long và Cẩm Phả trong năm 2021. Kết quả nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ đạt chuẩn an toàn thực phẩm toàn diện chỉ dừng ở mức 24,6%, qua đó cung cấp bằng chứng thực tiễn quan trọng giúp các cơ quan quản lý và doanh nghiệp khai thác than tái cấu trúc quy trình giám sát, bảo vệ sức khỏe và duy trì năng suất lao động bền vững cho công nhân ngành than.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu ứng dụng khung phân tích hệ thống về quản lý an toàn thực phẩm tại cơ sở dịch vụ ăn uống, kết hợp giữa 3 nhóm yếu tố cốt lõi: sự quản lý của cơ quan nhà nước, sự vận hành nội bộ của doanh nghiệp và năng lực cá nhân của người chế biến chính.
Cơ sở lý luận của đề tài dựa trên các khái niệm chuẩn hóa theo Luật An toàn thực phẩm năm 2010 và Nghị định 155/2018/NĐ-CP, bao gồm:
- An toàn thực phẩm và Vệ sinh an toàn thực phẩm: Trạng thái bảo đảm thực phẩm không chứa tác nhân sinh học, hóa học, vật lý vượt ngưỡng gây hại đến tính mạng người dùng.
- Bếp ăn tập thể: Cơ sở chế biến, nấu nướng phục vụ tập thể người ăn tại chỗ hoặc phân tán theo ca kíp công nghiệp.
- Mối nguy ô nhiễm: Khả năng xâm nhập của vi sinh vật gây bệnh, độc tố tự nhiên, hóa chất bảo vệ thực vật hoặc thực phẩm biến chất.
- Kiểm thực ba bước và lưu mẫu thực phẩm: Quy trình kiểm soát bắt buộc từ khâu nhập nguyên liệu, sơ chế nấu nướng đến trước khi ăn, yêu cầu lưu mẫu tối thiểu 24 giờ theo Quyết định 1246/QĐ-BYT.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang mô tả kết hợp phân tích, tích hợp đồng thời hai phương pháp định lượng và định tính:
- Cỡ mẫu và chọn mẫu định lượng: Nghiên cứu tiến hành điều tra toàn bộ 61 bếp ăn tập thể đang vận hành chế biến tại chỗ thuộc các công ty than trên địa bàn hai thành phố. Cỡ mẫu người chế biến chính được tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ với độ tin cậy 95%, sai số biên 0,05, chọn ngẫu nhiên 3 người chế biến chính tại mỗi bếp, tạo nên tổng cỡ mẫu định lượng là 183 nhân sự trực tiếp nấu nướng.
- Nghiên cứu định tính: Tiến hành phỏng vấn sâu 4 đối tượng chuyên trách gồm 1 cán bộ thanh tra và 1 cán bộ truyền thông thuộc Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm Quảng Ninh, cùng 2 cán bộ quản lý an toàn thực phẩm tại các doanh nghiệp than đại diện cho nhóm đạt chuẩn và không đạt chuẩn.
- Thu thập và phân tích dữ liệu: Số liệu thực địa được thu thập từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2021 thông qua bảng kiểm quan sát thực tế và bộ câu hỏi cấu trúc. Dữ liệu định lượng được làm sạch bằng phần mềm Epi-Data 3.1 và phân tích qua mô hình hồi quy logistic đơn biến, đa biến. Phương pháp hồi quy đa biến được lựa chọn nhằm kiểm soát các yếu tố gây nhiễu, từ đó xác định chính xác các yếu tố tác động độc lập đến điều kiện an toàn thực phẩm. Nghiên cứu tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn đạo đức theo phê duyệt số 9/2021/YTCC-HD3 của Hội đồng Đạo đức Đại học Y tế công cộng.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích dữ liệu từ 61 bếp ăn tập thể và 183 người chế biến chính đã chỉ ra các chỉ số thực trạng đáng chú ý:
- Tỷ lệ đạt chuẩn an toàn thực phẩm chung: Chỉ có 24,6% tổng số bếp ăn tập thể đáp ứng đầy đủ 100% các tiêu chí quy định.
- Đánh giá theo từng nhóm điều kiện: Điều kiện vệ sinh trong chế biến và bảo quản thực phẩm có tỷ lệ đạt cao nhất với trên 96%; nhóm trang thiết bị và dụng cụ đạt 82,0%; nhóm hồ sơ pháp lý đạt 60,7%; nhóm điều kiện cơ sở vật chất đạt 52,5%; và nhóm điều kiện con người có tỷ lệ đạt thấp nhất với kiến thức chung đạt 40,3% và thực hành chung chỉ đạt 39,0%.
- Cơ cấu tổ chức phục vụ: 67,2% bếp ăn phục vụ quy mô lớn trên 500 suất ăn/ngày, 75,4% cơ sở duy trì biên chế dưới 20 nhân viên. Về hình thức phục vụ, 54,1% phân chia theo suất/khay sẵn, 44,3% tổ chức ăn tự chọn (buffet) và 1,6% ăn theo mâm.
