Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tại Việt Nam, hệ thống công trình thủy lợi và đê điều giữ vai trò quan trọng trong việc phòng chống thiên tai, bảo vệ dân sinh và phục vụ phát triển kinh tế. Cả nước hiện có khoảng 6.648 đập hồ chứa thủy lợi, trong đó khoảng 90% là các công trình quy mô vừa và nhỏ được xây dựng từ những năm 1960 - 1970. Do thời gian khai thác kéo dài và công nghệ thi công giai đoạn trước còn hạn chế, hầu hết các đập này đều xuất hiện hiện tượng thấm ở các mức độ khác nhau nhưng không được trang bị hệ thống quan trắc đường thấm bão hòa chuyên dụng. Bên cạnh đó, mạng lưới đê điều với hơn 7.000 km đê chủ yếu được đắp bằng đất tại chỗ trên nền địa chất không ổn định từ thời phong kiến, thường xuyên đối mặt với nguy cơ rò rỉ, thấm ngầm và xói mòn thân đê.

Đối với các đập đá đổ bê tông bản mặt (CFRD) hoặc các đập đất có lát mái bê tông bảo vệ, quá trình tích nước và vận hành lâu dài dễ dẫn đến hiện tượng lún, chuyển vị thân đập. Sự mất tiếp xúc giữa tấm bê tông cứng và khối đất đá bên dưới tạo ra các khoảng rỗng ngầm, được gọi là hiện tượng "thoát không". Dưới tác động của áp lực nước và tải trọng bản thân, lớp bê tông dễ bị nứt vỡ, dẫn đến sập mái hoặc thấm lậu nghiêm trọng.

Mặc dù các phương pháp địa vật lý đã được ứng dụng trong việc chẩn đoán công trình, các giải pháp truyền thống như thăm dò điện đa cực hay đo sâu điện 1D còn bộc lộ nhược điểm về thời gian thu thập dữ liệu, độ phân giải và chi phí thực địa. Mặt khác, việc khảo sát ẩn họa "thoát không" trước đây phụ thuộc chủ yếu vào phương pháp Ra đa xuyên đất (GPR) – vốn có chi phí cao, tốc độ khảo sát chậm và gặp nhiều hạn chế khi truyền sóng qua lớp bê tông. Do đó, việc cải tiến phương pháp Thăm dò điện đa cực (TDĐĐC) và ứng dụng phương pháp Nhiệt hồng ngoại để phát hiện nhanh các ẩn họa trong hệ thống đê, đập đất là một yêu cầu cấp bách cả về mặt khoa học lẫn thực tiễn quản lý rủi ro thiên tai.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Phát triển, cải tiến phương pháp Thăm dò điện đa cực nhằm nâng cao độ chính xác, tối ưu hóa thời gian và chi phí trong việc xác định các ẩn họa (vùng thấm, đường thấm bão hòa) trong thân đê, đập đất.
  2. Nghiên cứu áp dụng phương pháp Nhiệt hồng ngoại để xác định nhanh và đưa ra cảnh báo sớm về các vị trí xuất hiện hiện tượng "thoát không" dưới lớp bê tông lát mái trên đê, đập.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản luận án xác định các nhiệm vụ cụ thể được phân thành hai nhóm nội dung chính:

