Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thực thi pháp luật hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trƣờng chứng hoán Chương 2: Thực tiễn thực thi pháp luật về hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trƣờng chứng hoán Việt Nam Chương 3: Một số đề xuất tăng cƣờng việc thực thi pháp luật về công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trƣờng chứng hoán Việt Nam 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 1. Công ty đại chúng 1. Khái niệm công ty đại chúng 1. Ở các nước phương Tây Ở Anh, công ty đại chúng đƣợc gọi là public limited company, viết tắt là Plc (đuôi Plc bắt buộc phải ghi sau tên công ty).
Plc cần số vốn tối thiểu là 50.000 bảng Anh, đƣợc huy động vốn và giao dịch cổ phần rộng rãi, số cổ đông tham gia hông giới hạn và có tối thiểu hai thành viên quản trị thƣờng trực (công ty nội bộ chỉ cần một). Ở Mỹ, công ty đại chúng là loại “C Corporation” (công ty cổ phần có trên 100 cổ đông). Khác với S Corporation là hình thức công ty chỉ đƣợc phát hành một loại cổ phần duy nhất, có số cổ đông hông vƣợt quá 100 và cổ đông phải là cá nhân mang quốc tịch Mỹ [38], C Corporation phải đóng thuế thu nhập công ty và cổ đông hi nhận cổ tức phải hai thuế thu nhập lần nữa. Điểm chung từ thuật ngữ “công ty chứng hoán” trong pháp luật Anh, Mỹ và Úc đều quy định trong Luật Công ty.
Tuy nhiên, đối với những nƣớc mà Luật Công ty hông đề cập thì Luật Chứng hoán đƣơng nhiên quy định cụ thể [16, tr.103-104]: + Điều 110 Luật Chứng hoán Bulgari quy định: “Công ty đại chúng là công ty: đã phát hành cổ phần của công ty theo các điều kiện của việc phát hành ra công chúng lần đầu, hoặc đã đăng ký với Ủy ban chứng khoán về việc phát hành chứng khoán với mục đích tham gia giao dịch tại thị trường chứng khoán được quản lý”. + Theo Luật Chứng hoán Ba Lan (Khoản 4 Điều 4): “Công ty đại chúng là công ty có cổ phiếu của ít nhất một lần phát hành được chấp thuận cho giao dịch nơi công chúng”. Qua các quy định trên, ngƣời viết cho rằng, thuật ngữ “Công ty đại chúng” là thuật ngữ mang tính ƣớc lệ, là tình trạng pháp lý mà doanh nghiệp chạm đến hay rơi 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vào, sau hi tiến hành bƣớc “chuyển mình về quy mô vốn và cách thức quản trị”, ngoài ra, một công ty cũng có thể tổ chức với tình trạng công ty đại chúng ngay từ hi mới thành lập. Mặt hác, pháp luật các nƣớc đã mở đƣờng “bƣớc chuyển” này chính những quy định loại hình công ty nội bộ đƣợc xem giai đoạn để tích lũy dọn đƣờng bƣớc qua sân chơi đại chúng.
“Bƣớc chuyển” này trong hoạt động thị trƣờng chứng hoán là thủ tục IPO (viết tắt theo tiếng Anh: Initial Public Offering) là việc chào bán chứng hoán lần đầu tiên ra công chúng. Khái niệm công chúng đƣợc hiểu là một số lƣợng nhà đầu tƣ đủ lớn với giá trị chứng hoán chào bán cũng đủ lớn. Sau hi phát hành lần đầu ra công chúng, một công ty cổ phần sẽ trở thành công ty đại chúng (hay công ty cổ phần đại chúng) 38]. Dù luật lệ mỗi nƣớc có thể hác nhau, công ty đại chúng có nhiều điểm giống nhau: Công ty có thể phát hành nhiều loại chứng hoán để huy động vốn đại chúng trong và ngoài nƣớc, ể cả tổ chức.
