phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học thực thi chính xây dựng nông thôn mới. Chƣơng 2: Thực trạng thực thi chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Tuyên Quang. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện thực thi chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Tuyên Quang. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.
Khái quát về chính sách xây dựng nông thôn mới 1. Một số vấn đề cơ bản về xây dựng nông thôn mới Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM là một chƣơng trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng do Chính phủ xây dựng và triển khai trên phạm vi nông thôn toàn quốc, căn cứ tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (ngày 5 tháng 8 năm 2008). Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 4 tháng 6 năm 2010, với mục tiêu đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn NTM và đến năm 2020 có 50% số xã đạt tiêu chuẩn NTM theo Bộ tiêu chí quốc gia về NTM. Mặc dù chính sách xây dựng NTM đã trải qua nhiều năm thực hiện nhƣng những hiểu biết của ngƣời dân về chính sách có mặt còn hạn chế.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra phải có các nghiên cứu tìm hiểu quá trình hình thành, nội dung và sự cần thiết của xây dựng NTM. Với ý nghĩa đó, tại chƣơng 1 này, luận văn sẽ tìm hiểu và đƣa ra một số vấn đề cơ bản về xây dựng NTM. Khái niệm xây dựng NTM Khái niệm nông thôn Nông thôn là một khái niệm thông dụng, nhƣng có nội hàm rộng và có thể khác nhau ở các quốc gia. Theo tổ chức Nông lƣơng Liên hợp quốc (FAO), có thể định nghĩa nông thôn theo hai phƣơng pháp: Thứ nhất, thành thị đƣợc xác định bởi luật, 9 theo đó, là tất cả những trung tâm của tỉnh, huyện và các vùng còn lại đƣợc định nghĩa là nông thôn.
Thứ hai, sử dụng mức độ tập trung dân sống thành cụm quan sát đƣợc để xác minh vùng thành thị. Việt Nam theo phƣơng pháp thứ nhất để phân định thành thị, nông thôn. Theo đó, nông thôn theo quy định về hành chính và thống kê của Việt Nam là những địa bàn thuộc xã (những địa bàn thuộc phƣờng hoặc thị trấn đƣợc quy định là khu vực thành thị) Nông thôn là một xã hội, là môi trƣờng sống của ngƣời nông dân, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội với nhiều nét đặc thù và nói gọn lại: đó không phải là đô thị (về không gian sống, về cấu trúc và tổ chức xã hội, về quan hệ con ngƣời và sinh kế) nhƣng cũng không hoàn toàn đối lập với đô thị (nhất là về văn hóa). Nhƣ vậy, nông thôn theo quan niệm này đƣợc hiểu là nơi sinh sống của ngƣời nông dân với các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội đặc thù và không phải là đô thị.
Hiện nay, khái niệm nông thôn đã đƣợc nêu rõ tại Thông tƣ số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn hƣớng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng NTM: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, đƣợc quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã” [28]. Đặc điểm của các vùng nông thôn nƣớc ta gắn liền với các loại hình lao động, sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp với tuyệt đại đa số dân cƣ sinh sống bằng một loại hình lao động, bởi vậy diện mạo các vùng nông thôn rất ít có sự thay đổi, nhất là về phƣơng diện kinh tế - xã hội. Khái niệm NTM Theo Nghị Quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của BCH TW khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; NTM đƣợc hiểu là nông thôn mà ở đó có kết cấu hạ tầng KT - XH hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, 10 đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí đƣợc nâng cao, môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dƣới sự lãnh đạo của Đảng đƣợc tăng cƣờng. Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng KT-XH và chính trị vững chắc cho sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
[22] Nhƣ vậy, NTM trƣớc tiên phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo các nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, đó là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; đảm bảo không gian nông thôn phải mang đặc trƣng nông thôn với khuôn viên, cảnh quan của làng xã, của hộ gia đình nông thôn. Thứ hai, sản xuất phải phát triển bền vững theo hƣớng kinh tế hàng hoá; thu nhập đảm bảo, công ăn việc làm ổn định, không có hộ nghèo đói. Thứ ba, đời sống về vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng đƣợc nâng cao. Thứ tư, bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ và phát triển môi trƣờng, bảo tồn và khai thác cảnh quan tự nhiên, duy trì cân bằng sinh thái.
