CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, cũng như nhiều quốc gia khác, Việt Nam đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm do chất thải nhựa gây ra cho môi trường. Tại Việt Nam, ước tính mỗi năm, người dân có hơn 1,8 triệu tấn rác thải nhựa được thải ra, nhưng chỉ 27% trong số đó được tái chế. Lượng tiêu thụ nhựa tính trên đầu người ở Việt Nam qua mỗi năm đã tăng mạnh lên mức khoảng 40kg nhựa/người và là một trong 4 quốc gia tại châu Á phát sinh chất thải nhựa nhiều nhất.
Số lượng bao bì nhựa và túi nilon sử dụng ngày càng gia tăng ở Việt Nam dẫn đến lượng thải bỏ cũng tăng dần theo từng năm. Đặc biệt, rác thải nhựa có tính chất khó phân hủy, có thể tồn tại hàng trăm năm, gây ô nhiễm môi trường, đe dọa hệ sinh thái và tác động trực tiếp đến chất lượng cuộc sống, sức khỏe người dân và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị 33/CT-TTg về tăng cường quản lý, tái sử dụng, tái chế, xử lý và giảm thiểu chất thải nhựa. Chỉ thị nêu rõ, ô nhiễm nhựa đang trở thành một trong những thách thức lớn nhất mà các quốc gia đang phải đối mặt.
Mỗi năm lượng chất thải nhựa do con người thải ra trên phạm vi toàn cầu đủ để phủ kín 4 lần diện tích bề mặt trái đất, trong đó 13 triệu tấn chất thải nhựa được đổ ra đại dương. Việc lạm dụng sử dụng sản phẩm nhựa, nhất là túi nilon khó phân hủy, sản phẩm nhựa dùng một lần đã và đang để lại những hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường. Vấn đề ô nhiễm nhựa, đặc biệt là ô nhiễm nhựa đại dương là vấn đề thực sự đáng báo động, đã, đang và sẽ gây thiệt hại to lớn cho môi trường sinh thái ở nước ta. Năm 2019, Thủ tướng Chính phủ đã phát động phong trào chống chất thải nhựa trên toàn quốc, nhiều cơ quan, tổ chức, địa phương, doanh nghiệp và các cá nhân đã có nhiều hành động thiết thực, ý nghĩa, hiệu quả để chống, giảm thiểu chất thải nhựa.
Năm 2020, do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 nên hành vi tiêu dùng của người dân có sự thay đổi lớn. Các nghị định cách ly xã hội được thực hiện, mua sắm online bùng nổ một cách mạnh mẽ. Theo báo Tuổi trẻ, trong giai đoạn dịch vừa qua, có đến 75% người dân sống tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội sử dụng dịch vụ mua đồ ăn trực tuyến (Rác thải nhựa tăng lên đáng kể, cần chung tay giảm thiểu ngay lúc này, 04/12/2020). Việc mua đồ và giao đồ tận nơi đã khiến lượng rác thải nhựa tăng lên đáng kể, chưa kể các mặt hàng tiêu dùng online khác đều được đóng gói bằng túi nilon để giao đi.
Như vậy, bài toán giải quyết vấn đề rác thải nhựa lại càng khó khăn cho các cơ quan chức năng. Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng xã hội đã và đang quan tâm tới vấn đề tác hại các sản phẩm khó phân huỷ với nhiều giải pháp được đưa ra áp dụng bao gồm cả các giải pháp hành chính cũng như các biện pháp tuyên truyền, nâng cao nhận thức như tổ chức các chiến dịch truyền thông “nói không với túi ni 1 0 0 lông”, “ngày không túi ni lông”, “ngày hội tái chế chất thải” … ; hoặc việc khuyến khích áp dụng các giải pháp sản xuất túi sinh học tự phân hủy, túi thân thiện với môi trường ở một số doanh nghiệp, sử dụng các bình nước cá nhân thay thế các loại chai nhựa… nhằm hạn chế tác động tiêu cực của loại rác thải này tới môi trường. Thời gian qua giới khoa học có nhiều nghiên cứu về tác hại của các sản phẩm khó phân huỷ tới môi trường và cũng có những cuộc vận động, tuyên truyền người dân sử dụng các sản phẩm thay thế, đặc biệt là sử dụng các bình nước xách tay thay thế cho sản phẩm khó phân huỷ nhưng việc làm thay đổi nhận thức và hành vi của người dân vẫn chưa đạt kết quả như mong muốn. Do đó, nhóm tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng bình nước cá nhân của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh” với mục đích tìm hiểu nhận thức của sinh viên về tác hại của các sản phẩm khó phân hủy gây ô nhiễm môi trường, để đề xuất các giải pháp thúc đẩy quyết định sử dụng sản phẩm xanh – cụ thể hơn là sản phẩm bình nước xách tay cho cá nhân mỗi người sử dụng của sinh viên, thành phần đang là đối tượng đông đảo, thành phần tri thức, quan tâm đến các vấn đề môi trường, xã hội.