Nhờ yếu tố thanh hoản, doanh nghiệp và cổ đông có thể tận dụng đƣợc lợi thế của thị trƣờng vốn, tận dụng các hoản nhàn rỗi, tạo cơ hội gia tăng giá trị cho nhà đầu tƣ, đặc biệt là những ngƣời hởi lập doanh nghiệp. Ở Việt Nam Trƣớc hi Luật Chứng hoán 2006 đƣợc ban hành, tại Việt Nam, pháp luật về chứng hoán và thị trƣờng chứng hoán chƣa đặt ra cơ sở pháp lý (định nghĩa) về thuật ngữ “công ty đại chúng”. Tuy nhiên thực tế đã xuất hiện mô hình công ty đại chúng dƣới dạng: (i) Các công ty niêm yết phát hành chứng hoán số lƣợng lớn ra công chúng, từ trƣớc hi Luật Chứng hoán 2006 có hiệu lực (Quyết định 07/2002/QĐ-VPCP về việc ban hành Điều lệ Mẫu áp dụng công ty niêm yết). (ii) công ty cổ phần phát hành riêng lẻ nhiều lần có số lƣợng cổ đông lớn, theo Luật Doanh Nghiệp 1990, 1999.
(iii) và doanh nghiệp Nhà nƣớc thực hiện cổ phần hóa. Điều bất cập giữa mô hình (i) so với (ii) và (iii) chính là nghĩa vụ minh bạch, công khai hóa thông tin, đây là quy định bắt buộc đối các công ty niêm yết (mô hình i) trong thời ỳ đó. Về vốn lẫn quy mô thì cả ba mô hình trên đều tƣơng đồng, trong hi đó các công ty niêm yết phải thực hiện nghĩa vụ trên một cách chặt chẽ và đó chính là 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một trở ngại chủ yếu hiến các mô hình (ii), (iii) ngại đƣa chứng hoán ra niêm yết. Chính vì vậy pháp luật Việt Nam đã du nhập và tiếp nhận quy định pháp luật tiến bộ của các nƣớc đi trƣớc, Luật Chứng hoán 2006 đã xây dựng một chƣơng riêng về công ty đại chúng.
Theo Luật Chứng hoán 2006, công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc ba loại hình sau đây: 1. Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng; đây là hoạt động phát hành cổ phiếu ra công chúng và đƣợc thực hiện theo một trong ba cách thức: (i) Thông qua phƣơng tiện thông tin đại chúng, ể cả Internet; (ii) Chào bán chứng hoán cho từ một trăm nhà đầu tƣ trở lên, hông ể nhà đầu tƣ chứng hoán chuyên nghiệp; (iii) Chào bán cho một số lƣợng nhà đầu tƣ hông xác định. Công ty có cổ phần đƣợc niêm yết tại Sở giao dịch chứng hoán; tức công ty đƣa chứng hoán có đủ điều iện vào giao dịch tại Sở giao dịch chứng hoán. Công ty có cổ phiếu đƣợc ít nhất một trăm nhà đầu tƣ sở hữu, hông ể nhà đầu tƣ chứng hoán chuyên nghiệp và vốn điều lệ đã góp từ mƣời tỷ đồng Việt Nam trở lên [11, Điều 25, Khoản 1].
Với đặc thù tại Việt Nam, các công ty đại chúng chủ yếu là công ty cổ phần có quy mô vốn từ trên 10 tỷ và số lƣợng cổ đông từ trên 100 cổ đông, hông ể nhà đầu tƣ chứng hoán chuyên nghiệp. Công ty đại chúng đƣợc hiểu là Công ty Cổ phần có quy mô và độ phổ biến “đủ lớn” để đạt đƣợc tính “Đại chúng”, “đủ lớn” ở đây đƣợc hiểu trên 2 hía cạnh vốn điều lệ thực góp và số lƣợng cổ đông. Theo quy định của Luật ở Việt Nam thì công ty đại chúng là công ty: (i) Có vốn điều lệ thực góp ít nhất là 10 tỷ đồng. Do đó hi một Công ty Cổ phần đạt đủ cả 02 điều iện nói trên thì chính 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thức đƣợc xem là công ty đại chúng, theo quy định của Luật Chứng hoán thì trong vòng 90 ngày ể từ ngày thành công ty đại chúng thì Công ty Cổ phần đó phải nộp hồ sơ để báo cáo Ủy ban Chứng hoán biết và quản lý.
