Chương 1 đã nêu ra mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng như ý nghĩa và bố cục luận văn đã được trình bày ở cuối chương. 123doc 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 sẽ trình bày tóm lược các khái niệm về nông thôn, xây dựng nông thôn mới, 19 tiêu chí quốc gia về chương trình xây dựng nông thôn mới, tổng quan về xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam, một số giải pháp xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam. Nêu lại tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài, trên cơ sở đó xác định mức độ đáp ứng 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới để đưa ra phương hướng nghiên cứu, đề xuất giải pháp phù hợp khi xây dựng nông thôn mới.1 Khái niệm về nông thôn “Nông thôn” là một khái niệm thông dụng, nhưng có nội hàm rộng và có thể khác nhau ở các Quốc gia. Theo tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO), một trong những phương pháp chính để xác định nông thôn là phương pháp sử dụng định nghĩa chính trị, theo đó, thành thị được xác định gồm các trung tâm của tỉnh, huyện và các vùng còn lại được định nghĩa là nông thôn.
Tuy nhiên, cũng có một số quốc gia sử dụng cách tính mức độ sẵn có của các loại hình dịch vụ để xác định vùng thành thị, phần còn lại là nông thôn. Theo Từ điển bách khoa toàn thư thế giới thì “Nông thôn là khu vực mà ở đó tập trung dân cư sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp”. Ở Việt Nam, theo quy định về hành chính và thống kê, thì nông thôn là những địa bàn thuộc xã (những địa bàn thuộc phường hoặc thị trấn được quy định là khu vực thành thị). Cho đến nay, nông thôn ở nước ta được hiểu là nơi sinh sống và làm việc của cộng đồng bao gồm chủ yếu là nông dân, là vùng sản xuất nông nghiệp là chính.
Nông thôn có cơ cấu hạ tầng, trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hóa thấp hơn so với thành thị. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2013), Nông thôn là phần lãnh thổ được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban Nhân dân xã.2 Khái niệm về phát triển nông thôn Theo Ellis và Biggs (2001) và Nimal (2008), khái niệm phát triển nông thôn đã thay đổi sâu sắc từ ba thập kỷ qua. Với quan điểm ở những thập niên 50-60, mục tiêu chính của phát triển nông thôn là phát triển sản xuất nông nghiệp để qua đó tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho dân cư nông thôn, và phát triển nông thôn là nhằm sử dụng hiệu qủa các nguồn lực để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp tăng trưởng. Mãi cho đến thập niên 1970, phát triển nông thôn vẫn được hiểu đồng nghĩa với phát triển nông 123doc 7 nghiệp, vì vậy, chính sách phát triển nông thôn chỉ nhằm tập trung tăng cường phát triển sản xuất nông nghiệp.
Cách hiểu này hình như bị ảnh hưởng bởi sự mong muốn công nghiệp hóa dựa trên rút trích thặng dư từ nông nghiệp, Với cách hiểu này, mục tiêu phát triển nông thôn của hầu hết các quốc gia là khuyến khích nông nghiệp của nông trại qui mô nhỏ.3 Khái niệm về chất lượng cuộc sống Theo TS. Hồ Bá Thâm ( 2015), khái niệm chất lượng cuộc sống. Hoạt động của con người có hai mặt: Hoạt động trên lĩnh vực xã hội như lao động sản xuất, hoạt động chính trụ, xã hội, giáo dục, văn hóa và hoạt động cá nhân phục vụ cuộc sống cá nhân như: ăn, ngủ, đi lại, quan hệ gia đình, bè bạn, vui chơi, thể hiện quyền tự do cá nhân…Lĩnh vực thứ hai này là thuộc về phạm trù cuộc sống. Sống là một quá trình làm nảy sinh nhu cầu và thỏa mãn các nhu cầu cá nhân trong quan hệ với cộng đồng.
Sống cũng là quá trình xác lập giá trị sống và kỹ năng sống. Nhưng mức độ thỏa mãn về lượng và về chất là khác nhau. Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Chất lượng cuộc sống là thước đo về phúc lợi vật chất và giá trị tinh thần. Trong thời đại ngày nay, việc không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người là một nỗ lực của các nhà nước (chính phủ), xã hội và cả cộng đồng quốc tế.
Thuật ngữ chất lượng cuộc sống được sử dụng trong một loạt các ngữ cảnh bao gồm các lĩnh vực phát triển quốc tế, y tế, sức khỏe và thậm chí là về mặt chính trị. Chất lượng cuộc sống không nên nhằm lẫn với khái niệm về mức sống, mà tiêu chí là chủ yếu dựa vào thu nhập. Thay vào đó, chỉ số tiêu chuẩn về chất lượng của cuộc sống bao gồm không chỉ về thu nhập, sự giàu có và việc làm, mà còn là môi trường xã hội, môi trường sống, sức khỏe (về chất thể) và tinh thần, giáo dục, giải trí và cuộc sống riêng tư. Chất lượng cuộc sống cũng không nên nhầm với chất lượng cuộc sống, một khái niệm chỉ về các chỉ số sức khỏe của con người.
Ngoài ra chất lượng cuộc sống thường xuyên liên quan đến những khái niệm trừu tượng và đậm màu sắc chính trị như tự do, dân chủ, nhân quyền, dân quyền. Ngoài ra nó cũng liên quan đến chỉ số hạnh phúc, tuy nhiên, vì hạnh phúc là yếu tố mang tính chất chủ quan và khó để đo lường, thống kê, người ta không thể cân đong đo điếm được và không nhất thiết phải là sự giàu có, tăng thu nhập mới là sự hạnh phúc, thoải mái và mức sống không nên được coi là một thước đo duy nhất. Và có người cho rằng: Chất lượng sống (CLS) và Chất lượng cuộc sống (CLCS) là khác nhau. Chất lượng cuộc sống là vấn đề hoàn toàn 123doc 8 mang tính chủ quan.