  • Nhiệm vụ 1: Phát triển, cải tiến phương pháp Thăm dò điện đa cực
    • Nghiên cứu chuyển đổi từ hệ cực đo cải tiến 1D (khoảng cách cực tăng theo hàm logarit) sang hệ cực đo 2D với khoảng cách cực tăng tuyến tính nhưng bảo toàn các đặc tính ưu việt của hệ cực cải tiến.
    • Chuyển đổi phương pháp đo đơn điểm 1D thành phương pháp đo đa điểm 2D tương thích với công nghệ thăm dò điện đa cực; thiết lập tập tin điều khiển và hoàn thiện quy trình khảo sát, thu thập dữ liệu thực địa.
    • Xây dựng mô-đun xử lý, phân tích số liệu dựa trên thuật toán đo sâu điện cải tiến kết hợp phần mềm EarthImager 2D.
    • Thử nghiệm trên mô hình lý thuyết và thực nghiệm để đánh giá khả năng vận hành thông qua các thiết bị đo SuperSting R1, SuperSting R8/IP.
    • Áp dụng phương pháp cải tiến để xác định vùng thấm, đường thấm bão hòa trên đập đất và đánh giá hiện trạng một số đoạn đê.
  • Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu áp dụng phương pháp Nhiệt hồng ngoại xác định "thoát không"
    • Nghiên cứu cơ sở lý thuyết truyền nhiệt và nguyên lý đo nhiệt độ bằng bức xạ hồng ngoại.
    • Khảo sát các thiết bị đo nhiệt độ hồng ngoại nhằm chọn lựa thiết bị thích hợp (máy chụp ảnh nhiệt SEEK REVEAL PRO).
    • Xây dựng mô hình vật lý đới "thoát không" trong phòng thí nghiệm và thiết lập quy trình đo đạc thử nghiệm.
    • Đánh giá khả năng áp dụng trên mô hình lý thuyết và mô hình thực tế.
    • Triển khai phương pháp tại hiện trường đập thủy lợi/thủy điện, kết hợp kiểm chứng bằng phương pháp Ra đa xuyên đất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu:
    • Các ẩn họa dòng thấm, vùng thấm và đường thấm bão hòa trong thân đê, đập đất.
    • Hiện tượng "thoát không" (khoảng rỗng không khí hình thành giữa lớp bê tông bảo vệ mặt và khối đắp nền/thân đập).
  • Phạm vi không gian: Các công trình đê và đập đất tại Việt Nam, cụ thể là đập hồ chứa Đồng Đò (huyện Sóc Sơn, Hà Nội), đập chính hồ chứa Đồng Mô (thị xã Sơn Tây, Hà Nội), tuyến đê hữu Hồng (huyện Thanh Trì, Hà Nội), đê Sen Chiểu (huyện Phúc Thọ, Hà Nội), đập thủy lợi Hua Khao (huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn) và đập thủy điện Sê San 4 (huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai).
  • Thời gian nghiên cứu và bảo vệ: Luận án hoàn thành và bảo vệ cấp Đại học Quốc gia vào năm 2023.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Các phương pháp địa vật lý không phá hủy đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới nhằm giám sát hiện tượng thấm và mất ổn định đập:

  • Phương pháp điện trở suất và chụp cắt lớp điện trở (ERT): Johansson Sam và Torleif Dahlin (1996) tiến hành đo lặp điện trở suất trên đập Lövön để giám sát sự biến đổi dòng thấm theo thời gian. Abuzeid (1994), Okko et al. (1994), Panthulu et al. (2001), Karastathis et al. (2002), Sjödahl et al. (2005, 2006, 2010), Kim et al. (2007), Cho và Yeom (2007), Adagunodo et al. (2013) đã khẳng định vai trò của chụp cắt lớp điện trở suất 2D/3D trong việc khoanh vùng dị thường rò rỉ. Chih-Ping Lin et al. đã tích hợp ERT đo lặp với dữ liệu quan trắc địa kỹ thuật tại đập đất Hsin-Shan (Đài Loan) để xác định rò rỉ đường ống thoát nước ngầm. Ani và Arewa (2013) sử dụng 2D ERT tại đập đất Zaria (Nigeria) nhằm lập bản đồ các kênh thấm trong nền móng đá gốc. Walid Al-Fares (2014) kết hợp phương pháp điện từ (EM) và ERT để làm rõ hiện tượng thất thoát nước tại đập Afamia B (lưu vực Al-Ghab, Syria).
  • Phương pháp điện trường tự nhiên (SP): N. Al-Saigh et al. (1994) áp dụng SP để xác định vị trí cửa ra dòng thấm ở hạ lưu thân đập. A. Soueid Ahmed kết hợp đồng thời SP và điện trở suất nhằm xác định đường thấm từ thượng lưu về hạ lưu.
  • Phương pháp nhiệt hồng ngoại: William Herschel (1800) phát hiện bức xạ hồng ngoại; Thomas Johann Seebeck (1821) phát hiện hiệu ứng nhiệt điện. Raluca Plesu, Gabriel Teodoriu, George Tăranu (2012) tổng kết ứng dụng nhiệt kế hồng ngoại như một phương pháp không phá hủy trong giám sát công trình kiến trúc, bảo tồn di sản và phát hiện biến dạng nhiệt. Liu Qiang et al. (2016) sử dụng máy ảnh nhiệt hồng ngoại kiểm tra đường ống thông gió trong điều kiện nhiệt độ 70°C và xác định sai hỏng khi mức chênh lệch nhiệt độ lớn hơn 0,8°C.

