CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE XÂY DUNG NONG THÔN MỚI 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Xây dựng nông mới là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Nhằm từng bước nâng cao đời sống của người dân, cơ sở quan trọng dé phát triển kinh tế xã hội. Đã có tài liệu nghiên cứu được thực hiện chỉ ra những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng NTM cụ thé: - PGS.
Trần Thị Minh Châu (chủ biên) (2007), Về chính sách nông nghiệp ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia. Tác giả đã đề cập đến thực trạng chính sách nông nghiệp ở Việt nam, những chính sách đất nông nghiệp từ thời kỳ năm 1981 đến nay. Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra những giải pháp dé hoàn thiện chính sách đất nông nghiệp như: Hoàn thiện khung khổ pháp lý đảm bảo phân rõ quyền tự chủ ruộng đất cho nông dân theo nguyên tắc thị trường và quyền đại điện quản lý đất đai của Nhà nước; Hoàn thiện chính sách khuyến khích nông dân tăng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp; Hoàn thiện giải pháp tài chính trong chính sách đất nông nghiệp; Tích cực tuyên truyền về đường lối, chính sách về đất đai nông nghiệp của Đảng và Nhà nước ở nông thôn. Nguyễn Đình Long Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, Hiện trạng nông thôn và thực hiện Nghị quyết 26 khóa X (Nông nghiệp, Nông thôn, Nông dân).
Tác giả đề cập thực trạng nông thôn, nông nghiệp và nông dân, đề cập những bức xúc về nông thôn trong việc thực hiện Nghị quyết 26 khoá X. - Mai Thanh Cúc và cộng sự (2005), Giáo trình phát triển nông thôn, NXB Nông nghiệp. Giáo trình gồm có 5 chương, nội dung chủ yếu của giáo trình là đề cập đến 1-phat triển kinh tế nông thôn, cụ thé là: Khái quát vai trò của phát triển kinh tế nông thôn đối với sự phát triển kinh tế quốc dân từ đó nhấn mạnh thách thức về tăng cường kinh tế nông thôn, giới thiệu tóm tắt các nguyên tắc kinh tế trong phát triển kinh tế nông thôn, mô tả tóm tắt tính chất và cơ cau của nền kinh tế nói chung, của kinh tế nông thôn nói riêng, khái quát 4 loại hình doanh nghiệp hình thành ở nước ta và sự đóng góp đối với phát triển nông thôn, vai trò và quan điểm, chiến lược phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và nuôi trồng thủy sản, vai trò và chính sách, chiến lược phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và dịch vụ trong kinh tế nông thôn; 2- Phát triển cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội và môi trường ở nông thôn: những khía cạnh xã hội chủ yếu liên quan đến chủ thể nông thôn đề cập đến bao gồm: tình trạng nhà ở thấp kém ở nhiều vùng, nghèo đói và suy dinh đưỡng, không đầy đủ dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục và cơ sở hạ tầng: đường sá, hệ thống cung cấp nước tưới, tiêu và khống chế lũ lụt, năng lượng, vận tải và thông tin, môi trường là cơ sở bền vững cho phát triển nông thôn ở Việt Nam; 3- Vai trò của nhà nước và các tô chức trong trong phát triển nông thôn: Nhà nước có vai trò thiết yêu như một người hỗ trợ chính cho tiến trình này. Vai trò của Nhà nước là tổ chức, hướng dẫn và phối hợp tất cả các hoạt động, đồng thời công nhận và khuyến khích hoạt động của bản thân người dân và của chính quyền các cấp tỉnh, huyện, xã, thôn.
- Luận án Tiến sĩ của tác giả Phùng Đức Hiệp, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2010), Quản ly nhà nước về quy hoạch xây dựng nông thôn mới. - Từ Tinh Minh và cộng sự (2010), 5 kinh nghiệm quý bau trong qua trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh Triết Giang; Tạp chí Nông nghiệp & Nông thôn, số tháng 4/2011. - Đặng Kim Sơn (2008), Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau, Nxb Chính trị quốc gia. Tác giả phân tích thực trạng nông nghiệp trong 20 năm đổi mới về tăng trưởng, chuyên dich cơ cấu, tổ chức sản xuất và địch vụ trong nông nghiệp; nông dân Việt Nam ban về việc làm, về quyền sử dụng đất và thị trường đất đai và tiếp cận nguồn vốn tín dụng: về nông thôn tác giả phân tích kinh tế, xã hội nông thôn, quan hệ nông thôn với đô thị và công nghiệp.
Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hoá, Nxb Chính trị quốc gia, (2008). Vai trò phát triển nông nghiệp là tiền đề khởi động công nghiệp hoá, vấn đề tập trung hoá đất đai, vấn đề lao động và di cư lao động ra đô thị, vai trò của công nghiệp nông thôn và dân cư nông thôn, công nghiệp hóa chưa thành công ở những nước đang phát triển. - Cu Ngọc Hưởng (2006), Lý luận thực tiễn và các chính sách xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu van dé đây mạnh quá trình xây dựng NTM tại huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
Tác giả muốn kế thừa những kết quả nghiên cứu của các tác giả, kết hợp nghiên cứu từ thực tiễn của huyện và kinh nghiệm các nước, các địa phương khác trong quá trình xây dựng nông thôn mới, đề lý giải làm rõ những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm đây mạnh quá trình xây dựng NTM tại huyện Mỹ Hào. Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới 1. Một số khái niệm nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới - Nông thôn Nông thôn nước ta bao gồm các địa bàn dân cư có số lượng dân tập trung xấp xi bốn ngàn người, mật độ dân cư xấp xi sáu ngàn người/km” và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đạt dưới 60%, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp đạt từ 40% trở lên. Trên thế giới đến thời điểm này vẫn chưa có khái niệm chính xác về nông thôn và còn nhiêu quan điêm khác nhau.
Nói đên khái nệm nông thôn người ta thường so sánh nông thôn với đô thị. Nhiều ý kiến cho rằng khi xem xét nông thôn dùng chỉ tiêu mật độ dân số, số lượng dân cư ở nông thôn thấp hơn thành thị. Vì vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đồi theo thời gian và theo tiến trình phát triển KT-XH của các quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, nhìn nhận dưới góc độ quản lý, có thé hiểu: “Mông thon là vùng sinh sống cua tập hop dân cư, trong đó có nhiều nông dân.
Tập hợp cư dân này tham gia vào hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế nhất định và chịu ảnh hưởng của các tô chức khác ”. Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005). - Nông thôn mới Nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn chứ không phải là thị tứ; đó là NTM chứ không phải nông thôn truyền thống. Nếu so sánh giữa NTM và nông thôn truyền thống, thì NTM phải bao hàm cơ cấu và chức năng mới (Cù Ngọc Hưởng, 2006).
Tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009, Thủ tướng chính phủ đã ban hành “Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới” gồm các tiêu chí: Quy hoạch; giao thông: thủy lợi; điện; trường học; CSVC văn hóa; chợ nông thôn; bưu điện; nhà ở dân cư; y tế; văn hóa; môi trường; hệ thống tô chức CTXH vững mạnh; an ninh, trật tự xã hội. Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về NTM quy định tại điều 3: Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thé b6 sung thêm tiêu chí hoặc quy định mức đạt của các tiêu chí cho phù hợp với điều kiện cụ thé của địa phương nhưng không được thấp hơn mức quy định trong Bộ tiêu chí quốc gia. Có thê thấy NTM là nông thôn toàn diện bao gồm tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, xã hội đến quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái và phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, KT - XH của từng vùng. Như vậy, có thể hiểu N7M là nông thôn có kết cấu hạ tang KT-XH hiện đại, cơ cầu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất họp lý, xã hội dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất, tinh than duoc nang cao, môi trường sinh thai duoc bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững.
- Xây dựng nông thôn mới Xây dựng NTM là một chủ trương vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tông thể. Xây dựng NTM đòi hỏi phải đáp ứng yêu cầu phát triển (đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường), đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội), tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thé phổ biến và vận dụng trên cả nước. Như vậy, có thé hiểu Xây dựng NTM là cuộc vận động lớn để cộng dong dân cư ở nông thôn dong lòng xây dựng làng, xã của minh khang trang, sạch dep, sản xuất phát triển toàn diện và đời sống của người dân được nâng cao; nếp song văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được dam bảo, thu nhập và đời sống vật chất, tỉnh than của người dân được nâng cao. Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có quan hệ hữu cơ không thể tách rời, có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Tuy vậy trong những năm qua còn gặp không ít khó khăn và đang bộc lộ những hạn ché cần khắc phục. Vì vậy, xây dựng NTM trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết bởi một số lý do sau: - Nông thôn phát triển tự phát, thiếu quy hoạch, ha tang kinh tế xã hội kém phát triển, ô nhiễm môi trường, tai tệ nạn xã hội ngày một gia tăng thực tế một số nhóm người không muốn ở nông thôn, ngành nông nghiệp ít người muốn vào. - Sản xuất nông nghiệp còn lạc hậu, quan hệ sản xuất chậm đổi mới.