Theo đó, mỗi người có quyền lựa chọn một thái độ sống phù hợp nhất với bản thân mình. CLS không có mẫu số chung bởi mỗi cá nhân sẽ tự điều tiết, nhưng CLCS là vấn đề khách quan, theo tôi hiểu là CLCS quốc gia. CLCS là một khái niệm khá mênh mông, vừa là chuyện tổ chức xã hội – phạm trù chung nhưng vẫn rất riêng bởi tính chất cá nhân chi phối. Nhưng lại nói: CLCS lại định nghĩa như một cảm nhận có tính cách chủ quan của cá nhân đặt trong bối cảnh môi trường xã hội và thiên nhiên.
Thực ra theo chúng tôi, theo nghĩa rộng, chất lượng sống hay chất lượng cuộc sống theo chúng tôi, mà một, đó là hai cách nói chứ không phải là hai như có người quan niệm. CLS, hay CLCS dùng chỉ cho cả cá nhân và cũng là cho cả cộng đồng/ quốc gia. CLS hay CLCS đều vừa có tính khách quan và vừa có tính chất chủ quan tùy theo góc độ xem xét. Và CLS cá nhân cũng không tách rời các quyền của con người, các quan hệ xã hội mà phải bao hàm nó.
CLS không nên hiểu theo nghĩa quá hẹp “chỉ về các chỉ số sức khỏe của con người”. Bởi vì, ngay chính Bách khoa toàn thư mở Wikapedia cũng thừa nhận: Chất lượng cuộc sống là một thuật ngữ được sử dụng để đánh giá chung nhất về các mức độ tốt đẹp của cuộc sống đối với các cá nhân và trên phạm vi toàn xã hội cũng như đánh giá về mức độ sự sảng khoái, hài lòng hoàn toàn về thể chất, tâm thần và xã hội. Về tiêu chí: Chất lượng cuộc sống và hạnh phúc hiện tại của con người tùy thuộc vào mức độ thu nhập, vào các điều kiện kinh tế và tài chính. Nhưng vấn đề là điều kiện sống có thoải mái hay không? Điều đó tùy thuộc vào sức khỏe, vào môi trường xã hội, vào kiến thức của từng người, vào các hoạt động văn hóa, vào thời gian để giải trí, nói chung là vào rất nhiều yếu tố không thể cân, đong, đo, điếm bằng tiền bạc.
Một số tiêu chí khác có thể phản ánh chất lượng cuộc sống như: HDI, GDP (GDP bình quân đầu người là hộ gia đình, chỉ số nghèo đói), chỉ số giáo dục (gồm tỷ lệ người biết chữ, trình độ văn hóa và tay nghề, số người mù chữ, số năm đến trường, cơ sở hạ tầng cho giáo dục), Chỉ số tuổi thọ (gồm tuổi thọ, sức khỏe, y tế và các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, cơ sở hạ tầng cho y tế), và một số tiêu chí khác như chỉ số calo bình quân đầu người – phản ánh tình trạng no đủ và chất lượng bữa ăn đầu người, điều kiện sử dụng điện sinh hoạt, sử dụng nước sinh hoạt (nước sạch, nước lọc, nước máy, nước ngầm, nước giếng…) là vấn đề cơ bản và cấp thiết của con người, điều kiện về nhà ở, chỗ ở của con người (bao gồm diện tích nhà ở và chất lượng nhà ở), ngoài ra còn có các công trình công cộng, xã hội khác như công viên, nhà vệ sinh công cộng, 123doc 9 nhà ở xã hội… và các công trình phúc lợi công cộng khác phục vụ cho cuộc sống vật chất và tinh thần của con người. Theo Liên Hiệp Quốc: Có lẽ biện pháp quốc tế được sử dụng phổ biến nhất để đo lường chất lượng cuộc sống là các chỉ số phát triển con người (HDI), với các nội dung cơ bản về tuổi thọ, giáo dục và mức sống như là một nổ lực để nâng cao cuộc sống có cho các cá nhân trong một xã hội nhất định. HDI được sử dụng bởi Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc trong báo cáo phát triển con người của Liên Hiệp Quốc. Đây là một tiêu chí tổng hợp phản ánh chất lượng cuộc sống.
Trong khi đó, WHO đã đưa ra tiêu chí chất lượng cuộc sống, mức độ hạnh phúc gồm 100 câu hỏi trắc nghiệm để đo một số tiêu chí với ba nhóm là: 1. Mức độ sảng khoái về chất gồm: Sức khỏe, tinh thần, ăn, uống, ngủ, nghỉ, đi lại (giao thông, vận tải), thuốc men (Y tế, chăm sóc sức khỏe); 2. Mức độ sảng khoái về tâm thần: yếu tố tâm lý, yếu tố tâm linh (tín ngưỡng, tôn giáo); 3. Mức độ sảng khoái về xã hội gồm: các mối quan hệ xã hội kể cả quan hệ tình dục, môi trường sống (bao gồm cả môi trường xã hội: an toàn, an ninh, kinh tế, văn hóa, chính trị… và môi trường thiên nhiên).4 Một số nhân tố tác động đối với chất lượng cuộc sống Những nhân tố chung tác động đến chất lượng cuộc sống thể hiện ra một hệ thống các nhân tố cụ thể, có thể quan sát được.
Theo chúng tôi đó là: 1. Việc làm, năng suất lao động, thu nhập; 2. Phương tiện đi lại, hạ tầng giao thông, thái độ ý thức của người vận hành phương tiện giao thông; 3.