phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn đƣợc kết cấu làm 03 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về thực thi pháp luật về khai thác cát lòng sông. Đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật khai thác cát lòng sông ở tỉnh Bến Tre. Kết luận và kiến nghị chính sách góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật khai thác cát lòng ở tỉnh Bến Tre.
8 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ KHAI THÁC CÁT LÒNG SÔNG 1. BẢN CHẤT, YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC CÁT LÒNG SÔNG 1. Cát lòng sông là khoáng sản không thể tái tạo, có nhu cầu khai thác lớn, nhƣng có tác động trực tiếp đến môi trƣờng Khoáng sản đƣợc tiếp cận và luận giải ở nhiều góc độ khác nhau. Trong địa chất học, khoáng sản đƣợc định nghĩa là các đá hoặc tập hợp khoáng vật tự nhiên trong vỏ trái đất, tạo thành do các quá trình địa chất xác định, mà từ đó con ngƣời có thể lấy kim loại, các hợp chất hay các khoáng vật để sử dụng trong nền kinh tế quốc dân.8 Theo quy định của Luật Khoáng sản 2010 thì khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích đƣợc tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ.
Là loại tài nguyên thiên nhiên có giá trị kinh tế lớn, phục vụ trực tiếp cho nhiều nhu cầu khác nhau của con ngƣời nên việc quản lý, khai thác thƣờng phức tạp do có liên quan đến nhiều quan hệ xã hội, có tác động đến yếu tố môi trƣờng, văn hóa nơi cƣ dân sinh sống. Tại Việt Nam, khoáng sản là loại tài sản thuộc sở hữu toàn dân do nhà nƣớc là chủ đại diện. Việc khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản phải chịu sự quản lý trực tiếp của nhà nƣớc thông qua hoạt động cấp phép. Cát lòng sông là khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thƣờng, theo quy định tại Khoản 1 Điều 64 Luật khoáng sản thì cát lòng sông là: “Cát các loại (trừ cát trắng silic) có hàm lƣợng SiO2 nhỏ hơn 85%, không có hoặc có các khoáng vật cansiterit, volframit, monazit, ziricon, ilmenit, vàng đi kèm nhƣng không đạt chỉ tiêu tính trữ lƣợng theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng”.
Cát lòng sông là sản phẩm tự nhiên đƣợc hình thành từ thƣợng nguồn đến hạ lƣu, theo lƣu vực sông; sự vận động, biến đổi của cát, sỏi lòng sông, khai thác cát lòng sông liên quan 8 Phan Chung Thủy, Pháp luật về hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam, Tóm tắt luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, 2012, tr. 9 trực tiếp đến mức độ bền vững của lòng, bờ, bãi sông. Theo quy định tại Điều 2 Nghị định 158/2016/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Khoáng sản thì cát lòng sông nguyên khai là sản phẩm tài nguyên của khoáng sản, đã qua khai thác không còn ở tình trạng tự nhiên nhƣng chƣa qua đập, nghiền, sàng, phân loại hoặc các hoạt động khác để nâng cao giá trị sau khai thác; Thăm dò cát lòng sông là hoạt động nhằm xác định trữ lƣợng, chất lƣợng cát; Khai thác cát lồng sông là hoạt động nhằm thu hồi cát, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan. Thông tƣ 01/2016/TT-BTNMT ngày 13/01/2016, cát lòng sông là sản phẩm tích tụ trong bãi bồi, thềm sông và cửa sông, bao gồm: cuội, sỏi, sạn, cát chỉ có giá trị sử dụng làm vật liệu xây dựng thông thƣờng.
Vai trò của cát lòng sông trong phát triển kinh tế xã hội, Phó Thủ tƣớng Trƣơng Hòa Bình đã kết luận “nhu cầu sử dụng cát, sỏi ngày càng lớn, trong khi nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt, mặt khác công tác quản lý nhà nƣớc còn bất cập đã dẫn đến việc khai thác cát, sỏi quá mức, khai thác cát, sỏi trái phép đã tác động tiêu cực đến dòng chảy, hạ thấp lòng sông, gây sạt lở bờ, bãi sông, gây thiệt hại tài sản của nhân dân, tác động xấu đến môi trƣờng. Vì vậy, việc quản lý, khai thác cát, sỏi cần phải đƣợc quy hoạch trên cơ sở đánh giá trữ lƣợng, khả năng cung cấp, nhu cầu sử dụng của cả nƣớc, của các địa phƣơng và phải đánh giá đầy đủ tác động đến dòng chảy, môi trƣờng chung theo từng lƣu vực sông, bảo đảm tuân thủ các quy định về bảo vệ lòng sông và bảo vệ tài nguyên nƣớc; đồng thời phải quản lý, ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động khai thác cát, sỏi trái phép.”9 Trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, nhu cầu sử dụng cát nói chung, cát lòng sông nói riêng không ngừng tăng lên. Điều này đặt ra đòi hỏi phải tăng cƣờng các biện pháp quản lý để chống lại các hiện tƣợng khai thác cát trái phép, tuân thủ các quy trình, kỹ thuật trong quá trình khai thác cũng nhƣ giảm thiểu các tác động xấu đối với môi trƣờng. Tình trạng sạt lở bờ sông do việc khai thác quá mức, thiếu kiểm soát làm ảnh hƣởng đến sinh kế của 9 Lê Sơn, Hội nghị trực tuyến toàn quốc về tăng cƣờng quản lý, khai thác cát sỏi, Nguồn < http://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Hoi-nghi-truc-tuyen-toan-quoc-ve-tang-cuong-quan-ly-khai-thac-cat- soi/310531.