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Nghiên cứu phương pháp đo sâu và thăm dò điện: Lâm Quang Thiệp và Lê Viết Dư Khương (1984) đề xuất phương pháp đo sâu và mặt cắt điện bằng thiết bị đối xứng và lưỡng cực hợp nhất; Lê Viết Dư Khương và Lâm Quang Thiệp (1984) công bố phương pháp lưỡng cực hai thành phần hợp nhất. Lê Viết Dư Khương và Vũ Đức Minh (2001), Vũ Đức Minh (2001, 2002, 2005) nghiên cứu phát triển các phương pháp đo sâu điện trở và đo sâu phân cực kích thích cải tiến (1D), giải quyết triệt để nhược điểm giải tích qua đạo hàm không ổn định. Nguyễn Trọng Nga (1997, 2011) nghiên cứu phương pháp thăm dò điện đa cực 2D/3D. Nguyễn Như Trung (2014), Phạm Ngọc Kiên và Nguyễn Như Trung (2016, 2018) nghiên cứu giảm thiểu ảnh hưởng của môi trường 3D lên lát cắt 2D trên đê đập. Nguyễn Như Trung và nnk (2020) kết hợp phương pháp đánh dấu muối và đo điện trở để xác định vận tốc dòng thấm dưới đáy cống Tắc Giang (Hà Nam).
  • Ứng dụng địa vật lý khảo sát đê, đập: Trần Cánh, Đinh Văn Toàn, Andreas Weller, Đoàn Văn Tuyến, Trịnh Việt Bắc, Phan Thị Kim Văn, Ngô Quốc Dũng (1995, 2000, 2002, 2005, 2011) ứng dụng tổ hợp điện đa cực và địa vật lý nông trên hệ thống đê sông Hồng, Thái Bình. Nguyễn Văn Giảng và nnk (1998, 1999) sử dụng công nghệ Ra đa xuyên đất khảo sát 5 km đê sông Hồng và đánh giá mang cống tại 19 cống dưới đê ở Hà Nam. Trịnh Văn Hạnh, Ngô Trí Côi, Đỗ Anh Chung (2002), Phạm Văn Động, Đỗ Anh Chung, Nguyễn Văn Lợi (2004, 2005, 2011, 2012, 2013) khảo sát tổ mối, dòng thấm và đường bão hòa tại hệ thống đê Nam Định, đập Buôn Kuốp.
  • Khảo sát "thoát không": Năm 2013, Viện Kỹ thuật Xây dựng phối hợp với Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình sử dụng Ra đa xuyên đất (GPR) để phát hiện thoát không trên mái thượng lưu đập đá đổ bản mặt bê tông Cửa Đạt (Thanh Hóa).

Khoảng trống luận án giải quyết

  1. Các nghiên cứu về thấm trước đây ở Việt Nam chủ yếu tiếp cận theo hướng định tính hoặc bán định lượng, chưa xây dựng được quy trình kỹ thuật hoàn chỉnh để xác định chính xác chiều sâu đường thấm bão hòa nhằm phục vụ cảnh báo nguy cơ mất an toàn đập.
  2. Các phương pháp đo sâu điện cải tiến (1D) trước đây có độ phân giải cao và giảm thiểu chi phí nhưng chưa được nâng cấp lên không gian 2D đa cực.
  3. Việc khảo sát ẩn họa "thoát không" dưới lớp bê tông lát mái hoàn toàn phụ thuộc vào GPR, gây tốn kém kinh phí và thời gian đo đạc kéo dài. Chưa có công trình nào tại Việt Nam nghiên cứu áp dụng phương pháp Nhiệt hồng ngoại để giải quyết bài toán phát hiện nhanh đới "thoát không".