- Điểm nghẽn kiến thức và hành vi: Dù 96,7% người chế biến nắm rõ nhóm điều kiện cơ bản, có tới 74,3% trả lời sai về các quy định an toàn thực phẩm bắt buộc đối với nhân viên chế biến trực tiếp, và 25,1% không nhận thức đúng về danh mục các bệnh truyền nhiễm không được tham gia nấu nướng.
Thảo luận kết quả
Thực trạng tỷ lệ đạt chuẩn chung 24,6% phản ánh một khoảng cách đáng kể giữa việc đầu tư phần cứng và việc thực thi chuẩn mực phần mềm tại các doanh nghiệp than. Mặc dù các công ty có tiềm lực tài chính tốt giúp tiêu chí trang thiết bị đạt tới 82,0% và thiết bị lưu mẫu đạt 100%, nhưng điều kiện cơ sở vật chất chỉ đạt 52,5%. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ vị trí bếp ăn nằm trong vùng khai trường mỏ nhiều khói bụi, 11,5% bếp ăn có hệ thống cống rãnh ứ đọng hoặc chưa che kín, và 14,7% bếp chưa bảo đảm khoảng cách an toàn với nguồn ô nhiễm môi trường.
Khi so sánh với nghiên cứu năm 2015 của các tác giả tại thành phố Uông Bí trên cùng nhóm thợ mỏ (tỷ lệ đạt 56,2%) hay nghiên cứu tại Nam Từ Liêm năm 2020 (đạt 51,7%), kết quả tại Hạ Long và Cẩm Phả thấp hơn rõ rệt. Sự chênh lệch này đến từ việc áp dụng bảng kiểm toàn diện theo Nghị định 155/2018/NĐ-CP với yêu cầu khắt khe hơn. Đặc biệt, năng lực thực hành của con người (39,0%) trở thành mắt xích yếu nhất.
Để tối ưu hóa việc theo dõi trực quan các dữ liệu này, cơ quan quản lý có thể sử dụng biểu đồ mạng nhện (radar chart) so sánh 5 trụ cột điều kiện an toàn thực phẩm, kết hợp biểu đồ cột phân tầng thể hiện tương quan giữa thâm niên làm việc với tỷ lệ thực hành đạt chuẩn của nhân sự.
Trụ cột đánh giá điều kiện ATTP tại 61 Bếp ăn tập thể ngành Than
Vệ sinh chế biến & bảo quản [████████████████████] 96.0%
Trang thiết bị & dụng cụ [█████████████████░░░] 82.0%
Hồ sơ pháp lý & thủ tục [████████████░░░░░░░░] 60.7%
Cơ sở vật chất hạ tầng [███████████░░░░░░░░░] 52.5%
Kiến thức người chế biến [████████░░░░░░░░░░░░] 40.3%
Thực hành người chế biến [████████░░░░░░░░░░░░] 39.0%
-------------------------------------------------------------
TỶ LỆ ĐẠT CHUẨN TOÀN DIỆN [█████░░░░░░░░░░░░░░░] 24.6%
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm kiểm soát triệt để nguy cơ ngộ độc thực phẩm và nâng cao chất lượng bữa ăn công nghiệp cho thợ mỏ, các giải pháp đồng bộ cần được thực thi nghiêm ngặt:
- Thiết lập chế tài cưỡng chế nghiêm minh: Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Quảng Ninh cần chấm dứt việc xử lý vi phạm bằng hình thức nhắc nhở đơn thuần; kiên quyết xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 115/2018/NĐ-CP đối với các cơ sở thiếu hợp đồng trách nhiệm nguồn gốc thực phẩm (hiện còn 14,7% vi phạm) hoặc vi phạm kiểm thực 3 bước. Mục tiêu nâng tỷ lệ tuân thủ hồ sơ pháp lý từ 60,7% lên trên 90% trước quý 4/2023.
- Tái cấu trúc chương trình đào tạo theo đối tượng mục tiêu: Đơn vị quản lý y tế ngành than phối hợp với các cơ sở đào tạo tổ chức tập huấn thực hành cầm tay chỉ việc, tập trung sâu vào nhóm 62,3% người chế biến có thâm niên dưới 10 năm. Phấn đấu nâng tỷ lệ kiến thức đạt chuẩn từ 40,3% lên trên 85% trong giai đoạn 2023-2024.
- Nâng cấp hạ tầng và quy hoạch luồng chế biến một chiều: Ban Lãnh đạo Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam cùng các công ty thành viên cần cấp ngân sách cải tạo hệ thống cống rãnh, lắp đặt lưới chắn côn trùng, và di dời các khu sơ chế gần nguồn bụi than, hướng tới đưa 100% bếp ăn đạt tiêu chuẩn cơ sở vật chất trước năm 2024.
- Triển khai hệ thống tự kiểm tra nội bộ định kỳ: Đội ngũ y tế doanh nghiệp và quản đốc đời sống thực hiện kiểm tra đột xuất quy trình phân chia thức ăn chín, giám sát lưu mẫu 24 giờ bằng nhật ký điện tử, cam kết giảm tỷ lệ vi phạm thực hành vệ sinh cá nhân xuống dưới 10% hàng năm.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc cho nhiều nhóm độc giả chuyên môn:
- Cơ quan quản lý nhà nước và thanh tra y tế: Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Phòng Y tế địa phương có thể khai thác bộ biến số và dữ liệu thực địa để xây dựng kế hoạch thanh tra chuyên đề các khu công nghiệp trọng điểm.
