Luận án tiến sĩ vật lý học nghiên cứu phát triển áp dụng các phương pháp địa vật lý để phát hiện một số ẩn họa điển hình trong hệ thống đê đập đất ở việt nam

Luận án tiến sĩ vật lý nghiên cứu vật lý học nghiên cứu phát triển áp dụng các phương pháp địa vật lý để phát hiện một số ẩn họa điển, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Vật lý địa cầu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ vật lý học

2023

207
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE DE, DAP VA UNG DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DIA VAT LY DE KHAO SAT AN HOA TRONG DE DAP DAT

1.1. Giới thiệu về đê, đập đất

1.2. Các loại ấn họa trong đê đập đất

1.3. Tình hình nghiên cứu phát hiện các ấn họa trong đê đập đất

1.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.4. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN, CẢI TIẾN VÀ ÁP DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP MỚI ĐỂ PHÁT HIỆN ẤN HỌA TRONG ĐÊ, ĐẬP ĐẤT

2.1. Cải tiến phương pháp thăm dò điện đa cực

2.2. Nghiên cứu khả năng áp dụng phương pháp nhiệt hồng ngoại để xác định “thoát không” dưới bê tông

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KẾT QUẢ ÁP DỤNG THỰC TẾ TRÊN ĐÊ ĐẬP

3.1. Một số kết quả khảo sát thám trùng đê, đập

3.2. Nghiên cứu mô hình vùng thấm trong thân đê, đập

3.3. Khảo sát vùng thấm bão hòa trên đập chính Đồng Mô

3.4. Kết quả khảo sát thoát không bằng phương pháp nhiệt hồng ngoại

3.5. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Tóm tắt

I. Tổng quan về đê đập và ứng dụng các phương pháp địa vật lý để khảo sát ẩn họa trong đê đập đất

Đê và đập đất là những công trình quan trọng trong hệ thống thủy lợi của Việt Nam. Chúng không chỉ có vai trò trong việc kiểm soát nước mà còn bảo vệ đất đai và tài sản của người dân. Tuy nhiên, các công trình này thường gặp phải nhiều vấn đề như thấm nước, sạt lở, và các hiện tượng ẩn họa khác. Việc áp dụng địa vật lý để phát hiện các ẩn họa trong hệ thống đê đập là cần thiết nhằm đảm bảo an toàn đê điều. Các phương pháp như thăm dò điện đa cực và nhiệt hồng ngoại đã được nghiên cứu và áp dụng để xác định các khu vực có nguy cơ cao. Theo nghiên cứu, việc phát hiện sớm các nguy cơ sạt lở và thấm nước có thể giúp giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.

1.1 Giới thiệu về đê

Đê là những công trình đất được xây dựng để ngăn chặn nước từ sông, hồ tràn vào đất canh tác. Hệ thống đê điều ở miền Bắc Việt Nam rất phong phú, với nhiều loại đê khác nhau. Việc xây dựng và bảo trì các đê này là rất quan trọng để bảo vệ mùa màng và tài sản của người dân. Tuy nhiên, do thời gian sử dụng lâu dài, nhiều đê đã xuất hiện các hiện tượng như thấm nước và sạt lở. Việc áp dụng công nghệ địa vật lý để khảo sát và phát hiện các ẩn họa trong đê là một giải pháp hiệu quả nhằm đảm bảo an toàn cho các công trình này.

1.2 Tình hình nghiên cứu phát hiện các ẩn họa trong đê đập đất

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để phát hiện các ẩn họa trong hệ thống đê đập. Các phương pháp như thăm dò điện, radar xuyên đất và nhiệt hồng ngoại đã được áp dụng thành công. Tại Việt Nam, nghiên cứu về địa vật lý trong phát hiện ẩn họa còn mới mẻ nhưng đã cho thấy tiềm năng lớn. Việc áp dụng các phương pháp này không chỉ giúp phát hiện sớm các vấn đề mà còn tiết kiệm thời gian và chi phí cho các công trình thủy lợi. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc kết hợp nhiều phương pháp sẽ mang lại hiệu quả cao hơn trong việc đánh giá tình trạng của các đê đập.