Nhƣ vậy các công ty đại chúng sẽ do Ủy ban Chứng hoán quản lý, còn các Công ty cổ phần hác còn lại chƣa đạt đƣợc tính “Đại chúng” vẫn sẽ do Sở ế hoạch Đầu tƣ các Tỉnh, Thành phố quản lý. Đặc điểm công ty đại chúng Một là, công ty đại chúng là CTCP theo pháp luật về doanh nghiệp. Đây là đặc điểm đầu tiên đƣợc ghi nhận tại Điều 25 LCK. Theo đó, công ty đại chúng mang đầy đủ các đặc điểm cơ bản CTCP.
Hai là, công ty đại chúng có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và cơ chế quản lý. Sự tách biệt triệt để này chính điểm hác biệt giữa công ty đại chúng và công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp. Theo đó, cơ cấu tổ chức nội bộ của công ty đại chúng theo quy định pháp luật nhƣ chủ tịch hội đồng quản trị hông đƣợc iêm nhiệm chức danh Tổng giám đốc điều hành, trừ hi đƣợc phê chuẩn tại Đại hội đồng cổ đông thƣờng niên hoặc công ty đại chúng niêm yết trên Sở giao dịch chứng hoán bắt buộc quy định chức danh Thƣ ý công ty. Rõ ràng việc quy định pháp luật nhƣ vậy nhằm tạo sự giám sát trong mối quan hệ nội bộ công ty cũng sự tạo sự iểm soát thuận tiện từ phía cơ quan Nhà nƣớc.
Ba là, có số lƣợng cổ đông lớn. Bản thân tên gọi “đại chúng” đã cho thấy số lƣợng cổ đông công ty, cổ đông công ty đại chúng hông giới hạn và có hả năng thay đổi thƣờng xuyên. Đây đƣợc xem là ƣu điểm và cũng là nhƣợc điểm của loại hình này. Ƣu điểm là do tính đại chúng, công ty đƣợc đặt dƣới sự iểm soát của xã hội thông qua việc công hai các thông tin về hoạt động inh doanh, trách nhiệm Hội đồng quản trị và Ban điều hành và ngƣời quản lý phải chăm lo cho sự phát triển công ty.
Từ ƣu điểm này, cổ đông đặt ra vấn đề nghĩa vụ minh bạch thông tin và bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty đại chúng. Ngƣợc lại, do quá nhiều cổ đông cũng nhƣ số lƣợng cổ đông thƣờng xuyên thay đổi dẫn đến tình trạng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hó quản lý cổ đông cũng nhƣ mất tính ổn định trong quản trị công ty hi có sự thay đổi các cổ đông lớn. Bốn là, mối liên hệ chặt chẽ trên TTCK. Công ty đại chúng là loại hình công ty đƣợc thiết ế phù hợp để huy động vốn từ công chúng đầu tƣ thì thị trƣờng chứng hoán chính là phƣơng tiện để loại hình công ty này thực hiện điều đó.
Ngoài sự điều chỉnh Luật doanh nghiệp, công ty đại chúng còn chịu sự điều chỉnh của Luật chứng hoán 2006 và các văn bản hƣớng dẫn thi hành, với tƣ cách luật chuyên ngành. Ngoài ra trong một số lĩnh vực đặc biệt nhƣ ngân hàng, bảo hiểm… còn phải chịu sự điều chỉnh luật chuyên ngành đó. Phân loại công ty đại chúng (dưới góc độ công bố thông tin) Dƣới góc độ CBTT, tùy từng quốc gia sẽ phân loại công ty đại chúng theo tiêu chí niêm yết hoặc theo tiêu chí quy mô.