phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn có kết cấu gồm 3 chƣơng nhƣ sau: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển NTTS. - Chƣơng 2: Thực trạng phát triển NTTS trên địa bàn huyện Tuy Phƣớc. - Chƣơng 3: Các giải pháp phát triển NTTS trên địa bàn huyện Tuy Phƣớc. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Tài liệu nước ngoài Từ thế kỷ thứ XVIII, David Ricardo (1772-1823) đã cho rằng “đất đai nông nghiệp là nguồn gốc của sự tăng trƣởng kinh tế”.
Do các nguồn tài nguyên đất đai có giới hạn, trong khi dân số tăng nhanh, vì vậy việc phát triển các ngành trong nông nghiệp dựa vào khai thác loại tƣ liệu sản xuất từ nguồn tài nguyên chủ yếu này. Từ đó trong hoạch định chính sách phát triển NTTS cần phải biết khai thác và sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả đất đai và các nguồn tài nguyên gắn với đất là mặt nƣớc; cần phải nâng cao trình độ thâm canh để tăng năng suất. Năm 1955, mô hình hai khu vực đƣợc sử dụng bởi nhà kinh tế học ngƣời Mỹ Arthus Lewis. Theo quan điểm Lewis thì gắn phát triển nông nghiệp nói chung và thủy sản nói riêng với phát triển công nghiệp.
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế này làm tăng hiệu quả sử dụng lao động (di chuyển lao động dƣ thừa trong nông nghiệp sang lĩnh vực khác), từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động của nền kinh tế nói chung và trong nông nghiệp nói riêng. Để khắc phục tình trạng này cần phải đầu tƣ cho nông nghiệp cả về chiều rộng cũng nhƣ chiều sâu để nâng cao năng suất lao động. Ông cũng cho rằng cần 5 đẩy mạnh cơ khí hóa trong nông nghiệp và tăng cƣờng áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vào sản xuất. Vận dụng lý thuyết về thay đổi cơ cấu này của Lewis trong xây dựng giải pháp phát triển NTTS ở Tuy Phƣớc chính là sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nội bộ ngành nông nghiệp, tức là có thể chuyển đổi những vùng trồng lúa năng suất thấp, bấp bênh sang NTTS có năng suất, hiệu quả cao hơn hẳn; Phát triển NTTS gắn với phát triển công nghiệp và dịch vụ.
Roy Hadod - Evsey Domar (1940) nhấn mạnh đến hiệu quả sử dụng vốn trong sản xuất nói chung và trong sản xuất NTTS nói riêng. Với quan điểm tƣơng tự, Robert Solow (1956) cho rằng việc tăng khối lƣợng vốn sản xuất qua đầu tƣ chỉ giúp tăng trƣởng sản xuất trong ngắn hạn nhƣng không hiệu quả trong dài hạn. Sung Sang Park (1992) phác họa 3 giai đoạn trong sản xuất NTTS. Giai đọan thứ nhất - giai đoạn sơ khai, các yếu tố tự nhiên và lao động đóng vai trò chủ yếu; Giai đoạn thứ hai đƣợc bổ sung thêm các yếu tố đầu vào đƣợc tạo ra từ khu vực công nghiệp nhƣ thức ăn công nghiệp, hóa chất… Trong giai đoạn thứ ba - giai đoạn phát triển, năng suất lao động tăng lên chủ yếu nhờ vào thành tựu khoa học và kỹ thuật mà cụ thể là máy móc, thiết bị hiện đại và công nghệ.Park nhấn mạnh đến vốn con ngƣời, từ đó cho thấy: trình độ lao động quyết định tiến bộ công nghệ; đầu tƣ cho giáo dục cũng chính là đầu tƣ cho phát triển.