II. Nghiên cứu phát triển cải tiến và áp dụng các phương pháp mới để phát hiện ẩn họa trong đê đập đất

Nghiên cứu này tập trung vào việc phát triển và cải tiến các phương pháp địa vật lý nhằm phát hiện các ẩn họa trong đê, đập đất. Phương pháp thăm dò điện đa cực đã được cải tiến để nâng cao độ chính xác trong việc xác định các khu vực có nguy cơ thấm nước. Bên cạnh đó, phương pháp nhiệt hồng ngoại cũng được áp dụng để phát hiện nhanh chóng các vị trí bị thoát không dưới lớp bê tông. Các thử nghiệm thực địa cho thấy rằng việc kết hợp hai phương pháp này mang lại kết quả khả quan, giúp cảnh báo sớm các vấn đề có thể xảy ra. Điều này không chỉ giúp bảo vệ các công trình mà còn đảm bảo an toàn cho người dân sống xung quanh.

2.1 Cải tiến phương pháp thăm dò điện đa cực

Phương pháp thăm dò điện đa cực đã được cải tiến để tăng cường khả năng phát hiện các ẩn họa trong đê đập. Việc áp dụng hệ cực đo cải tiến giúp nâng cao độ chính xác trong việc xác định các khu vực thấm nước. Các thử nghiệm cho thấy rằng phương pháp này có thể phát hiện được các vấn đề sớm hơn so với các phương pháp truyền thống. Điều này rất quan trọng trong việc đảm bảo an toàn đê điều và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng công nghệ mới trong khảo sát địa vật lý là một hướng đi đúng đắn.

2.2 Nghiên cứu khả năng áp dụng phương pháp nhiệt hồng ngoại

Phương pháp nhiệt hồng ngoại đã được nghiên cứu và áp dụng để xác định nhanh chóng các vị trí bị thoát không dưới lớp bê tông. Kết quả thử nghiệm cho thấy rằng phương pháp này có thể phát hiện các vấn đề một cách nhanh chóng và hiệu quả. Việc sử dụng thiết bị hồng ngoại để đo nhiệt độ giúp xác định các khu vực có nguy cơ cao mà không cần phải thực hiện các công việc khảo sát phức tạp. Điều này không chỉ tiết kiệm thời gian mà còn giảm thiểu chi phí cho các công trình thủy lợi. Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới trong việc ứng dụng công nghệ địa vật lý vào thực tiễn.

III. Một số kết quả áp dụng thực tế trên đê đập đất

Kết quả áp dụng các phương pháp địa vật lý trong khảo sát thực tế trên các đê đập đất cho thấy hiệu quả rõ rệt. Các nghiên cứu đã được thực hiện trên nhiều công trình khác nhau, từ đập Đồng Đò đến đập Hua Khao. Việc phát hiện sớm các ẩn họa như thấm nước và sạt lở đã giúp các cơ quan chức năng có biện pháp xử lý kịp thời. Các kết quả này không chỉ có giá trị trong việc bảo vệ các công trình mà còn góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ trong quản lý và bảo trì các công trình thủy lợi.

3.1 Kết quả khảo sát thăm dò điện đa cực

Kết quả khảo sát bằng phương pháp thăm dò điện đa cực cho thấy khả năng phát hiện các ẩn họa trong đê đập rất hiệu quả. Các khu vực có nguy cơ thấm nước đã được xác định rõ ràng, giúp các cơ quan chức năng có biện pháp xử lý kịp thời. Việc áp dụng phương pháp này không chỉ tiết kiệm thời gian mà còn nâng cao độ chính xác trong việc đánh giá tình trạng của các công trình. Các kết quả này đã được ghi nhận và đánh giá cao trong các hội thảo chuyên ngành.

3.2 Kết quả khảo sát nhiệt hồng ngoại

Phương pháp nhiệt hồng ngoại đã cho thấy hiệu quả trong việc phát hiện nhanh chóng các vị trí bị thoát không. Kết quả khảo sát cho thấy rằng việc sử dụng thiết bị hồng ngoại giúp xác định các khu vực có nguy cơ cao mà không cần phải thực hiện các công việc khảo sát phức tạp. Điều này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn giảm thiểu chi phí cho các công trình thủy lợi. Các kết quả này đã được áp dụng thực tế trên nhiều đập và cho thấy tính khả thi cao trong việc ứng dụng công nghệ mới vào thực tiễn.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ vật lý học nghiên cứu phát triển áp dụng các phương pháp địa vật lý để phát hiện một số ẩn họa điển hình trong hệ thống đê đập đất ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE DE, DAP VA UNG DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DIA VAT LY DE KHAO SAT AN HOA TRONG DE DAP DAT 1. GIOI THIEU VE DE, DAP DAT 1. Giới thiệu về đê Dé là những đường đất đắp cao doc theo bờ sông, bờ ngòi hoặc bờ biến dé giữ nước khỏi tràn vào đồng ruộng ở hai bên, và để gọi chung tất cả những đê phòng lụt, người ta dùng danh từ đê điều. Chống lại nước sông và nước biên, phương tiện hữu hiệu duy nhất là đê điều.