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và mô hình toán học

  • Phương pháp Thăm dò điện đa cực cải tiến (TDĐĐCCT): Dựa trên nguyên lý tương hỗ và thuật toán của hệ cực đo sâu đối xứng cải tiến KM-01. Trong hệ cực KM-01, hai cực phát dòng $A, B$ được đặt ở phía trong, hai cực thu thế $M, N$ đặt ở phía ngoài đối xứng qua tâm ($MN/2 > AB/2$). Thiết kế này thu được hai đường cong đo sâu gối đầu $\rho_S^I$ và $\rho_S^{II}$ tại các khoảng cách dịch cực. Giá trị điện trở suất trung bình của hệ cực đối xứng cải tiến được tính theo công thức: $$\rho_S = \frac{\rho_S^I + \rho_S^{II}}{2}$$ Đường cong đo sâu điện trở chuyển đổi Petrovski $\rho_{QSP}$ được thiết lập thông qua biểu thức đại số thuần túy mà không cần tính đạo hàm: $$\rho_{QSP} = \frac{\rho_S^I}{2\frac{\rho_S^I}{\rho_S^{II}} - 1}$$ Nhằm chuyển đổi sang hệ cực đa điểm 2D (gọi là hệ cực MC đối xứng và MC lưỡng cực), luận án duy trì tỷ số không đổi giữa khoảng cách cực thu và cực phát ($M_1N_1/AB = 5,6$ và $M_2N_2/AB = 8,0$) nhưng chuẩn hóa bước tăng khoảng cách điện cực theo cấp số cộng tuyến tính tương thích với cáp đa cực tiêu chuẩn.
STT Kích thước nửa cực phát $AB/2$ (m) Kích thước nửa hệ cực $r_S = MN/2$ (m) Hệ số hệ cực $K_S$ Tỷ số $MN/AB$
1 0,5 2,8 23,84 5,6
2 0,5 4,0 49,18 8,0
3 0,7 4,0 34,80 5,7
4 0,7 5,6 71,81 8,0
5 1,0 5,6 49,46 5,6
6 1,0 8,0 - 8,0
  • Cơ sở lý thuyết phương pháp Nhiệt hồng ngoại: Ứng dụng định luật bức xạ nhiệt của vật đen tuyệt đối và định luật Stefan-Boltzmann. Khi có khoảng rỗng "thoát không" dưới lớp bê tông lát mái, lớp không khí đóng vai trò như một môi trường cách nhiệt, làm cản trở quá trình truyền nhiệt dẫn từ khối đất đá ẩm ướt bên dưới lên tấm bê tông và ngược lại. Do đó, vào các thời điểm có sự thay đổi mạnh mẽ của bức xạ mặt trời (nung nóng ban ngày, tỏa nhiệt ban đêm hoặc làm mát đột ngột do mưa), bề mặt bê tông nằm ngay phía trên đới "thoát không" sẽ có sự chênh lệch nhiệt độ ($\Delta T$) rõ rệt so với vùng bê tông tiếp xúc trực tiếp với đất đá nền.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

  • Thiết bị đo và công cụ xử lý:
    • Thiết bị thăm dò điện: Máy đo điện trở đa năng tự động SuperSting R1 và SuperSting R8/IP (Advanced Geosciences, Inc. - AGI).
    • Phần mềm xử lý: EarthImager 2D, Res2Dinv kết hợp mô-đun thuật toán chuyển đổi dữ liệu do tác giả xây dựng.
    • Thiết bị đo nhiệt: Camera ảnh nhiệt hồng ngoại chuyên dụng SEEK REVEAL PRO; hệ thống cảm biến nhiệt gắn tiếp xúc trong mô hình vật lý.
    • Thiết bị kiểm chứng: Máy Ra đa xuyên đất (GPR) và tài liệu hố khoan địa chất, ống quan trắc pizomet.
  • Thử nghiệm mô hình vật lý:
    • Mô hình bồn nước/bể thí nghiệm kiểm tra tính đáp ứng của hệ cực MC đối xứng và MC lưỡng cực đối với các vỉa điện trở suất nằm ngang, nằm nghiêng và mô hình thấm phức hợp ở các chiều sâu $h = 2,9\text{ m}$; $3,6\text{ m}$; $4\text{ m}$.
    • Mô hình vật lý mô phỏng đới "thoát không" dưới tấm bê tông trong điều kiện môi trường có chu kỳ nhiệt độ biến thiên từ $26^\circ\text{C}$ đến $34^\circ\text{C}$ để đo đạc sự biến thiên nhiệt độ bề mặt theo thời gian.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về đê, đập và ứng dụng các phương pháp Địa Vật lý để khảo sát ẩn họa trong đê đập đất

Chương này tổng kết cấu trúc kỹ thuật và phân loại đê, đập đất tại Việt Nam (đập đồng chất, đập không đồng chất, đập có tường nghiêng đất sét/vật liệu khác, đập có lõi giữa bằng sét, đập có màn chống thấm). Tác giả hệ thống hóa các dạng ẩn họa và sự cố công trình:

  1. Sự cố do dòng thấm (thấm qua thân, thấm qua mang cống/tràn xả lũ, thấm qua nền và thấm vòng qua bờ vai công trình).
  2. Sự cố sạt, trượt sập mái thượng lưu đập và mái đê phía sông khi mực nước rút nhanh đột ngột.
  3. Sự cố nứt ngang thân đập do lún không đều giữa lòng sông và thềm bờ.
  4. Sự cố nứt dọc thân đập do mất ổn định cung trượt.
  5. Sự cố tổ mối và sinh vật hại tạo hệ thống hang rỗng lớn hàng chục mét khối bên trong thân đê, đập.
  6. Sự cố "thoát không" dưới lớp bê tông lát mái bảo vệ mặt thượng lưu.

Chương 1 điểm lại các công trình nghiên cứu địa vật lý trong nước và quốc tế, chỉ rõ các hạn chế cốt lõi: phương pháp khảo sát thấm hiện nay chưa giải quyết triệt để bài toán định lượng ranh giới đường bão hòa; việc tìm kiếm đới "thoát không" hoàn toàn phụ thuộc vào GPR nên thời gian kéo dài và chi phí cao.

Chương 2: Nghiên cứu phát triển, cải tiến và áp dụng các phương pháp mới để phát hiện ẩn họa trong đê, đập đất

Trọng tâm chương 2 là việc thiết lập cơ sở toán học, quy trình công nghệ và thử nghiệm mô hình đối với hai phương pháp mới:

  • Cải tiến phương pháp Thăm dò điện đa cực (TDĐĐCCT):
    • Chuyển đổi thành công hệ cực đo đối xứng KM-01 và hệ cực lưỡng cực trục 1D thành hệ cực đa cực MC 2D (MC đối xứng và MC lưỡng cực) sử dụng 28 điện cực tiêu chuẩn.
    • Lập trình tập tin điều khiển đo tự động cho máy SuperSting. Xây dựng mô-đun giải tích tích hợp với phần mềm EarthImager 2D theo 2 phương án minh giải: (i) Môi trường phân lớp nằm ngang hoặc kéo dài theo phương ngang; (ii) Môi trường phân lớp bất đối xứng, biến đổi phức tạp hoặc chứa dị thường dạng khối/điểm.
    • Kết quả thử nghiệm trên mô hình số và mô hình thực nghiệm bể nước cho thấy hệ cực MC đối xứng và MC lưỡng cực cải tiến phản ánh trung thực ranh giới địa điện, độ nhạy cao hơn hệ cực Wenner và Wenner-Schlumberger truyền thống. Thử nghiệm thực địa tại đê Sen Chiểu (đoạn K32+322 - K32+512) đã khẳng định tính chính xác của lát cắt điện 2D cải tiến.
  • Nghiên cứu phương pháp Nhiệt hồng ngoại phát hiện "thoát không":
    • Khảo sát cấu tạo, nguyên lý hoạt động của hỏa kế bức xạ toàn phần và hỏa kế quang học, lựa chọn máy chụp ảnh nhiệt SEEK REVEAL PRO.
    • Xây dựng mô hình vật lý đới "thoát không" dưới tấm bê tông lát mái và bố trí mạng lưới sensor nhiệt độ để theo dõi diễn biến nhiệt ngày đêm.
    • Thử nghiệm cho thấy bề mặt bê tông phía trên đới "thoát không" có tốc độ hấp thụ nhiệt và giải phóng nhiệt khác biệt rõ rệt so với vùng lân cận. Quy luật chênh lệch nhiệt độ bề mặt được ghi nhận rõ nhất vào các khung giờ: 9h43 - 9h45, 11h, 13h, 15h và 19h.