Hội thảo quốc tế về “Kế hoạch hành động cho phát triển bền vững và mở rộng mô hình hợp tác xã thủy sản” diễn ra vào ngày 26 - 27/6/2009 tại Hà Nội đã trình bày các kết quả nghiên cứu cũng nhƣ kinh nghiệm của một số quốc gia về phát triển và mở rộng mô hình hợp tác xã NTTS (kinh nghiệm của Tây Ban Nha, của một số tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam trong việc hỗ trợ phát triển mô hình hợp tác xã NTTS, kinh nghiệm của Chính phủ Việt Nam 6 liên quan đến việc mở rộng mô hình hợp tác xã NTTS). Tuy nhiên, các báo cáo khoa học trong hội nghị này chƣa đề cập một cách toàn diện đến việc xây dựng, hoạt động, củng cố và phát triển nghề NTTS. Nghiên cứu trong nước Đề tài của TS. Lê Bảo (2006) về “ Phát triển nuôi tôm bền vững ở các tỉnh Duyên hải miền Trung” [4] đã nghiên cứu hệ thống hóa lý luận về phát triển NTTS bền vững.
Tác giả đã sử dụng phƣơng pháp điều tra khảo sát chọn mẫu các hộ nuôi tôm trên địa bàn các tỉnh Duyên hải miền Trung để nghiên cứu định lƣợng các nhân tố ảnh hƣởng đến năng suất tôm nuôi thu hoạch nhƣ: công lao động, chi phí thức ăn, chi phí phòng dịch bệnh… từ đó nghiên cứu tính bền vững của hoạt động nuôi tôm trên các mặt kinh tế, xã hội, môi trƣờng, thể chế và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển nuôi tôm bền vững trên địa bàn các tỉnh Duyên hải miền Trung. Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để mở rộng nghiên cứu NTTS ở huyện Tuy Phƣớc. Tác giả Nguyễn Long (2004) trong nghiên cứu về khai thác và NTTS ven bờ ở Duyên hải Nam Trung Bộ đã nhận định rằng vùng biển ven bờ đang bị khai thác quá mức, sản lƣợng khai thác trên một đơn vị cƣờng lực giảm sút nhanh chóng, cạnh tranh trong khai thác dẫn đến hủy diệt nguồn lợi. Từ đó, tác giả đề xuất một chu trình cho nuôi trồng, khai thác và chế biến để đạt đƣợc giá trị gia tăng cho NTTS.
Vận dụng và khai thác các nội dung của tác giả nêu trên để đề xuất các giải pháp cho đề tài. Tác giả Nguyễn Trung Kiên và Phan Văn Hòa, Trƣờng Đại học Kinh tế, Đại học Huế trong đề tài nghiên cứu “Lợi thế so sánh và năng lực cạnh tranh của tôm nuôi ở Tuy Phƣớc, Bình Định trên thị trƣờng thế giới” năm 2012 [8], cho rằng nuôi tôm ở huyện Tuy Phƣớc có lợi thế so sánh cao trên thị trƣờng thế giới với điều kiện môi trƣờng không bị ô nhiễm, dịch bệnh không xảy ra và không sử dụng chất kháng sinh trong bất kỳ trƣờng hợp nào. Nếu bỏ ra 7 0,7523 USD chi phí nội nguồn để nuôi tôm và xuất khẩu sẽ thu về một lƣợng giá trị ngoại tệ gia tăng là 1 USD. Tuy nhiên, để nâng cao lợi thế so sánh, khả năng cạnh tranh và hiệu quả nuôi tôm trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thƣơng mại nhƣ hiện nay cần phải quy hoạch chi tiết phát triển NTTS, hoàn thiện cơ sở hạ tầng theo hƣớng đầu tƣ thâm canh và sản xuất sạch; thực hiện chính sách huy động vốn, tín dụng hợp lý; áp dụng mạnh mẽ tiến bộ khoa học công nghệ mới vào nuôi trồng, bảo quản, chế biến, đóng gói và tiêu thụ; bên cạnh đó, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng yêu cầu của NTTS xuất khẩu; Hộ nuôi tôm cần tập trung đầu tƣ nuôi 1 vụ trong năm; đầu tƣ tăng thêm giống, thức ăn công nghiệp, lao động, tăng cƣờng kiểm dịch thủy sản, đầu tƣ cơ sở hạ tầng và xử lý môi trƣờng; hạn chế nuôi tôm bằng thức ăn tƣơi nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng, dịch bệnh, giảm chi phí phòng trừ và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Đây là cơ sở để đề xuất các giải pháp phát triển NTTS của huyện Tuy Phƣớc. Tác giả Lâm Văn Mẫn, trong Luận án tiến sĩ kinh tế “Phát triển bền vững ngành thủy sản Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2015”, Trƣờng Đại học kinh tế TP Hồ Chí minh, năm 2006 [9], đã tập trung nghiên cứu ngành Thủy sản Đồng bằng sông Cửu Long (và có xem xét trong tổng thể Việt Nam), bao gồm các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến và tiêu thụ thủy sản. Cụ thể hơn là nghiên cứu tiềm năng nguồn lợi, sản lƣợng thủy sản, thực trạng của các tàu đánh cá, các hợp tác xã nghề cá, các hộ nuôi trồng, các doanh nghiêp chế biến và xuất khẩu thủy sản; Xem xét những yếu tố có liên quan đến phát triển (nhƣ: nguồn lực lao động, vốn, khoa học - công nghệ, tài nguyên môi trƣờng, cơ chế chính sách và tổ chức quản lý) và đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực nói trên để phát triển thủy sản. Đi sâu nghiên cứu để làm rõ những mâu thuẫn cụ thể giữa phát triển kinh tế thủy sản với bảo vệ tài nguyên và môi trƣờng sinh thái.
Qua đó, có thể vận dụng để 8 phân tích, đánh giá thực trạng tình hình nuôi NTTS trong thời gian qua của huyện Tuy phƣớc và đề xuất các giải pháp phát triển trong thời gian tới. Tác giả Nguyễn Văn Bé, trong Luận văn thạc sĩ kinh tế, “Giải pháp về vốn đầu tư cho phát triển nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Cà Mau”, Trƣờng Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh, năm 2006 [6], đã nghiên cứu sâu về tầm quan trọng của vốn trong phát triển NTTS ở tỉnh Cà Mau, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cƣờng huy động vốn đầu tƣ và sử dụng vốn có hiệu quả cho NTTS. Tuy nhiên, đây là một nghiên cứu chuyên sâu về một trong những yếu tố nguồn lực ảnh hƣởng đến phát triển, chƣa nêu rõ đƣợc mối quan hệ tác động trong việc sử dụng vốn với các nguồn lực khác. Nhƣng có thể tham khảo vận dụng trong đề xuất giải pháp về vốn cho NTTS.
Ngoài ra, trong những năm gần đây có các công trình nghiên cứu lớn nhƣ: “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến 2020, tầm nhìn 2030” của Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản - năm 2012 [14]; Đề tài “Mô hình phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam” của tiến sĩ Nguyễn Thị Trâm Anh, năm 2009 [2], Đề tài “Vấn đề toàn cầu hóa thương mại thủy sản và sự phát triển bền vững của ngành thủy sản Việt Nam” do PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh làm chủ nhiệm [1], Quyết định số 332/QĐ-TTg ngày 03/03/2011 của Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2020,. đã định hƣớng và định hình phân bố không gian phát triển ngành thủy sản Việt Nam trong dài hạn. Trong đó, tỉnh Bình Định cũng nhƣ huyện Tuy Phƣớc chỉ là một địa phƣơng nhỏ, nhƣng trên cơ sở đó cũng đã giúp cho việc định hƣớng các chiến lƣợc phát triển ngành thủy sản cho phù hợp với địa phƣơng, trong đó có ngành NTTS. Hội thảo quốc gia “Phát triển bền vững thủy sản: Vấn đề và Cách tiếp cận” tổ chức ngày 11-13/5/2006, tại Hải Phòng, do Bộ NN & PTNT phối hợp với Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) tổ chức.