Ở miền Bắc Việt Nam có cả một hệ thống đê điều, có con đê đài, có con đê ngắn, có con đê lớn, có con đê nhỏ dé chống giữ nước lụt trong vụ nước. Ở Việt Nam việc đắp đê phô biến nhất dọc hai bên bờ sông Hồng, sông Lam,. Ngoài con đê chính, lui vào sâu hơn trong đất liền có khi người dân còn đắp thêm những con đê phụ gọi là đê quai hoặc đê con trạch, phòng hờ đê chính vỡ thì còn cứu được phần nào ruộng xa sông khỏi bị lụt (Cửu Long Giang, Toan Ánh, 1969) Từ khi chưa hình thành các triều đại phong kiến, các đê doc theo các con sông lớn chưa hình thành mà chỉ tồn tại dưới dạng các bờ bao, bờ vùng phục vụ cho việc chắn nước cục bộ trong phạm vi hẹp của các bộ lạc, bộ tộc. Việc xây dựng hệ thống đê trên các con sông lớn được manh nha ở Liên Lâm (nay thuộc Tiên Sơn), Long Biên (bờ bắc Sông Đuống).

Năm 824, chính quyền đô hộ nhà Đường dời phủ từ Long Biên về huyện Tống Bình gần sông Tô Lịch và đắp một hệ thống thành gọi là La Thành. Năm 1077, nhà Lý cho đắp đê sông Như Nguyệt - sông Cầu dài 67. Năm Quý Mui (1103), triều Lý Nhân Tông năm thứ 32, mùa xuân tháng giêng, vua xuống chiếu cho trong và ngoài kinh thành đều phải đắp đê ngăn nước lụt. Tháng 3 năm Mậu Tý (1108), con đê đầu tiên của sông Hồng được đắp ở phường Cơ Xá có nhiệm vụ bảo vệ kinh thành Thăng Long (từ Nghi Tam đến đầm Vạn Xoan - Thanh Trì).

Vào thời nhà Trần, 1248, nước sông Hồng lên to, đê vỡ làm nội thành bị lụt lội. Nhà vua ra lệnh cho các tỉnh ở hai bên sông Hong từ 14 thượng nguồn ra tới biển phải đắp đê phòng lũ. Từ đó, việc đắp đê rất được chú trọng. Ngoài các tuyến đê sông lớn như sông Hồng, các tuyến đê sông khác như sông Đuống, sông Đà, sông Day.

vẫn tiếp tục được xây dựng và nâng cấp dé chống với các trận lũ lớn hàng năm. Triều đình cũng cho phép các vương, hầu có quyền chiêu tập những người nghèo khó, lưu lạc đi khai khan đất hoang dé mở mang thêm ruộng nương. Có thể nói rằng hệ thống đê sông Hồng được hoàn chỉnh dưới thời vua Trần Thái Tông, cách nay hơn 750 năm (Trần Văn Tư, Đào Minh Đức, 2010). Giới thiệu về đập đất Đập dat là một loại công trình chặn dong dé tích nước rat phố biến.

Nó thường có mặt ở các hệ thống đầu mối thủy lợi - thủy điện với chức năng tạo ra hồ chứa dé điều tiết chế độ dòng chảy tự nhiên của sông suối phục vụ các mục đích khác nhau như phát điện, chống lũ, cấp nước, tưới, v. Tính phố biến của đập đất là nhờ những ưu điểm sau đây: 1) Có cấu tạo đơn giản nhưng rất phong phú; 2) Cho phép sử dụng các loại đất có san ở khu vực công trình; 3) Có thể xây dựng trên mọi loại nên và trong mọi điều kiện khí hậu; 4) Cho phép cơ giới hoá các công đoạn thi công từ khai thác vật liệu, chuyên chở, dap, đầm nén, v.; 5) Làm việc tin cậy kế cả ở vùng có động dat. Đập đất không cho phép nước tràn qua, do vậy còn gọi là đập khô. Trường hợp cá biệt, ví dụ đập rất thấp ở miền núi, có thể cho nước tràn qua khi tháo lũ, nhưng phải có các bộ phận gia cố mặt tràn dé chống xói lở, đồng thời mái đốc phải đủ thoải (Trịnh Trọng Hàn, 2009).