Chương 3: Một số kết quả áp dụng thực tế trên đê đập

Chương 3 trình bày các kết quả ứng dụng thực tế của hai phương pháp tại các công trình trọng điểm:

  • Khảo sát vùng thấm và đường thấm bão hòa:
    • Đập Đồng Đò (Sóc Sơn, Hà Nội): Triển khai mạng lưới tuyến đo dọc tim đập, giữa mái hạ lưu tầng 1 và tầng 2 theo 2 phương án phân tích. Minh giải mặt cắt địa điện kết hợp địa chất xác định chính xác các đới dẫn nước có điện trở suất thấp, khoanh vùng vị trí thấm ngầm trong thân đập.
    • Đập chính hồ Đồng Mô (Sơn Tây, Hà Nội): Thực hiện hệ thống tuyến đo DMAT1, DMAT2, DMAT3, DMAT4, DMAT5 và tuyến ngang đập. Tác giả tính toán điểm uốn trên đường cong điện trở suất ($\rho_S$) để trích xuất ranh giới đường thấm bão hòa (ĐBH). So sánh đối chiếu trực tiếp giữa kết quả TDĐĐCCT và dữ liệu quan trắc từ các ống pizomet (pizomet A) cho thấy sự trùng khớp chặt chẽ về cao độ mực nước bão hòa.
    • Đoạn đê hữu Hồng (K80+500 - K80+900 / K80+600 - K81, Thanh Trì, Hà Nội): Đo đạc các tuyến dọc ria phía sông, ria phía đồng và cơ đê phía đồng. Phương pháp TDĐĐCCT phân chia chi tiết các lớp địa chất thân và nền đê, phát hiện các dị thường cục bộ như thấu kính cát, túi bùn có nguy cơ gây rò rỉ và lún sụt đê khi có lũ lớn; kết quả khớp với tài liệu khoan địa chất tại mốc K80+600.
    • Nghiên cứu các giải pháp cải thiện khả năng tiếp đất cho điện cực khi thi công trên các bề mặt khó tiếp xúc (khoan qua lớp bê tông mặt, khoan qua lớp nhựa mặt đường, đo qua mái lát đá đổ).
  • Khảo sát ẩn họa "thoát không" bằng Nhiệt hồng ngoại:
    • Đập thủy lợi Hua Khao (Tràng Định, Lạng Sơn): Thực hiện khảo sát nhiệt độ bề mặt mái bê tông trước mưa, trong khi mưa và sau khi tạnh mưa (1 giờ và 3 giờ). Kết quả ảnh nhiệt phát hiện nhanh các dị thường chênh lệch nhiệt độ. Tiến hành đo kiểm tra lại bằng Ra đa xuyên đất (GPR) tại các vị trí nghi ngờ đã xác nhận chính xác sự tồn tại của các khoang rỗng "thoát không".
    • Đập thủy điện Sê San 4 (Ia Grai, Gia Lai): Khảo sát nhiệt dọc theo các tấm bê tông lát mái thượng lưu vào các thời điểm khác nhau trong ngày. Phát hiện dị thường nhiệt phản ánh đới "thoát không" có kích thước thực tế khoảng $0,5\text{ m}$ (mặc dù trên mô hình lý thuyết đới $< 1\text{ m}$ rất khó nhận biết), sau đó được GPR tái khẳng định ranh giới.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  1. Xây dựng và hoàn thiện thành công phương pháp Thăm dò điện đa cực cải tiến (TDĐĐCCT) không gian 2D trên cơ sở tích hợp nguyên lý đo sâu điện cải tiến (1D) với kỹ thuật thăm dò đa cực truyền thống. Phương pháp cho phép chỉ cần thu thập số liệu bằng một hệ cực cải tiến duy nhất ngoài hiện trường nhưng khi xử lý tính toán có thể trích xuất đồng thời số liệu của cả hệ cực đối xứng và hệ cực lưỡng cực, loại bỏ sai số không ổn định từ phép tính đạo hàm truyền thống.
  2. Lần đầu tiên tại Việt Nam, nghiên cứu áp dụng thành công phương pháp Nhiệt hồng ngoại trong lĩnh vực khảo sát địa kỹ thuật công trình thủy lợi để xác định nhanh và cảnh báo vị trí ẩn họa "thoát không" dưới lớp bê tông lát mái, bổ sung một phương pháp mới vào hệ thống các phương pháp địa vật lý chuyên ngành.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Phương pháp TDĐĐCCT giúp rút ngắn đáng kể thời gian thi công thực địa và giảm kinh phí khảo sát nhưng cung cấp mật độ thông tin địa điện lớn hơn, nâng cao độ chính xác trong việc xác định vùng thấm, đường thấm bão hòa và các cấu trúc dị thường (thấu kính cát, túi bùn) trong thân đê, đập đất (đã kiểm chứng tại đập Đồng Đò, đập Đồng Mô và đê hữu Hồng).
  2. Thiết lập quy trình công nghệ kết hợp giữa phương pháp Nhiệt hồng ngoại và Ra đa xuyên đất: sử dụng thiết bị ảnh nhiệt hồng ngoại để rà soát nhanh diện rộng nhằm khoanh vùng các vị trí "thoát không", sau đó sử dụng GPR để định vị chính xác ranh giới hình học. Giải pháp này giúp tiết kiệm nguồn lực xử lý sự cố cho hàng ngàn công trình thủy lợi đã được bê tông hóa trên cả nước.
  3. Xác định các thông số kỹ thuật thực địa cho phương pháp Nhiệt hồng ngoại:
    • Khung thời gian đo đạc tối ưu trong ngày: từ 9h00 đến 13h00 và từ 16h00 đến 21h00.
    • Điều kiện ngưỡng nhiệt độ: Độ chênh lệch nhiệt độ tối thiểu giữa vị trí có "thoát không" và vị trí nền đặc tiếp xúc tốt là $\Delta T \ge 4^\circ\text{C}$ khi có nắng (hoặc thời điểm trời đang nắng chuyển mưa đột ngột).
    • Khả năng phát hiện các đới "thoát không" có kích thước từ $\ge 1\text{ m}$ theo lý thuyết và đạt tới $0,5\text{ m}$ trong thực tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phương pháp Nhiệt hồng ngoại chỉ phản ánh sự biến đổi trường nhiệt độ trên bề mặt ngoài của lớp bê tông, do đó khó xác định chính xác đường biên hình học cụ thể của đới "thoát không" nếu không kết hợp với Ra đa xuyên đất.
  • Hiệu quả của phương pháp Nhiệt hồng ngoại phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện thời tiết thực địa (yêu cầu phải có bức xạ mặt trời đủ mạnh để tạo độ chênh nhiệt $\Delta T \ge 4^\circ\text{C}$ hoặc có hiệu ứng làm mát nhanh của nước mưa).
  • Mô hình giải ngược 2D điện trở suất trong một số trường hợp cấu trúc địa hình và thân đập phức tạp vẫn chịu ảnh hưởng nhất định từ hiệu ứng biên 3D.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Tiếp tục hoàn thiện các thuật toán giải ngược 2D và 3D chuyên dụng cho hệ cực đo MC cải tiến nhằm lượng hóa chi tiết hơn các tham số vật lý của đới thấm.
  • Mở rộng nghiên cứu quy trình tổ hợp đồng bộ giữa ảnh nhiệt hồng ngoại chụp từ thiết bị bay không người lái (UAV) và thiết bị Ra đa xuyên đất đa tần số để tự động hóa công tác giám sát an toàn đê, đập trên quy mô lớn.