Thứ năm, bản sắc văn hoá dân tộc đƣợc giữ gìn và phát triển, trong đó, bảo tồn và phát triển các di sản văn hoá truyền thống của các dân tộc, các địa phƣơng. Thứ sáu, xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ. Khái niệm xây dựng NTM Xây dựng NTM là một mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể khắc phục tình trạng rời rạc hoặc duy ý chí. 11 Xây dựng NTM đƣợc quy định bởi các tính chất: Đáp ứng yêu cầu phát triển (đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trƣờng), đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội), tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nƣớc.
Nhƣ vậy, có thể hiểu xây dựng NTM là cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cƣ ở nông thôn đồng lòng xây dựng làng, xã của mình khang trang, sạch đẹp, sản xuất phát triển toàn diện và đời sống của ngƣời dân đƣợc nâng cao; nếp sống văn hóa, môi trƣờng và an ninh nông thôn đƣợc đảm bảo, thu nhập và đời sống vật chất, tinh thần của ngƣời dân đƣợc cải thiện. Tóm lại, xây dựng NTM là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc; đồng thời, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho ngƣời dân sinh sống ở địa bàn nông thôn. Nếu chỉ chú trọng vào xây dựng ngƣời nông dân mới hoặc nền nông nghiệp mới là cần nhƣng chƣa đủ. Đó chỉ là một phần của việc xây dựng NTM.
Xây dựng NTM có phạm vi rộng và bao quát đầy đủ cả nông nghiệp và nông dân mới. Có thể khái quát nhƣ sau: Nông thôn mới = Nông dân mới + Nền nông nghiệp mới Theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 và Quyết định số 800/QĐ- TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tƣớng Chính phủ thì xây dựng NTM là xây dựng nông thôn đạt 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM và đơn vị NTM có 3 cấp [5] [6]: Xã NTM: Là xã đáp ứng đƣợc 19 tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia về NTM. Huyện NTM: Là huyện có 75% số xã trong huyện đạt NTM. Tỉnh NTM: Là tỉnh có 80 % số huyện trong tỉnh đạt NTM.
Sự cần thiết xây dựng NTM Trong thời gian qua, nông nghiệp, nông thôn tuy có nhiều bƣớc phát triển đáng kể nhƣng những thành tựu đạt đƣợc chƣa tƣơng xứng với tiềm năng, lợi thế và chƣa đồng đều giữa các vùng. Cụ thể: Kết cấu hạ tầng nông thôn (điện, đƣờng, trƣờng, trạm, chợ, kênh mƣơng.) vừa yếu, vừa thiếu, vừa chƣa đồng bộ; nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp, tỷ lệ đƣờng giao thông nông thôn đƣợc cứng hóa thấp; giao thông nội đồng, hệ thống kênh mƣơng thủy lợi ít đƣợc quan tâm đầu tƣ; chất lƣợng lƣới điện nông thôn chƣa thực sự an toàn; cơ sở vật chất về giáo dục, văn hóa, y tế còn hạn chế. trong khi mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn khó khăn, dân cƣ phân bố rải rác, kinh tế hộ gia đình kém phát triển. Sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn chế, chƣa gắn với thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm, chất lƣợng nông sản chƣa đủ sức cạnh tranh trên thị trƣờng.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp, cơ giới hóa chƣa đồng bộ. Thu nhập của ngƣời nông dân còn thấp; số lƣợng doanh nghiệp đầu tƣ vào nông nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa ngƣời sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn còn chƣa chặt chẽ. Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém. Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao.
Đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hóa truyền thống đang có nguy cơ bị mai một (phong tục, trang phục.); nhà ở dân cƣ nông thôn còn nhiều nhà tạm, nhà dột nát. Kinh tế xã hội khu vực nông thôn chủ yếu phát triển tự phát, chƣa theo quy hoạch. 13 Do yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nƣớc, cần 3 yếu tố chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật. Qua việc xây dựng NTM sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH.
Mặt khác, mục tiêu đến năm 2020 nƣớc ta cơ bản trở thành nƣớc công nghiệp, không thể để nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khó.