Đập dat có các loại phô biến như sau: 1- Đập đồng chất, gồm một loại đất (Hình 1-1a). 2- Dap không đồng chất, gồm nhiều loại đất (Hình 1-1b). 3- Dap có tường nghiêng bằng đất sét (Hình I-Ic). 4- Đập có tường nghiêng bằng vật liệu không phải là đất (Hình 1-14).

5- Đập có lõi giữa bằng đất sét (Hình 1-14). 15 6- Đập có màn chống thâm (Hình 1-1e). Cac loai dap dat dap a) Dap đồng chat; b) Đập không đồng chất; c) Dap có tường nghiêng bằng đất sét; d) Đập có tường nghiêng không phải là đất; đ) Dap có lõi giữa bằng sét; e) Đập có màn chống thấm; 1- mái thượng lưu; 2- gia cô mái; 3- đính đập; 4- mái hạ lưu; 5- thân đập; 6- lăng trụ thoát nước; 7- đáy đập; 8- vùng chuyền tiếp; 9- khối trung tâm; 10- lớp bảo vệ; 11- tường nghiêng; 12- khối nêm thượng lưu; 13- lõi; 14- khối nêm hạ lưu; 15- màn chống thắm; MNDBT- Mực nước dâng bình thường; MNHL — Mực nước hạ lưu (Trịnh Trọng Hàn, 2009). CÁC LOẠI AN HỌA TRONG DE DAP DAT 1.

Sự cố gây ra do dòng thắm Tham gây ra hư hỏng cục bộ trong đê, đập và nén là hiện tượng thường gặp ở phan lớn các đê, đập đất - đá đang hoạt động. Chúng thuộc loại nguy cơ tiềm ân mà về lâu dai có thé dẫn đến sự cé vỡ đê, đập. Sự phá hủy ngầm của thấm diễn ra ở bên trong (không phát hiện được) một cách lặng lẽ, thường kéo dai trong nhiều năm nên khi bùng phát ra sự cố thường rất khó khắc phục (Hoàng Xuân Hồng, 2009). Sự cô thấm trong thân đê, đập Sự cố thấm trong thân đê, đập bắt nguồn từ sự phát triển dong thấm chuyền dần sang sự hình thành dòng chảy tự do.

Chiu áp lực của cột nước thượng lưu, dòng 16 chảy này ngày càng tăng lên cả lưu lượng lẫn lưu tốc vì quá trình chảy luôn cuốn theo các thành phan hạt nhỏ làm cho đường chảy luôn mở rộng. Sự phát trién đường chảy gây sập lở vùng chuyền tiếp đắp bằng các vật liệu thô tạo nên các hang rỗng và đến một thời điểm khi vận tốc, lưu lượng nước đủ mạnh thì phá vỡ cửa ra ở hạ lưu, lấn dần vào thân đập. Nếu không xử lý kịp thời có thể dẫn đến vỡ đập. Tìm được những nhược điềm, khiếm khuyết trong cau tạo mặt cắt đập coi như là đã giải quyết cơ bản được tai nạn thấm.

Sự cố thấm ở mang công trình Khi trong đê, đập đất có bố tri công trình bê tông (cống, tràn, .) thì ở vị trí tiếp giáp của công trình với dat đắp là nơi thường gây ra sự có về thấm. Vùng tiếp giáp này chỉ có thé ồn định khi van đề lún ở đây được khống chế chặt chẽ. Cu thể là lún của công trình bê tông luôn nhỏ hơn rất nhiều so với lún của đập. Điều này cho phép tạo ra sự nén ép thường xuyên của đất đắp đập lên công trình bê tông, bù kín và giảm thiểu bề rộng khe tiếp giáp.

Sự có thấm ở nên dé, đập Sự cố thấm ở nền đê, đập chủ yếu do đánh giá sai dia chất nền đập; do biện pháp thiết kế xử lý nền không đảm bảo chất lượng hoặc thi công xử lý không đúng thiết kế 1. Sự cô thắm qua bờ vai đập Hiện tượng mat ồn định do thấm dẫn đến hư hỏng bờ vai đập thường xảy ra ở vùng bờ vai là đất có độ rỗng lớn, xốp và đất bụi có tính đính kết yếu, các đá nứt nẻ lớn. Xử lý tiếp giáp giữa đập đắp và đập bê tông với bờ vai không đúng cách cũng tạo ra sự cô này. Thông thường, vùng tiếp giáp với vai đập đất đá đều được san bạt giảm bớt độ dốc, đánh bậc rộng và xử lý chống thấm ăn sâu vào vai nhằm tạo ra đường thấm vòng trên mặt bang đủ dài để gradien thắm trong đất và cửa ra nhỏ hon gradien cho phép.