- Lãnh đạo doanh nghiệp và nhà quản lý hậu cần ngành than: Ban giám đốc, quản đốc đời sống, trạm y tế tại các công ty khai thác khoáng sản sử dụng làm tài liệu quy chuẩn để thiết kế, giám sát bếp ăn quy mô trên 500 suất.
- Bếp trưởng, chuyên gia dinh dưỡng và an toàn thực phẩm công nghiệp: Đội ngũ trực tiếp vận hành bếp ăn tập thể tham khảo quy trình kiểm thực 3 bước và phương pháp kiểm soát lây nhiễm chéo trong môi trường sản xuất nặng nhọc.
- Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh Y tế công cộng: Tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu cắt ngang kết hợp định lượng - định tính, kỹ thuật chọn mẫu cụm và mô hình hồi quy đa biến trong y học dự phòng.
Câu hỏi thường gặp
Tỷ lệ đạt điều kiện an toàn thực phẩm chung tại các bếp ăn công ty than là bao nhiêu?
Nghiên cứu trên 61 bếp ăn tập thể tại Hạ Long và Cẩm Phả ghi nhận tỷ lệ đạt chuẩn toàn diện chỉ đạt 24,6%. Mặc dù điều kiện trang thiết bị đạt 82,0% và bảo quản chế biến đạt trên 96%, nhưng sự thiếu hụt về cơ sở vật chất (52,5%) và năng lực người chế biến (dưới 41%) đã kéo giảm tỷ lệ chung.
Đặc thù môi trường ngành than ảnh hưởng thế nào đến cơ sở vật chất nhà bếp?
Vị trí bếp ăn nằm gần các khu vực khai trường phát sinh nhiều bụi than và khí thải công nghiệp. Có tới 14,7% bếp ăn không bảo đảm khoảng cách an toàn với nguồn ô nhiễm, và 11,5% cơ sở có cống rãnh chưa che kín hoặc thoát nước kém, làm gia tăng nguy cơ nhiễm bẩn chéo.
Quy mô và hình thức phục vụ tại các bếp ăn tập thể này có gì đặc biệt?
Phần lớn bếp ăn phục vụ với công suất lớn khi có 67,2% cơ sở chế biến trên 500 suất ăn mỗi ngày. Hình thức phục vụ chia theo suất/khay chiếm ưu thế với 54,1%, theo sau là hình thức ăn tự chọn buffet chiếm 44,3%, đòi hỏi quy trình kiểm soát vi sinh vật cực kỳ nghiêm ngặt.
Tại sao công tác thanh kiểm tra của nhà nước chưa tạo được đột phá bền vững?
Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý chỉ ra lực lượng thanh tra chuyên ngành còn mỏng so với quy mô hàng chục nghìn cơ sở thực phẩm. Đồng thời, các đoàn kiểm tra liên ngành phần lớn chỉ dừng lại ở mức độ nhắc nhở, thiếu các biện pháp xử phạt tài chính nghiêm khắc và chưa duy trì công tác hậu kiểm thường xuyên.
Giải pháp can thiệp nào cấp thiết nhất đối với nhân viên chế biến thức ăn?
Cần tập trung đào tạo chuyên sâu về kiến thức bệnh truyền nhiễm và vệ sinh bàn tay cho nhóm nhân viên có dưới 10 năm thâm niên (chiếm 62,3% lực lượng). Doanh nghiệp cần bắt buộc trang bị đầy đủ bảo hộ lao động và gắn kết quả chấp hành vệ sinh với tiêu chí thi đua, thưởng phạt hàng tháng.
Kết luận
- Nghiên cứu xác lập bức tranh thực tế toàn diện về 61 bếp ăn tập thể ngành than tại Quảng Ninh với tỷ lệ đạt chuẩn an toàn thực phẩm chung là 24,6%.
- Nhận diện rõ điểm nghẽn lớn nhất nằm ở điều kiện con người khi tỷ lệ kiến thức đạt 40,3% và thực hành đạt 39,0%, trái ngược với tỷ lệ trang thiết bị đạt 82,0%.
- Khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa thâm niên công tác, quy trình đào tạo và công tác hậu kiểm nghiêm minh đối với chất lượng an toàn bữa ăn công nghiệp.
- Cung cấp cơ sở khoa học và hệ thống khuyến nghị 4 nhóm giải pháp có tính khả thi cao dành cho cơ quan quản lý nhà nước và Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam giai đoạn 2022-2025.
- Kêu gọi các doanh nghiệp than lập tức tiến hành rà soát hạ tầng nhà bếp, chuẩn hóa hợp đồng nguyên liệu và nâng cao năng lực thực hành cho người chế biến nhằm bảo vệ sức khỏe thợ mỏ và phòng chống ngộ độc thực phẩm triệt để.