Ngày truy cập [06/07/2017]. 10 ngƣời dân là vấn đề lớn cần quan tâm giải quyết song song với việc cấp phép khai thác cát lòng sông của các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Khai thác cát lòng sông là hoạt động thu gom khoáng sản có sự hỗ trợ của các phƣơng tiện và phải đáp ứng các tiêu chuẩn môi trƣờng Về mặt lịch sử, hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản có từ khá lâu đời. Lúc đầu, hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản ở Việt Nam cũng nhƣ các quốc gia khác trên thế giới chỉ là khai thác đá, sắt, đồng… để làm công cụ phục vụ cho chăn nuôi, trồng trọt, luyện vũ khí để chống giặc ngoại xâm.
Nhƣng phải đến thời Pháp thuộc, khai thác khoáng sản mới định hình nhƣ một nghề. Khi thực dân Pháp đô hộ nƣớc ta, chúng đã cho thành lập Sở địa chất Đông Dƣơng. Nơi đây tập trung nhiều nhà bác học địa chất nổi tiếng của nƣớc Pháp và cả thế giới lúc bấy giờ. Rất nhiều mỏ khoáng sản của Việt Nam đã đƣợc ngƣời Pháp phát hiện ra.
Thực dân Pháp khai thác khoáng sản để làm nguyên liệu, đáp ứng nhu cầu của chúng. Toàn quyền Đông Dƣơng đã bán nhiều mỏ khoáng sản của ta cho các công ty khai khoáng của Pháp. Khi đất nƣớc thống nhất chúng ta lại quan tâm đến việc phát triển kinh tế. Chỉ đến gần đây, đất nƣớc ta mới chú trọng đến hoạt động khoáng sản, mới nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản trong sự phát triển kinh tế, xã hội.10 Sự phát triển đất nƣớc đã làm cho ngành khai thác, chế biến khoáng sản ngày càng phát triển, có những đóng góp tích cực trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.
Đồng thời, cùng với những chuyển mình của các ngành kinh tế, ngành khai thác, chế biến khoáng sản cũng đang có những thay đổi theo chiều sâu theo hƣớng chuyển từ khai thác, xuất khẩu khoáng sản thô sang việc khai thác, chế biến để có sản phẩm tinh (hàng hóa) để làm tăng giá trị của khoáng sản. Mặt khác, do khoáng sản chủ yếu là dạng không thể tái tạo nên việc tiết kiệm tài nguyên cũng đặt ra đòi hỏi phải hiện đại hóa công nghệ khai thác và tìm các nguồn nguyên liệu thay thế tài nguyên hóa thạch. Công nghiệp khai thác cát là một ngành công nghiệp khai khoáng và cát là nguồn tài nguyên không tái tạo đƣợc. Khai thác cát gây ra những biến đổi môi 10 Phan Chung Thủy, Pháp luật về hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam, Tóm tắt luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, 2012, tr.
11 trƣờng sinh học, vật lý, hóa học và môi trƣờng sống của con ngƣời. Do đó, luôn luôn tồn tại các mối nguy tác động môi trƣờng do việc khai thác gây ra mà trong đó ẩn chứa các rủi ro tiềm tàng cho con ngƣời và môi trƣờng. Do đó, xác định các mối nguy, tức là những tác động xấu đối với môi trƣờng và con ngƣời do hành vi khai thác cát là điều kiện để bảo đảm tính bền vững của hoạt động khai thác cát nói chung, khai thác cát lòng sông nói riêng. Các loại mối nguy đƣợc áp dụng đối với phân tích rủi ro môi trƣờng là: Mối nguy từ sự chối bỏ, mối nguy từ sự không biết, mối nguy từ sự không thống nhất, mối nguy từ ngôn ngữ, mối nguy từ sự thực hiện, mối nguy từ tính không dự đoán đƣợc.
Mối nguy cơ về sự bỏ quên xảy ra bởi vì tiềm năng nguy hiểm và rủi ro chƣa đƣợc đánh giá. Mối nguy cơ do sự thiếu hiểu biết xảy ra bởi vì kiến thức của chúng ta bị hạn chế. Mối nguy cơ của bất đồng tồn tại khi các chuyên gia không thể đồng ý hoặc khi các chuyên gia và các cộng đồng dân cƣ không thống nhất ý kiến. Điều xảy ra khi thiếu số liệu, hay có quan niệm sai lầm, hay ngờ vực.
Mối nguy của ngôn ngữ học tồn tại vì chúng ta thƣờng nói đến các sự kiện mà không chính xác về số lƣợng, hoặc trong các thuật ngữ chuyên ngành chỉ quen thuộc cho những ngƣời trong nghề nghiệp của chúng ta. Mối nguy của việc thực hiện xảy ra khi chúng ta thực hiện công việc phạm sai lầm. Mối nguy là các điều bất trắc xảy ra chẳng hạn nhƣ thời tiết và động đất, vốn dĩ không thể đoán trƣớc đƣợc và bởi vì bản chất của thiên nhiên là trạng thái liên tục thay đổi của nó. Hệ tự nhiên sinh thái xung quanh chúng ta đang ở trong một trạng thái liên tục thay đổi, thay đổi bởi các quá trình tự nhiên hay là thay đổi bởi các hoạt động của con ngƣời.
Những mối nguy từ sự không thể tiên đoán đƣợc thƣờng đƣợc đánh giá bằng cách sử dụng phƣơng pháp xác suất thống kê hay bằng cách quan sát theo dõi và các kế hoạch ứng phó.11 Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Xuân Quang, các hình thức khai thác cát lòng sông bao gồm:12 11 Hồ Chí Anh, Nguyễn Thành Hƣng, Phân tích rủi ro do khai thác cát trên sông Thị Tính, Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, số 1/2011, tr.