Sat, sập mái thượng lưu đập và mái dé phía sông Hiện tượng rút nước nhanh không kiểm soát trong thời kỳ hồ đầy nước là nguy cơ gây sập mái (trượt mái) nguy hiểm nhất. Hậu quả rút nước nhanh đã làm cho 17 cung trượt nặng thêm (do bị bão hòa), trong cung trượt xuất hiện dong thâm chảy về mái (thượng lưu) kéo cung trượt đi xuống. Dưới tác dụng của 2 loại lực gia tăng nói trên nếu không tính trước có thé dẫn đến hiện tượng sập mái. Sự cố do nứt ngang dé, đập Nứt ngang đập là sự cố thuộc dạng nguy hiểm, khó xử lý, đặc biệt ở những đập có chiều cao lớn.

Hiện tượng này cũng đã từng xảy ra ở Việt Nam. Nguyên nhân thiết kế dé xảy ra tình trạng nứt ngang đập nam ở phan tô chức mặt bằng nền đập. Thông thường, trên tuyến đập, cao độ ở vùng lòng dẫn chính thường ở thấp hơn rất nhiều so với các cao độ ở thềm. Nhiều khi thân và lòng sông chuyên tiếp bằng một bậc thụt thăng đứng.

Chiều cao đập ở lòng sông và thềm chênh nhau lớn thì kết quả lún ở 2 vị trí này cũng vậy. Nếu không cải tạo mặt bằng bờ tiếp giáp thì về lâu dài ở vị trí này sẽ phát sinh các vết nứt ngang đập, hình thành những vết nứt cắt ngang toan mặt cắt đập. Tương tự, trình tự triển khai thời gian giữa 2 khối dap dé cách nhau quá xa, tại vùng tiếp giáp ở hai phía cũng gây ra sự khác biệt về lún dẫn đến nứt ngang đập. Các vệt nứt này có thé không sâu nhưng cũng dé lại một khiếm khuyết có thé tạo ra sự cô.

Sự có do nứt dọc đê, đập Trong xây dựng, nhiều khi cũng gặp các vết nứt dọc đập. Nguyên nhân gây nứt van là tình trạng ôn định của cung trượt thấp. Trong các đập phân khối, khi bố trí lăng trụ chống thấm nằm doc mái thượng lưu nền không kiểm soát cần than có thể phát sinh hiện tượng trượt theo mặt tiếp xúc giữa 2 khối mà không phải trượt theo cung tràn như thường dùng trong tính ồn định mái. Giảm thiêu sự cỗ đập căn bản và hiệu quả nhất vẫn là tiếp tục nâng cao năng lực khảo sát thiết kế.

Cần sớm hoàn thiện, nâng cao công nghệ bằng cách định ra những bài toán trực tiếp liên quan đến an toàn đập và phải xem đó là một thành phần trong đồ án khảo sát thiết kế công trình. Cần có kinh phí để chủ đập cùng tư vấn thiết kế có điều kiện theo dõi, đánh giá diễn biến của công trình sau xây dựng, có thêm tư liệu nâng cao chất lượng kỹ thuật 18 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu áp dụng địa vật lý phát hiện ẩn họa trong hệ thống đê đập đất Việt Nam" trình bày những phương pháp địa vật lý tiên tiến nhằm phát hiện và đánh giá các nguy cơ tiềm ẩn trong hệ thống đê đập đất. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng công nghệ này để bảo vệ an toàn cho các công trình thủy lợi, đồng thời giảm thiểu rủi ro thiên tai. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các kỹ thuật địa vật lý mà còn chỉ ra những lợi ích thiết thực cho việc quản lý và bảo trì hệ thống đê đập, từ đó nâng cao hiệu quả công tác phòng chống lũ lụt.

Để mở rộng thêm kiến thức về các ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực xây dựng và bảo vệ môi trường, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ chuyên ngành kỹ thuật xây dựng nghiên cứu đề xuất giải pháp công trình bảo vệ bờ bãi tầm xá sông hồng, nơi nghiên cứu các giải pháp bảo vệ bờ sông. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ chuyên ngành xây dựng công trình thủy nghiên cứu cửa van phao chữ nhân có cửa điều tiết phái trên ứng dụng cho các cửa sông ven biển cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các công trình thủy và ứng dụng của chúng. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ nghiên cứu công nghệ iot và ứng dụng trong hệ thống giám sát chất lượng không khí hà nội, để thấy được sự kết hợp giữa công nghệ hiện đại và bảo vệ môi trường.