Giá trị tham khảo

  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu học thuật: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Vật lý Địa cầu, Địa chất công trình, Địa kỹ thuật và Thủy lợi - Thủy điện. Đặc biệt, các nội dung về thuật toán chuyển đổi hệ cực MC, công thức Petrovski cải tiến và mô hình truyền nhiệt trong bê tông có giá trị giảng dạy cao.
  • Đối với cơ quan quản lý và đơn vị tư vấn thiết kế: Cung cấp quy trình công nghệ khảo sát địa vật lý thực địa đáng tin cậy cho các Ban Quản lý Đầu tư & Xây dựng Thủy lợi, Chi cục Đê điều và Phòng chống lụt bão, các viện nghiên cứu chuyên ngành (Viện Thủy công, Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình, Viện Vật lý Địa cầu) để đánh giá nhanh hiện trạng, kiểm định an toàn đập hồ chứa và phát hiện sớm các ẩn họa ngầm.

Câu hỏi thường gặp

1. Phương pháp Thăm dò điện đa cực cải tiến (TDĐĐCCT) có điểm gì vượt trội so với phương pháp đo truyền thống?

Phương pháp TDĐĐCCT tích hợp ưu điểm của phương pháp đo sâu 1D cải tiến (sử dụng hệ cực KM-01 với cực phát $AB$ nằm trong cực thu $MN$, triệt tiêu phép tính đạo hàm không ổn định khi chuyển đổi đường cong thông qua công thức đại số Petrovski) vào quy trình đo đa điểm 2D. Khi thi công thực địa, chỉ cần thu thập dữ liệu bằng một hệ cực đo cải tiến duy nhất, hệ thống vẫn trích xuất đồng thời số liệu tương đương của cả hệ cực đối xứng và hệ cực lưỡng cực, giúp giảm thời gian đo, hạ giá thành và cho lát cắt địa điện có độ phân giải cao hơn.