Từ đó các doanh nghiệp, cơ quan chức năng có thể đưa ra những chiến lược phù hợp để khuyến khích tiêu dùng xanh, đạt được mục tiêu cả về ngắn hạn và dài hạn. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử bình nước cá nhân của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Để làm rõ mục đích này cần thực hiện các mục tiêu: Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng bình nước cá nhân của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đo lường và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng bình nước cá nhân của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Mô hình hóa các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng bình nước cá nhân của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đề xuất giải pháp cho sinh viên nhằm bảo vệ sức khỏe, nâng cao ý thức sống xanh và bảo vệ môi trường khỏi những tác hại của những sản phẩm khó phân hủy và sử dụng một lần. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng và khách thể nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Hành vi sử dụng bình nước cá nhân của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Khách thể nghiên cứu: Sinh viên đã, đang và sẽ sử dụng bình nước cá nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi nghiên cứu Thời gian nghiên cứu: 22/03/2021 đến 30/05/2021 Không gian nghiên cứu: Sinh viên đã, đang và sẽ sử dụng bình nước cá nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh 1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu sơ bộ: Nghiên cứu định tính: thực hiện bằng kỹ thuật phỏng vấn nhóm tập trung, với sự tham gia của nhóm tác giả và những sinh viên đã sử dụng bình nước cá nhân thay thế ly nhựa khó phân hủy và sử dụng một lần tại TP.HCM nhằm vừa khám phá vừa khẳng định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng bình nước cá nhân của sinh viên tại TP.
Kết quả phỏng vấn sẽ dùng cho việc xây dựng bảng câu hỏi và mô hình nghiên cứu. Nghiên cứu chính thức: Phương pháp nghiên cứu định lượng được thực hiện nhằm mục đích thu thập các thông tin định lượng về yếu tố tác động đến hành vi sử dụng bình nước cá nhân của sinh viên tại TP.HCM với mục tiêu n = 500 mẫu. Kết quả thu được sẽ là cơ sở dữ liệu nhằm kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu, kiểm định có hay không có sự khác biệt về cường độ tác động của các yếu tố đến hành vi sử dụng bình nước cá nhân tại TP.HCM theo các đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu. Các giai đoạn thu thập dữ liệu trong nghiên cứu sẽ được triển khai chi tiết như sau: Thu thập dữ liệu nghiên cứu bằng bảng câu hỏi và kỹ thuật phỏng vấn sinh viên có độ tuổi từ 18-22 tại địa bàn TP.
Đánh giá sơ bộ độ tin cậy và giá trị của thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) bằng phần mềm xử lý SPSS 25.0, qua đó loại bỏ các biến quan sát không đạt độ tin cậy, giá trị hội tụ và phân biệt; đồng thời tái cấu trúc các biến quan sát còn lại vào các yếu tố (thành phần đo lường) phù hợp, đặt cơ sở cho việc hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu, các nội dung phân tích tiếp theo. Phân tích hồi quy đa biến nhằm kiểm định mô hình nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu và đo lường cường độ tác động của các yếu tố. Kiểm định T-Tests; ANOVA; nhằm kiểm định có hay không sự khác biệt trong hành vi của sinh viên về việc sử dụng bình nước cá nhân tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (dựa theo các đặc điểm nhân khẩu học của người tiêu dùng như: giới tính, độ tuổi). NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng bình nước cá nhân của sinh viên tại TP.
Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi sử dụng bình nước cá nhân của sinh viên tại TP. Đề xuất giải pháp để thúc đẩy hành vi sử dụng bình nước cá nhân thay thế cho các chai, ly nhựa và sản phẩm sử dụng 1 lần tại TP. ĐÓNG GÓP NGHIÊN CỨU Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu: Về mặt khoa học, đây là nghiên cứu thực nghiệm về những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng vật dụng thay thế sản phẩm khó phân hủy tại TP. Nhóm tác giả sử dụng những thang đo từ các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước của nhiều tác giả trên các lĩnh vực khác nhau.
Những nghiên cứu này đã ứng dụng thành công mô hình Hành động hợp lý TRA - Theory of Reasoned Action của Fishbein & Ajzen (1975), thuyết hành vi hoạch định TPB - Theory of Planned Behaviour của Ajzen (1991). Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu: Thông qua nghiên cứu, kết quả nhận được có ý nghĩa thực tiễn và góp phần để các tổ chức, cơ quan và đơn vị có liên quan về lĩnh vực kinh doanh các vật dụng thay thế sản phẩm khó phân hủy có góc nhìn đúng đắn và thay đổi để đáp ứng kịp xu hướng tiêu dùng bình nước cá nhân của sinh viên tại TP.HCM, đề ra giải pháp để nâng cao nhận thức của sinh viên về việc sử dụng bình nước cá nhân, góp phần bảo vệ môi trường. Những đóng góp của đề tài nghiên cứu: Thứ nhất: Nghiên cứu đề xuất một mô hình lý thuyết và thang đo các yếu tố chính tác động đến hành vi sử dụng bình nước cá nhân của sinh viên tại TP.