2. Hiện tượng "thoát không" dưới lớp bê tông lát mái đê, đập là gì và gây nguy hiểm như thế nào?

"Thoát không" là hiện tượng nền đất đá bên dưới tấm bê tông lát mái bị lún sụt, xói mòn hoặc dịch chuyển, dẫn đến sự mất tiếp xúc và tạo ra một khoảng rỗng không khí giữa đất lót và bản mặt bê tông bên trên. Dưới tác dụng của trọng lượng bản thân tấm bê tông và áp lực cột nước hồ chứa, lớp bê tông tại vị trí mất điểm tựa sẽ chịu ứng suất uốn lớn, dễ nứt vỡ, gây rò rỉ nước vào thân đập, dẫn đến sạt lở và có thể gây vỡ đập.

3. Điều kiện khí tượng và khung thời gian nào trong ngày là tối ưu để áp dụng phương pháp Nhiệt hồng ngoại phát hiện "thoát không"?

Khung thời gian tối ưu trong ngày là từ 9h00 đến 13h00 (giai đoạn bê tông hấp thụ mạnh bức xạ mặt trời) và từ 16h00 đến 21h00 (giai đoạn tỏa nhiệt ra môi trường). Điều kiện thời tiết cần thiết là trời có nắng sao cho mức chênh lệch nhiệt độ bề mặt giữa vị trí có "thoát không" và vị trí bình thường đạt tối thiểu $\Delta T \ge 4^\circ\text{C}$, hoặc thời điểm trời đang nắng gắt bất ngờ có mưa rào làm mát bề mặt.

4. Kết quả khảo sát thực tế tại đập chính Đồng Mô đã chứng minh hiệu quả của phương pháp TDĐĐCCT như thế nào?

Tại đập chính Đồng Mô, các tuyến đo TDĐĐCCT (DMAT1 đến DMAT5 và tuyến ngang) đã xác định rõ sự phân bố điện trở suất và tính toán được vị trí điểm uốn tương ứng với đường thấm bão hòa (ĐBH) trong thân đập. Khi so sánh đối chiếu với số liệu mực nước đo thực tế trong các ống quan trắc pizomet (pizomet A), cao độ đường bão hòa trích xuất từ tài liệu TDĐĐCCT hoàn toàn trùng khớp, chứng minh độ tin cậy của phương pháp.

5. Tại sao cần kết hợp phương pháp Nhiệt hồng ngoại với phương pháp Ra đa xuyên đất (GPR)?

Phương pháp Nhiệt hồng ngoại có ưu thế thao tác rất nhanh, bao quát diện tích rộng và chi phí thấp để phát hiện vùng nghi ngờ, nhưng chỉ đo trường nhiệt bề mặt nên không định vị được chính xác chiều sâu và ranh giới biên hình học của khoang rỗng. Do đó, việc kết hợp sử dụng Nhiệt hồng ngoại để quét nhanh diện rộng, sau đó dùng GPR đo quét chi tiết tại các vị trí dị thường giúp tối ưu hóa thời gian, tiết kiệm chi phí và đảm bảo xác định chính xác vị trí đới "thoát không".


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Anh Chung đã giải quyết trọn vẹn hai bài toán cấp thiết trong công tác đánh giá an toàn công trình đê, đập đất tại Việt Nam bằng phương pháp địa vật lý hiện đại. Tác giả đã phát triển thành công phương pháp Thăm dò điện đa cực cải tiến (TDĐĐCCT) 2D giúp xác định chính xác vùng thấm và đường thấm bão hòa trong thân đập với thời gian và chi phí tối ưu. Đồng thời, công trình lần đầu tiên ứng dụng hiệu quả phương pháp Nhiệt hồng ngoại kết hợp Ra đa xuyên đất để phát hiện nhanh ẩn họa "thoát không" dưới các tấm bê tông lát mái. Các kết quả nghiên cứu đã được thử nghiệm lý thuyết, kiểm chứng trong phòng thí nghiệm và áp dụng thành công tại nhiều công trình đê, đập thực tế, đóng góp giá trị khoa học và thực tiễn cho ngành Vật lý Địa cầu và quản lý an toàn đê đập tại Việt Nam.